TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011-2015
CAN THIỆP QUÂN SỰ TRONG LUẬT QUỐC TẾ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
Bộ môn Luật Thương mại
Cần Thơ, tháng 12/2014
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Hạ
MSSV: 5118675
Luật Thương mại khoá 37
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 01
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP
QUÂN SỰ .............................................................................................................................. 03
1.1. Khái quát chung về hoạt động can thiệp quân sự ................................................ 03
1.1.1. Khái niệm can thiệp quân sự..................................................................................... 03
1.1.2. Lược sử hình thành và phát triển của hoạt động can thiệp quân sự.................... 04
1.1.3. Ảnh hưởng của hoạt động can thiệp quân sự ......................................................... 05
2.1. Quy định về hoạt động can thiệp quân sự trong Hi ến chương Liên Hiệp
Quốc........................................................................................................................................ 26
2.1.1. Cơ sở pháp lý ............................................................................................................. 26
2.1.2. Mục đích hoạt động can thiệp quân sự của Liên Hiệp Quốc............................... 28
2.1.3. Triển khai thực hiện hoạt động can thiệp quân sự................................................ 29
2.2. Giới thiệu một số nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về hoạt
động can thiệp quân sự ...................................................................................................... 30
2.2.1. Nghị quyết số 678 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc .................................... 30
2.2.2. Nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc .................................. 31
2.2.3. Nghị quyết số 2085 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc .................................. 33
2.3. Ưu điểm và nhược điểm của hoạt động can thiệp quân sự ................................ 37
2.3.1. Ưu điểm của hoạt động can thiệp quân sự ............................................................ 37
2.3.2. Nhược điểm của hoạt động can thiệp quân sự....................................................... 37
2.4. Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật quốc tế về hoạt động can thiệp
quân sự................................................................................................................................... 38
2.4.1. Tình hình thực hiện hoạt động can thiệp quân sự trên thế giới ........................... 38
2.4.2. Nguyên nhân của các hoạt động can thiệp quân sự trái pháp luật quốc tế ........ 41
2.4.3. Giải pháp khắc phục các hoạt động can thiệp quân sự trái pháp luật quốc tế .. 42
KẾT LUẬN............................................................................................................................ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày 2 tháng 12 năm 2014
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, khi nhắc đến thuật ngữ “can thiệp quân sự” mọi người thường
liên tưởng đến việc sử dụng vũ lực, sức mạnh quân đội để can dự, tác động vào bên
trong lãnh thổ của một quốc gia khác. Do đây là hoạt động mang tính chất cưỡng chế,
nếu hoạt động can thiệp quân sự không được triển khai một cách hợp lí và hợp pháp
thì nó sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng cả về tài sản lẫn tính mạng. Vì vậy, khi
hoạt động can thiệp quân sự được lựa chọn để thực hiện cần phải cân nhắc cẩn thận và
kĩ lưỡng, bên cạnh mục đích là để giải quyết các vấn đề gây đe doạ, phá hoại đến hoà
bình thì nó còn là biện pháp chứa đựng nhiều rủi ro: Hoạt động can thiệp quân sự vi
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm hai biện pháp chính là
phân tích và tổng hợp. Bên cạnh đó, còn kết hợp sử dụng một số biện pháp như liệt kê,
so sánh.
5. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động can thiệp quân sự
Chương 2: Quy định về hoạt động can thiệp quân sự trong pháp luật quốc tế và thực
tiễn áp dụng
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
2
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP QUÂN SỰ
1.1 Khái quát chung về hoạt động can thiệp quân sự
1.1.1 Khái niệm can thiệp quân sự
Ngày nay, can thiệp quân sự không còn là một thuật ngữ xa lạ đối với mọi người
nó dần trở nên quen thuộc và gần gũi với chúng ta thông qua các phương tiện truyền
thông, báo chí, sách đài… Can thiệp quân sự thường được nhắc đến với nội dung đơn
giản là hoạt động dùng lực lượng quân sự để can dự vào nội bộ của quốc gia khác. Tuy
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
3
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
Hoạt động can thiệp quân sự theo quan điểm của luật quốc tế hiện đại, đặc biệt
thông qua nội dung của Hiến chương Liên Hiệp Quốc 1945, thì ta có thể khái quát:
Can thiệp quân sự là một hành động liên quan đến việc sử dụng vũ lực do các lực
lượng hải, lục, không quân của các thành viên Liên Hiệp Quốc thực hiện dưới sự thông
qua, chỉ huy và kiểm soát của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhằm tác động, can
thiệp vào quốc gia có động thái đe doạ, phá hoại đến nên hoà bình và an ninh thế giới
hoặc có hành vi xâm lược. Ở đây, trường hợp áp dụng hoạt động can thiệp quân sự
được giới hạn xoay quanh vấn đề hoà bình bị đe doạ, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm
lược. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là cơ quan có trách nhiệm xác định thực tại
mọi tình hình xem liệu tình hình cụ thể nào có thể đe doạ, phá hoại đến hoà bình hoặc
có hành vi xâm lược.
Tóm lại, can thiệp quân sự có thể được khái niệm là hành động sử dụng lực lượng
vũ trang, quân sự của một hoặc một số quốc gia can dự, tác động vào bên trong lãnh
thổ, công việc nội bộ của một quốc gia khác, trong bối cảnh nền hoà bình an ninh bị đe
doạ, phá hoại hoặc có hành vi xâm lược.
1.1.2 Lược sử hình thành và phát triển của hoạt động can thiệp quân sự
Trước khi tổ chức Liên Hiệp Quốc được hình thành và Hiến chương Liên Hiệp
Quốc có hiệu lực thì hoạt động can thiệp quân sự được thực hiện với nhiều mục đích
khác nhau, chưa có cơ sở pháp lý quốc tế nào quy định cụ thể dẫn đến việc xác định
như thế nào là một hành động can thiệp quân sự cơ bản phù hợp với pháp luật quốc tế
trở nên không dễ dàng và đầy khó khăn.
tranh lạnh (1945-1991) vai trò và hoạt động của hội đồng bảo an bị tê liệt do cuộc đối
đầu
giữa Liên Xô và Mỹ vì vậy hoạt động can thiệp quân sự trong giai đoạn này dưới
sự chập thuận của Liên Hiệp Quốc diễn ra rất ít và đạt kết quả khiêm tốn.
Trong giai đoạn hiện nay, từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hoạt động can thiệp
quân sự với mục đích nhân đạo, đơn phương được thực hiện ngày càng nhiều, với sự
phức tạp ngày càng tăng. Hoạt động can thiệp quân sự được thực hiện chủ yếu bởi các
cường quốc và tổ chức quân sự thế giới. Song song việc thực hiện can thiệp quân sự
theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và sự chấp thuận của Hội đồng bảo an thì còn xuất
hiện tình trạng can thiệp quân sự không được sự thông qua của Hội đồng Bảo an Liên
Hiệp Quốc chẳng hạn như hành động can thiệp quân sự của NATO vào lãnh thổ Liên
bang Nam Tư năm 1999.
1.1.3 Ảnh hưởng của hoạt động can thiệp quân sự
Thứ nhất, đối với tình hình thế giới và an ninh khu vực
Hoạt động can thiệp quân sự nhằm để đẩy lùi những hành vi vi phạm pháp luật
quốc tế, tranh chấp, tình trạng bạo lực, căng thẳng ở các quốc gia, lãnh thổ tránh
những diễn biến ngày càng phức tạp đe doạ đến tình hình thế giới và an ninh khu vực
đồng thời góp phần tiến tới bảo vệ, khôi phục và duy trì nền hoà bình và an ninh quốc
tế. Hoạt động can thiệp quân sự không chỉ thực hiện vì mục đích giải quyết tình hình
bất ổn tại một quốc gia mà còn góp phần làm hạn chế sự bất ổn, nguy cơ chiến tranh
diễn ra trên diện rộng và ảnh hưởng đến an ninh của các quốc gia trong khu vực. Đặc
trưng của hoạt động can thiệp quân sự là sử dụng lực lượng vũ trang để can dự vào
công việc nội bộ, lãnh thổ của một quốc gia và nó chỉ được thực hiện cho đến khi nào
các đối tượng thực hiện hành vi cần được can thiệp chấp nhận thương lượng hoặc bị
đẩy lùi. Vì vậy, đòi hỏi hoạt động can thiệp quân sự phải được áp dụng một cách chính
xác, thực hiện một cách triệt để, tuân thủ theo pháp luật quốc tế và phù hợp với tình
huống cần được áp dụng, tránh việc can thiệp đơn phương.
Thứ hai, ảnh hưởng đến vấn đề nhân quyền
quyền, bảo vệ các nạn nhân của những cuộc mâu thuẫn, bất ổn, giúp xây dựng lại
chính sách chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, cuối cùng tiến tới bảo vệ hoà bình.
Tương phản, nếu hoạt động can thiệp quân sự không thành công thì nó không những
không đạt được mục đích đã đề ra mà còn làm gián đoạn nền kinh tế, đưa tình trạng
bạo lực, bất ổn trong nước ngày càng gia tăng và trầm trọng hơn. Ví dụ như hoạt động
can thiệp của Mỹ vào Iraq năm 2003 đã đẩy tình hình chính trị và bạo lực ngày càng
leo thang ở quốc gia này với khoảng 400 thường dân bị giết mỗi tháng6.
1.1.4 Căn cứ áp dụng hoạt động can thiệp quân sự
Hoạt động can thiệp quân sự không chỉ là mối quan tâm tồn tại đối với các chủ thể
quốc gia tham gia hoạt động can thiệp mà nó còn là chủ đề được cả cộng đồng quốc tế
theo dõi và bàn luận bao gồm nhiều quốc gia, cơ quan, tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ
chức Liên Hiệp Quốc. Một câu hỏi luôn được đặt ra đối với vấn đề này là: Khi nào thì
can thiệp quân sự được áp dụng ?
Theo quan điểm của luật quốc tế hiện đại, căn cứ vào Hiến chương Liên Hiệp
Quốc năm 1945 ghi nhận hai trường hợp hoạt động can thiệp quân sự được áp dụng là
tự vệ chính đáng hoặc theo sự quyết định áp dụng Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Trong trường hợp tự vệ
Theo Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc đã ghi nhận: “Bất kỳ nội dung nào
trong Hiến chương này đều không được hủy hoại quyền tự vệ cá thể hoặc quyền tự vệ
tập thể”. Với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng, các nước thành viên Liên Hiệp
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Điều 30.
Mark Lattimer, Peoples under Threat 2013 Civilian protection and military intervention , Minority Rights
Group International, Published 2013, page 7.
5
6
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
6
Trên thực tế, hoạt động can thiệp quân sự được thực hiện chủ yếu bởi các cường
quốc về quân sự chẳng hạn như Mỹ, Anh, Pháp… và các tổ chức quốc tế như Liên
Hiệp Quốc, NATO… Can thiệp quân sự là một hành động liên quan đến việc sử dụng
vũ lực do các lực lượng hải, lục, không quân của một hoặc một số quốc gia thực hiện
nhằm tác động, can thiệp vào quốc gia có động thái đe doạ, phá hoại đến nên hoà bình
và an ninh thế giới hoặc có hành vi xâm lược. Do tính chất của hoạt động can thiệp
quân sự là hành động có sự hiện diện và thực hiện bởi lực lượng vũ trang vì vậy đòi
hỏi các chủ thể tham gia phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về quân sự. Căn cứ vào dấu
Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 39.
PLou Pingeot và Wolfgang Obenland, In whose name? A critical view on the Responsibility to Protect, Rosa
Luxemburg Stiftung-New York Office and Global Policy, 2014.
7
8
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
7
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
hiệu nêu trên, chủ thể tham gia vào hoạt động can thiệp quân sự được giới hạn ở hai
chủ thể trong luật quốc tế là quốc gia và các tổ chức quốc tế (tổ chức liên chính phủ).
Đối với chủ thể tham gia hoạt động can thiệp quân sự là quốc gia. Theo pháp luật
quốc tế, một thực thể được coi là quốc gia phải có bốn yếu tố cơ bản: Dân cư thường
xuyên, lãnh thổ xác định, chính phủ, năng lực tham gia vào các quan hệ với các chủ
thể quốc tế khác 9. Khi một hoạt động can thiệp quân sự được triển khai thực hiện đòi
hỏi quốc gia tham gia phải cung cấp một lực lượng vũ trang nhất định cho quá trình
can thiệp. Qua đó, ta có thể nhận thấy chủ thể của hoạt động can thiệp quân sự chủ yếu
Giáo trình luật quốc tế Đại học luật Hà Nội (tái bản lần thứ 4), NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2007, tr.245.
10
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
8
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
Mục đích nhân đạo là cơ sở tồn tại và quan điểm lý luận thuyết phục cho vấn đề
can thiệp quân sự. Thông thường thì mục đích nhân đạo là điều kiện hàng đầu và tiên
quyết cho mọi cuộc can thiệp. Chỉ khi có mục đích nhân đạo thì vấn đề can thiệp quân
sự mới được tính đến. Điển hình như cuộc nội chiến giữa lực lượng trung thành với
chính phủ và phe nổi dậy ở Lybia (2011) dẫn đến sự can thiệp quân sự của Mỹ và một
số quốc gia được sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua nghị
quyết số 1973 về thiết lập vùng cấm bay và cho phép sử dụng vũ lực đối với chính
quyền Lybia11. Nghị quyết số 1973 được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua
cho phép hoạt động can thiệp quân sự ở Lybia nhằm mục đích bảo vệ thường dân
trước những cuộc tấn công dã man và ác liệt của chính quyền Lybia. Hơn thế, các hoạt
động tra tấn, giết chóc, giam cầm từ những cuộc trấn áp tàn bạo đối với những người
biểu tình chống đối của chính quyền Lybia đã vi phạm
nghiêm trọng đến hệ thống quyền con người đặc biệt là quyền sống, quyền tự do và an
toàn cá nhân và không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức
đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục theo Tuyên ngôn quốc tế
nhân quyền ngày 10 tháng 12 năm 1948 12.
Hoạt động can thiệp quân sự vì mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia được hiểu theo
hai khía cạnh: Lợi ích của quốc gia nơi hoạt động can thiệp được thực hiện (1) và lợi
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
nhân đạo và vì lợi ích của quốc gia được thực hiện, để làm cơ sở lý luận biện hộ cho
hành động của mình, nhằm tránh sự lên án và phản đối của cộng đồng quốc tế. Còn
theo pháp luật quốc tế, hoạt động can thiệp quân sự dưới sự tán thành của Hội đồng
Bảo an phải là hành động vì mục đích gìn giữ, bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới.
1.1.7 Nguồn luật điều chỉnh của hoạt động can thiệp quân sự
Nguồn luật điều chỉnh là một trong những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về
pháp lý và thực tiễn đối với hoạt động can thiệp quân sự.
Về pháp lý, nguồn luật điều chỉnh chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế, tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình viện dẫn và áp dụng hoạt động can thiệp quân sự.
Ngoài ra, nguồn luật điều chỉnh nó còn góp phần xác định vai trò, trách nhiệm
cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào quá trình can thiệp quân
sự.
Về thực tiễn, nguồn luật điều chỉnh hoạt động can thiệp quân sự góp phần tạo nên
một khuôn khổ nhất định trong việc áp dụng cũng như xác định mục đích, thời điểm,
cơ chế hoạt động triển khai, sự phối hợp giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động can
thiệp quân sự. Bên cạnh đó, nguồn luật điều chỉnh còn đóng vai trò quan trọng trong
việc làm hạn chế, kìm hãm quá trình can thiệp quân sự không cần thiết giữa các quốc
gia.
Về tổng thể, nguồn luật điều chỉnh của hoạt động can thiệp quân sự bao gồm Hiến
chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc về hoạt động can thiệp quân sự.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc 1945
Hiến chương Liên Hiệp Quốc được kí kết trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ
chức Quốc tế tại San Fransisco, California ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước
thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được phê
chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập (Trung Hoa Dân Quốc, Liên Bang Xô Viết,
Pháp, Anh, Hoa Kỳ) và phần đông các nước khác 15 . Sự ra đời của Hiến chương gắn
liền với sự thành lập của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Nó quy định mục đích, nguyên tắc,
cơ cấu và hoạt động của tổ chức quốc tế này. Trong Hiến chương, hoạt động can
sử dụng vũ lực trong bối cảnh của cuộc xâm lược Iraq vào Kuwait, nghị quyết số
1973 thông qua ngày 17 tháng 3 năm 2011 thiết lập vùng cấm bay và cho phép các
quốc gia thành viên được thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ dân thường ở Lybia,
nghị quyết số 2085 thông qua ngày 20 tháng 12 năm 2012 cho phép các nước châu
phi gửi quân đội đến để chiếm lại miền bắc Mali từ tay súng hồi giáo…
Xét về mặt hình thức, các nghị quyết về vấn đề áp dụng can thiệp quân sự được
kí kết giữa Hội đồng Bảo an với một hoặc một nhóm nước thành viên của Liên Hiệp
Quốc và phải được các nước kí kết phê chuẩn theo quy định trong quy trình hợp hiến
của từng nước 16. Nghị quyết mang tính thực chất được thông qua khi 9 uỷ viên của
Hội đồng Bảo an bỏ phiếu thuận, trong đó phải có đủ 5 phiếu thuận của uỷ viên
thường trực, bên liên quan trong tranh chấp sẽ không bỏ phiếu17. Tuy nhiên, nếu như
một nước uỷ viên thường trực không hoàn toàn ủng hộ với đề nghị của nghị quyết
nhưng không muốn từ bỏ quyền phủ quyết, thì nó có thể chọn bỏ phiếu trắng, do đó
nghị quyết sẽ vẫn được thông qua nếu có đủ 9 phiếu thuận18.
1.2 Liên Hiệp Quốc và hoạt động can thiệp quân sự
1.2.1 Sơ lược về tổ chức Liên Hiệp Quốc và cơ quan Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc
Liên Hiệp Quốc
Liên Hợp Quốc chính thức ra đời vào ngày 24/10/1945 khi Hiến chương Liên
Hợp Quốc được Trung Hoa Dân Quốc, Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh, Hợp chủng
quốc Hoa kỳ và đa số các quốc gia kí trước đó phê chuẩn. Tôn chỉ, mục đích của Liên
Hiệp Quốc là góp phần duy trì hoà bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ
hữu nghị giữa các nước, thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề
Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 43.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 27.
18 Liên Hiệp Quốc, Hệ thống bầu cử và hồ sơ, http://www.un.org/en/sc/meetings/voting.shtml, [truy cập ngày
17-8-2014].
16
17
đạo quốc tế 22. Về cơ chế biểu quyết, được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, mỗi uỷ
viên của Hội đồng Bảo an có một lá phiếu khi thông qua các nghị quyết của Hội đồng
Bảo an. Nghị quyết được thông qua dựa trên nguyên tắc đa số. Theo quy định tại Điều
27 khoản 3 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc 1945, trong trường hợp bỏ phiếu thông
qua những nghị quyết về các vấn đề khác không thuộc về thủ tục thì phải có sự đồng ý
của 9 uỷ viên của Hội đồng, trong đó có tất cả các uỷ viên thường trực bỏ phiếu thuận.
Như vậy chỉ cần một uỷ viên thường trực bỏ phiếu chống là nghị quyết không được
thông qua. Đây chính là quyền phủ quyết (veto) của uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo
an.
1.2.2 Vai trò của Liên Hiệp Quốc đối với hoạt động can thiệp quân sự
Chính phủ, Việt Nam và Liên Hiệp Quốc,
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ ChiTiet VeTo ChucQuocTe?diplo macy
OrgId=123, [truy cập ngày 18-8-2014].
20 Giáo trình luật quốc tế Đại học luật Hà Nội (tái bản lần thứ 4), NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2007, tr.255263.
21 Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 24.
22 Giáo trình luật quốc tế Đại học luật Hà Nội (tái bản lần thứ 4), NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2007, tr.257258.
19
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
12
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
Liên Hiệp Quốc là một tổ chức đa phương toàn cầu, trải qua gần 7 thập kỉ (19452014) hoạt động gìn giữ hoà bình, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên từ 51
thành viên ban đầu cho đến giữa 2014 là 193 thành viên23 . Chứng tỏ phạm vi, ảnh
hưởng và tác động của tổ chức quốc tế này đến đời sống chính trị quốc tế là rất to lớn.
Hoạt động xuất phát chủ yếu từ mục đích duy trì hoà bình và an ninh thế giới và để đạt
cập ngày 19-8-2014].
24 Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 1, khoản 1.
25 Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945, Điều 6.
23
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
13
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
hành động xâm lược, khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cần được tiến hành
phù hợp với Điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an
ninh thế giới. Theo đó Hội đồng Bảo an có thể áp dụng các biện pháp hoà bình nhằm
giải quyết tranh chấp, xung đột, khi cần thiết Hội đồng Bảo an còn có thể sử dụng
hành động kể cả biện pháp cưỡng chế bằng vũ lực (biện pháp can thiệp quân sự). Trên
thực tế, chức năng mà Hội đồng Bảo an được trao chủ yếu hướng đến ba mục tiêu
chính là: Gìn giữ hoà bình, vãn hồi hoà bình và kiến tạo hoà bình. Thật vậy, Hội đồng
Bảo an giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện hoạt động can thiệp
quân sự. Hoạt động can thiệp quân sự được thực hiện trên danh nghĩa của Liên Hiệp
Quốc tuy nhiên việc thực hiện này phải được sự quyết định áp dụng thông qua bởi Hội
đồng Bảo an thì nó mới được tiến hành trên thực tiễn.
Trong khi thực hiện chức năng duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, Hội đồng Bảo
an được coi là hành động với tư cách thay mặt cho tất cả các thành viên của Liên Hiệp
Quốc, được thể hiện cụ thể qua thẩm quyền định các biện pháp áp dụng trong trường
hợp hoà bình bị đe doạ, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược theo Điều 41 và 42 của
Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Các quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an đều
mang tính ràng buộc, tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc đều có trách nhiệm tôn
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của quốc gia khác hoặc bằng cách khác trái với
mục đích của Liên Hiệp Quốc. Trong phạm vi quyền hạn và
những nổ lực của mình, Liên Hiệp Quốc đã từng bước cụ thể hoá qua các văn kiện
quốc tế quan trọng, đáng chú ý là nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
ngày 24 tháng 10 năm 1970 Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh
quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp
Quốc. Tuyên bố chỉ ra: Việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực sẽ là sự vi phạm pháp luật
quốc tế và không bao giờ được sử dụng như là các biện pháp giải quyết các vấn đề
quốc tế của quốc gia nào sử dụng nó nhằm mục đích chống lại toàn vẹn lãnh thổ hay
nền độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào hoặc bằng cách khác trái với mục đích
của Liên Hiệp Quốc. Nội dung của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng
vũ lực trong quan hệ quốc tế bao gồm28 :
Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy định của luật quốc tế;
Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực;
Không được cho các quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của nước mình để tiến hành xâm
lược chống quốc gia thứ ba;
Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố
tại các quốc gia khác;
Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượn g vũ
trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào quốc gia khác;
Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược.
Nhìn chung, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế được đề ra là để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình, nền độc lập chính trị
của quốc gia, trái lại, cho dù hoạt động can thiệp quân sự được áp dụng trong trường
hợp hoà bình bị đe doạ, phá hoại hoặc có hành vi xâm lược dưới sự chấp thuận của
Hội đồng Bảo an nhưng khi thực hiện quá trình can thiệp quân sự thì hoạt động này
bắt buộc phải xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập, chính trị của quốc gia
khác. Cả hai nguyên tắc và hành động trên cốt lõi đều xuất phát từ một mục đích là
bảo vệ nền hoà bình và an ninh thế giới. Tuy nhiên, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực
khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm mục đích lật đổ chính quyền hợp
pháp của quốc gia đó hoặc gây mất ổn định cho tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
nước này.
Can thiệp trực tiếp
Dùng áp lực quân sự, chính trị, kinh tế,… và các biện pháp khác khống chế quốc
gia khác trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền để nhằm ép buộc quốc gia đó
phải phụ thuộc vào mình.
Không một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp trực tiếp hay
gián tiếp và với bất kì lý do nào vào các công việc đối nội hoặc đối ngoại của một
quốc gia khác. Vì thế, can thiệp quân sự và tất cả các hình thức can thiệp hoặc mưu
toan đe doạ nhằm chống lại phẩm cách của quốc gia hoặc chống lại cơ sở chính trị,
kinh tế và văn hoá của quốc gia đó sẽ được coi là vi phạm pháp luật quốc tế 29. Tuy
nhiên, nếu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc quyết định áp dụng hoạt động can thiệp
quân sự như là một hành động cần thiết và cấp bách để gìn giữ hoà bình chống các
hành vi xâm lược, thì hoạt động đó sẽ được áp dụng và không được coi là hành vi vi
phạm pháp luật quốc tế theo quy định tại Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hiệp
quốc. Do đó, nếu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc xác định được sự tồn tại của các
mối đe doạ, phá hoại đến hoà bình và các hành động xâm lược đang diễn ra trong
phạm vi lãnh thổ của một quốc gia nào thì việc đó không còn thuần tuý là công việc
nội bộ của quốc gia và hành động can thiệp quân sự trong trường hợp này của Liên
Hiệp Quốc không được coi là sự can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia. Như
vậy, hoạt động can thiệp quân sự được sự thông qua của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ
của quốc gia khác.
29
Như trên số 26.
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
nhau;
Được kí kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc
gia khác;
Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các
quốc gia khác.
Trong phạm vi lãnh thổ của mình, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp,
hành pháp và tư pháp mà không có bất kì sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời
quốc gia được tự lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực
trong phạm vi lãnh thổ. Tuy nhiên, quốc gia có thể thực thi quyền lực tối cao trong
phạm vi lãnh thổ của mình một cách trọn vẹn. Xét đến trường hợp can thiệp quân sự
Như trên số 26.
Giáo trình luật quốc tế Đại học luật Hà Nội (tái bản lần thứ 4), NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2007, tr.4243.
30
31
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
17
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
tại Lybia, việc thiết lập vùng cấm bay nhằm ngăn cản chính quyền Libya thực hiện các
cuộc không kích vào các lực lượng nổi dậy theo nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo
an Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 17 tháng 3 năm 2011, liệu việc làm này có vi phạm
nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia (1).
Trong phạm vi quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại
của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Về nội dung thực hiện, cả hai nguyên tắc đều hạn
GVHD: Th.S Nguyễn Tống Ngọc Như
18
SVTH: Nguyễn Văn Hạ
Can thiệp quân sự trong luật quốc tế lý luận và thực tiễn
chế và không khuyến khích sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đối với việc giải
quyết tranh chấp giữa các chủ thể quốc tế hai nguyên tắc này thể hiện sự đối lập nhau
về phương thức thực hiện, trong khi nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp
hoà bình gắn liền với nghĩa vụ không sử dụng vũ lực hoặc không đe doạ dùng vũ lực
ngược lại nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc
tế vẫn chưa đạt tới sự tuyệt đối khi vẫn còn tồn tại ngoại lệ được sử dụng vũ lực trong
trường cần thiết để duy trì và khôi phục hoà bình, an ninh quốc tế.
Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế được hiểu là việc áp dụng
các biện pháp không làm nguy hại đến hoà bình và an ninh quốc tế, và công lý32. Các
biện pháp hoà bình bai gồm đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa
án, sử dụng trung gian khu vực, thỏa thuận hoặc những biện pháp hòa bình khác do
các bên lựa chọn33.
Trong trường hợp các biện pháp hoà bình đã được áp dụng tuy nhiên việc áp dụng
vẫn không đạt được kết quả, không giải quyết được vấn đề và tranh chấp tiếp tục được
kéo dài thì nó sẽ tạo ra mối đe doạ nghiêm trọng đến nền hoà bình và an ninh quốc tế.
Trong tình huống trên, việc tranh chấp sẽ không còn là vấn đề giữa các bên tranh chấp
mà nó đã trở thành trách nhiệm quốc tế, Liên Hiệp Quốc sẽ thực hiện chức năng của
mình là hành động gìn giữ hoà bình và có thể sử dụng các biện pháp vũ lực (can thiệp
quân sự).
Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là tiền đề để thực hiện hoạt
động can thiệp quân sự. Nói như vậy là vì các biện pháp hoà bình sẽ được áp dụng ưu
Can thiệp vì lý do nhân đạo không được phép của Hội đồng Bảo an là một thực tế
đã và đang diễn ra mà cộng đồng quốc tế phải đối mặt. Để biện dẫn cho hành động can
thiệp này một số chuyên gia luật học đã phát triển thành học thuyết nhân đạo. Ý tưởng
can thiệp nhân đạo về mặt lý luận đã được giáo sư luật người Pháp (Mario Bettsti) và
vị bác sĩ, chính trị học người Pháp (Bernard Kouchner) phát triển vào cuối những năm
1970 sau khi trực tiếp chứng kiến khủng hoảng nhân đạo tại Nigeria do cuộc chiến
Biafran gây ra. Hai ông M.Bettati và B.Kouchner đã đưa ra các học thuyết về “quyền
can thiệp” (droit d’ingérence), học thuyết về “nghĩa vụ can thiệp” (respnsabilité
d’ingérence) với các lập luận rằng: Quyền được sống là quyền cơ bản nhất của con
người. Ý tưởng can thiệp nhân đạo lúc đầu xuất hiện chủ yếu dựa trên yêu cầu về mặt
lương tâm, đạo đức, đó là “chúng ta không thể để mặc cho người dân bị chết được thể
hiện trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền con người năm 1948 34 .
Can thiệp nhân đạo là việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực bởi một hoặc một số quốc
gia vào lãnh thổ của quốc gia khác nhằm mục đích ngăn chặn hoặc kết thúc sự lan
rộng và ảnh hưởng nghiêm trọng của các hành vi vi phạm đến những quyền cơ bản của
con người (nhân quyền) mà công dân của quốc gia đó đang phải gánh chịu, và việc can
thiệp không được sự đồng ý của quốc gia được áp dụng35. Theo định nghĩa này, hoạt
động can thiệp nhân đạo được thực hiện dưới hai hình thức: Vũ lực và phi vũ lực. Can
thiệp nhân đạo được áp dụng bằng vũ lực nhằm mục đích nhân đạo để bảo vệ và giải
thoát người vô tội của quốc gia được can thiệp khỏi tình trạng căng thẳng, xung đột mà
đe doạ trầm trọng đến nhân quyền. Can thiệp nhân đạo phi vũ lực là hoạt động can
thiệp được thực hiện bằng các biện pháp đe doạ hoặc sử dụng trừng phạt về kinh tế,
chính trị, ngoại giao… Bên cạnh đó, tuy không nằm trong định nghĩa về hoạt động can
thiệp nhân đạo trong bài viết, hoạt động can thiệp nhân đạo còn được thực hiện dưới
mục đích viện trợ và cứu trợ đối với các thảm hoạ từ thiên nhiên gây ra như: Bão lụt,
núi lửa, sóng thần… Tuy nhiên ở đây, người viết không đề cập đến vấn đề can thiệp
nhân đạo bằng biện pháp phi vũ lực mà chỉ phân tích đến vấn đề can thiệp nhân đạo
bằng hoạt động sử dụng vũ lực vì đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cải về khía cạnh
pháp lý cũng như về mặt nhân đạo mà biện pháp này mang lại.