NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ SẢN. NHỮNG CƠ HỘI THÁCH THỨC ĐẶT RA - Pdf 30

Đề tài: Đánh giá tác động của việc thực hiện những cam kết của VN với WTO đối với ngành thuỷ sản
I. NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ
SẢN. NHỮNG CƠ HỘI THÁCH THỨC ĐẶT RA.
1. Những cam kết của Việt Nam với ngành thủy sản.
Theo phân loại của WTO, thuỷ sản không phải là mặt hàng nông nghiệp mà là
mặt hàng công nghiệp. Việc phân loại này có liên quan đến việc xác định các cam kết
Việt Nam phải tuân thủ khi đàm phán và thực hiện các nghĩa vụ của WTO. Chẳng hạn
nếu thuộc mặt hàng thuỷ sản thì Việt Nam phải cam kết thực hiện các quy định của
Hiệp định nông nghiệp trong khi đây là Hiệp định hết sức phức tạp và có nhiều nghĩa
vụ quan trọng. Nếu không phải là mặt hàng nông sản thì các cam kết sẽ nhẹ đi rất
nhiều.
Nhìn chung, các cam kết chính mà Việt Nam phải thực hiện có liên quan đến ngành
thuỷ sản như sau:
Giảm dần các biện pháp trợ cấp, thậm chí xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu

Như trên đã trình bày, để thúc đẩy sự phát triển của ngành thuỷ sản, Chính phủ
đã ban hành nhiều Chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp trong ngành
thuỷ sản. Các chính sách này trong thời gian qua đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong
việc phát triển ngành thuỷ sản đưa ngành này trở thành một trong những mặt hàng
đem lại nhiều ngoại tệ cho đất nước, thậm chí có sức cạnh tranh mạnh trên nhiều thị
trường lớn và khó tính trên thế giới. Một điều không thể phủ nhận là có được kết quả
như vậy có phần quan trọng là sự nỗ lực vận động của các doanh nghiệp thuỷ sản
nhưng các chính sách hỗ trợ cũng đóng vai trò quan trọng. Khi gia nhập WTO, những
chính sách trợ cấp bị WTO cấm sẽ phải bị bãi bỏ và các chính sách trợ cấp xuất khẩu
như thưởng xuất khẩu cũng phải bị bãi bỏ ngay lập tức. Trong đàm phán, các thành
viên WTO đã gây sức ép rất mạnh đối với vấn đề này xuất phát từ thực tiễn áp dụng
của nhiều quốc nước trên thế giới.
Ràng buộc thuế quan và cắt giảm thuế theo lộ trình
Như trên đã đề cập, mức thuế cuối cùng mà Việt Nam cam kết khi gia nhập
WTO chỉ được công bố sau khi Ban Thư ký WTO đã hoàn tất việc tổng hợp cam kết.
Trong đàm phán gia nhập WTO, các thành viên có lợi ích từ việc xuất khẩu thuỷ sản

nhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, trong đó
có sản phẩm thủy sản.
Sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những
lợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng sẽ tạo điều kiện để hàng thủy sản Việt Nam có
khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Để đáp ứng được các quy định của WTO cũng như yêu cầu của các nước thành
viên, Bộ Thủy sản đã không ngừng điều chỉnh cơ chế chính sách và ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn cho phù hợp.
Vào WTO sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tư
vào phát triển thủy sản tại Việt Nam.
Ngành Thuỷ sản Việt Nam đã đứng vị trí thứ 7 trong topten có kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản lớn nhất, với 2,65 tỷ USD đạt được trong năm 2005, và đã có mặt ở
105 thị trường nước ngoài…
Tuy nhiên, sự bùng nổ mạnh mẽ này là một phần khiến cho xuất khẩu thủy sản
Việt Nam phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe về an toàn vệ
Nhóm 2 2/ 17 4/18/2013
Đề tài: Đánh giá tác động của việc thực hiện những cam kết của VN với WTO đối với ngành thuỷ sản
sinh cũng như các vụ kiện chống bán phá giá (điển hình như vụ kiện cá tra, basa và vụ
kiện tôm).
Khó khăn

Việt Nam là nước đang phát triển, nên khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản
còn yếu, trình độ quản lý còn nhiều bất cập, trong khi các yêu cầu về chất lượng, an
toàn vệ sinh thực phẩm của các nước thường xuyên thay đổi và ngày càng đòi hỏi
khắt khe.
Sự hiểu biết của các doanh nghiệp về luật pháp quốc tế, nhất là hiểu rõ về pháp
luật trong tranh chấp thương mại còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng khá lớn tới
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất
khẩu, cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu

“sân nhà”. Mục tiêu phát triển nghề cá bền vững chỉ có thể đạt được trên nền tảng sản
xuất hiệu quả và sức cạnh tranh cao.
II.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM TRƯỚC
VÀ SAU HỘI NHẬP.

Việt Nam có bờ biển dài 3260km với 112 cửa sông và 4000 đảo lớn nhỏ, có
nhiều eo biển, đầm lầy và phá với nhiều sản phẩm thủy sản. Vùng biển đặc quyền
kinh tế rộng trên một triệu km2 . Nguồn lực thủy sản giữ một vai trò kinh tế quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Chính phủ đã nhận ra điều này và đẩy
mạnh phát triển ngành thủy sản như một ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế
của đất nước.
Và ngành thủy sản Việt Nam đang có những thay đổi lớn trong nền kinh tế quốc
dân, sau khi có sự gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO. Do đó cũng có sự
khác biệt khá lớn trong ngành thủy sản Việt Nam trước khi hội nhập và sau khi hội
nhập.
1.Trước hội nhập

Những đặc điểm dễ dàng nhận thấy của ngành thủy sản Việt Nam trước khi hội
nhập vẫn thường là dựa vào những khả năng tiềm tàng sẵn có của biển Việt Nam mà
chưa có nhiều sự xuất hiện của việc hoạt động thúc đẩy kinh tế theo nền kinh tế thị
trường.

a .Thủy sản Việt Nam phát triển cả đánh bắt và nuôi trồng tới chế biến :

Về sản lượng

Tổng sản lượng thủy sản đã tăng từ 0,81 triệu tấn trong năm 1985 lên 2,54 triệu
tấn trong năm 2003. Hiện nay sản lượng hải sản đánh bắt chiếm 56% tổng sản lượng,
trong khi đó tỷ lệ nuôi trồng thủy sản đang ngày càng gia tăng. Trong giai đoạn 1985
- 2003, tổng giá trị sản lượng thủy sản của Việt Nam tăng 2,6 lần, trong số đó tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status