HỌC VIÊN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2008 - 2009 TÊN ĐỀ TÀI
QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP
DÂN DOANH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM -
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trò Hành chính Khu vực II
Chủ nhiệm đề tài: TS PHẠM MINH TUẤN
Thư ký đề tài: ThS NGUYỄN THỊ TRÂM
7488
1.3.2 Cấu trúc quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp dân doanh 31
1.3.2.1 Địa vị pháp lý của chủ thể 32
1.3.2.2 Khách thể của quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và DNDD 38
1.3.2.3 Nội dung QHPL giữ
a Nhà nước và DNDD vùng KTTĐ phía Nam 39
1.3.3 Những đặc điểm và yêu cầu đặt ra khi xây dựng quan hệ pháp lý giữa Nhà nước
và doanh nghiệp dân doanh Vùng KTTĐ phía Nam 42
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ
NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP DÂN DOANH
2.1 Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định mối QHPL giữa
Nhà nước và DNDD vùng KTTĐ phía Nam 48
2.1.1 Pháp luật hiện hành tạo hành lang pháp lý cần thiết cho sự phát triển của
DNDD 48
2.1.2. Những thành tựu đạt được từ khi pháp luật từng bước được hoàn thiện 54
2.2 Luật Doanh nghiệp 2005 - “luật chơi mới cho sân ch
ơi mới” đã làm đổi mới mối
QHPL giữa Nhà nước và DNDD 56
2.2.1 Những điểm mới cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã làm đổi mới mối
QHPL giữa Nhà nước và DNDD 56
2.2.2 Những bất cập trong Luật doanh nghiệp năm 2005 và những văn bản hướng dẫn
thi hành 61
2.3 Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và DNDD 67
2
2.3.1 Pháp luật còn cồng kềnh, nhiều nội dung chưa đồng bộ, chưa thống nhất, chưa
rõ ràng 67
2.3.2 Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành luật chưa kịp thời, chưa đồng bộ,
chưa cụ thể và còn nhiều thiếu hụt 69
đối với DNDD vùng KTTĐ phía
Nam 101
3.3 Thực trạng về quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp dân doanh vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam trong hoạt động tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh
nghiệp 106
3.3.1 Thực trạng QHPL giữa Nhà nước và DNDD vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
trong hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp 106
3.3.2 Quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và DNDD vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
trong giải th
ể doanh nghiệp 109
3.3.3 Quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và DNDD vùng KTTĐ phía Nam trong phá sản
doanh nghiệp 113
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ
NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP DÂN DOANH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA
NAM
3
5.1. Quan điểm đổi mới, hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và Doanh
nghiệp dân doanh vùng KTTĐ phía Nam 122
5.1.1. Địa vị pháp lý của của chủ thể Nhà nước và chủ thể DNDD, quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể phải được xác lập phù hợp yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam 122
5.1.2 Hoàn thiện mối QHPL giữa Nhà nước và DNDD luôn được đặt trong quá trình
hoàn thiện chính sách và pháp luật đối với các lọai hình doanh nghiệp thu
ộc các
thành phần kinh tế; trong quá trình hoàn thiện bộ máy Nhà nước, đẩy mạnh cải cách
hành chính trong lĩnh vực kinh tế 126
5.1.3 Hoàn thiện mối QHPL giữa Nhà nước và DNDD trên cơ sở giải quyết hài hòa
5.2.3.3 Hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra DNDD 150
5.2.3.4 Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm 151
5.2.4 Các giải pháp mang tính hỗ trợ nhằm hoàn thiện mối QHPL giữa Nhà nước và
DNDD vùng KTTĐ phía Nam 152
KẾT LUẬN 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Được thành lập từ năm 1998 theo Quyết định số 44/1998/QĐ - TTg của
Thủ tướng Chính phủ, cho đến nay Vùng KTTĐ phía Nam đã bao gồm 8 tỉnh
thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang. Nhà nước đã lập dự án quy
hoạch tổng thể Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hướng vào phát triển địa bàn
này thành một vùng động lực, liên kết và thúc
đẩy sự phát triển của các vùng
khác ở phía Nam và trong cả nước, cho đến hiện nay có thể khẳng định Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam đang phát triển đứng đầu trong ba vùng kinh tế
trọng điểm của cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam vẫn còn trăn trở tìm ra một cơ chế pháp lý phù hợp cho Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, c
ơ chế đó dung hòa được với cơ chế của các tỉnh thành
thành viên nhằm tạo nên được sự phối hợp đồng bộ để cùng phát tiển đồng thời
phát huy được lợi thế so sánh của các thành viên trong Vùng bởi thực tế một cơ
chế quản lý điều hành để kết nối toàn vùng vẫn đang thiếu và sự “cắt khúc”
không gian phát triển, để cho ranh giới hành chính của mỗi tỉnh thành “phân
đoạn” quá trình đầu tư vẫn cứ diễn ra, những chủ trương, chính sách, những quy
định thu hút đầu tư và phát huy nội lực của các địa phương có ít nhiều khác biệt,
năm 1999 và sau đó là Luật doanh nghi
ệp năm 2005. Đặc biệt Luật Doanh
nghiệp năm 2005 có hiệu lực từ ngày 1.7.2006 điều chỉnh các doanh nghiệp họat
động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp
danh và doanh nghiệp tư nhân, với những quy định phù hợp hơn, sửa đổi theo
hướng hoàn chỉnh hơn so với Luật Doanh nghiệp 1999 đã tạo hành lang pháp lý
ổn định, có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy các nhà đầu t
ư bỏ vốn thành
lập doanh nghiệp.
- Nguyên nhân chủ quan: Đó là nếu trước đây trong quan hệ giữa Nhà
nước và doanh nghiệp dân doanh thường chỉ nhấn mạnh quan hệ quản lý của
Nhà nước, thì trong thời gian gần đây, cùng với việc thay đổi quan điểm, chủ
trương, cùng với những cải tiến mạnh mẽ về thể chế hành chính của các tỉnh
thành, đặc biệt đi đầ
u là thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Bình Dương… mối
quan hệ này đã được nhìn nhận đánh giá lại, trở thành mối quan hệ hợp tác giữa
các thành viên trong một cộng đồng có trách nhiệm chung với yêu cầu của sự
phát triển đất nước. Quan điểm và những chính sách đổi mới như “một cửa một
dấu”, “trải thảm đỏ”… là nguyên nhân thu hút các nhà đầu tư đến với vùng kinh
tế trọng điể
m phía Nam.
Cùng với sự thay đổi của pháp luật (Nhà nước ban hành luật Doanh nghiệp
2005 có hiệu lực từ 1.7.2006) và chủ trương đổi mới của Vùng mà nội dung quan
hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp dân doanh vùng KTTĐ phía Nam đã có
những bước tiến lớn cần nghiên cứu thấu đáo, nhằm mục đích xem xét, đánh giá
những quy định của pháp luật trong thực tiễn, xem xét đánh giá những chủ trương,
6
chính sách của chính quyền các tỉnh Vùng KTTĐ phía Nam, từ đó đưa ra những đề
xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp
chỉ khoanh vùng nghiên cứu ở một tỉnh, thành, một ngành, lĩnh vực nhất định.
Có thể nói, hiện chưa có mộ
t công trình nghiên cứu toàn diện về quan hệ
pháp lý giữa Nhà nước với doanh nghiệp dân doanh vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam.
7
3. Mục tiêu của đề tài và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được triển khai nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp
dân doanh; phân tích đánh giá thực trạng mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và
doanh nghiệp dân doanh; những mặt tích cực, những tồn tại và nguyên nhân của
tồn tại.
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển và hoàn
thiện quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam phù hợp quy định chung của pháp luật và vừa phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế vùng trong những năm tới góp phần đưa Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam trở thành đầu tàu trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa
mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nghiên cứu toàn diện quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp dân
doanh về cả lý luận lẫ
n thực tiễn sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật.
Đề tài nghiên cứu mối QHPL giữa Nhà nước và DNDD vùng KTTĐ phía Nam
theo Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
4. Nội dung nghiên cứu:
Trên cơ sở của mục tiêu đề ra và các yêu cầu thực tiễn, đề tài tập trung
nghiên cứu các nội dung sau:
- Những vấn đề lý luận về vùng kinh tế trọng đ
iểm và cơ chế quản lý nhà
thiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và DNDD vùng KTTĐ phía Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Những nội dung nghiên cứu của đề tài có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng một cơ
chế pháp lý cho Vùng
KTTĐ phía Nam, xây dựng mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với DNDD
vùng KTTĐ phía Nam. Đồng thời, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp, phục vụ cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy về pháp luật trong các trường đào tạo luật và kinh tế. 9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
VÀ QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP
DÂN DOANH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
tế quốc dân.
10
“Vùng kinh tế - xã hội là một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các
hoạt động kinh tế-xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên
phạm vi cả nước. Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp lớn, phục
vụ việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng
như để quản lý các qua trình phát triển kinh tế-xã hội trên mỗi vùng c
ủa đất
nước”[184; 24]. Như vậy, vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ trong nền kinh
tế, có cơ cấu kinh tế riêng, có mối quan hệ kinh tế qua lại, có đặc trưng, đặc
điểm riêng, có điều kiện phát triển khác biệt so với địa bàn khác của đất nước.
Phân vùng là việc chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục
vụ cho mục đích nhất
định trong một khoảng thời gian nhất định, nên khó có thể
có một sự phân vùng khách quan “tuyệt đối và vĩnh viễn”. Nếu chúng ta hiểu
vùng là một thực thể khách quan thì phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học
dựa trên một số chỉ tiêu và phương pháp mà người nghiên cứu, người quản lý
lựa chọn để phân định vùng.
Khi tiến hành phân vùng kinh tế, người ta thường nghiên cứu sự xuất hiện
và quy luật vận động củ
a các yếu tố tạo vùng khách quan. Từ đó, xác định
những nguyên tắc, quan điểm nhất định để đưa ra hệ thống các vùng với cơ cấu
sản xuất và cơ cấu lãnh thổ nhất định. Trong thực tế có nhiều cách phân vùng
khác nhau, các vùng được phân chia theo tiêu chí kinh tế như nguồn lực kinh tế,
tổng hợp thể kinh tế, tổ chức các ngành/các hoạt động, chức năng và năng lực
kinh tế
,… thành vùng kinh tế ngành và cùng kinh tế tổng hợp:
Vùng kinh tế ngành: là một vùng mà trong giới hạn của nó phân bổ tập
trung một ngành sản xuất nhất định, chẳng hạn như vùng nông nghiệp, vùng
phân bổ hợp lý lực lượng sản xuất trên phạm vi cả nước và giữa các vùng, hình
thành nên mối liên kết vùng, tạo nên sự cộng hưởng về lợi thế, cùng phát triển
nhằm khai thác hiệu quả tiề
m năng của từng vùng và cả nước, góp phần phát
triển cân đối lãnh thổ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phân vùng kinh tế cơ bản là nhằm hoạch định chiến lược, xây dựng
các kế hoạch phát triển, xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách vĩ mô thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân. Các vùng kinh tế cơ
bả
n thường bao gồm nhiều đơn vị hành chính (các tỉnh, thành phố), nhưng bản
thân vùng kinh tế cơ bản lại không thành lập bộ máy quản lý hành chính mà đây
là những vùng trực thuộc Chính phủ Trung ương.
Vùng kinh tế - hành chính: là đơn vị nằm trong vùng kinh tế - xã hội lớn,
không những có chức năng kinh tế, mà còn có chức năng hành chính. Vùng kinh
tế - hành chính là kết quả của sự thống nhất giữa quản lý kinh tế với quản lý
hành chính được xây dựng trên nguyên tắc kinh tế, ranh giới hành chính và kinh
tế thống nhất với nhau. Vùng kinh tế - hành chính thực hiện đồng thời chức năng
quản lý kinh tế và quản lý hành chính, có bộ máy quản lý riêng, có ngân sách và
thị trường địa phương
1.1.2 Áp dụng lý luận về phân vùng kinh tế vào thực tiễn Việt Nam
1.1.2.1 Quá trình áp dụng lý luận về phân vùng kinh tế vào thực tiễn Việt Nam12
Quá trình phân vùng kinh tế được thực hiện trên cơ sở khoa học và thực
tiễn của từng thời kỳ với những mục tiêu kinh tế, xã hội, chính trị khác nhau
nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển của đất nước. Trên thực tế phân vùng
kinh tế của Việt Nam ít nhiều mang tính chủ quan.
Thời kỳ trước năm 1954, dưới sự thống trị của Pháp thuộc, nước ta được
chia ra làm k
công bố các số liệu về kinh tế - xã hội theo 8 vùng nêu trên.
Trên quan điểm phát triển cân đối tổng thể trên phạm vi cả nước, hình
13
thành các cực tăng trưởng nhằm lôi kéo sự phát triển chung của cả nước, tạo
động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Chính phủ Việt Nam
quyết định hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm bao gồm những địa phương
năng động, có lợi thế trong phát triển là:
- Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ gồm: TP. Hà Nội, Hưng Yên, Hải
Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh, v
ới tam giác phát triển là Hà Nội - Hải
Phòng - Hạ Long.
- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng,
Quảng Nam và Quảng Ngãi.
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm: TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương,
Bà Rịa - Vũng Tàu, với tam giác phát triển là TP.HCM - Biên Hòa - Vũng Tàu.
Thời kỳ 2001 đến nay, thời kỳ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tụ
c chủ trương đổi mới toàn diện về kinh
tế - xã hội theo các vùng lãnh thổ, trong đó đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát
triển các vùng kinh tế trọng điểm. Trên cơ sở 8 vùng kinh tế tổng hợp và 3 vùng
kinh tế trọng điểm, Văn kiện Đại hội IX xác định 6 vùng kinh tế - xã hội gắn với
3 vùng kinh tế trọng điểm cụ thể là:
1) Đồng bằng sông Hồng và vùng KTTĐ
Bắc bộ;
2) Miền Đông Nam bộ và vùng KTTĐ phía Nam;
3) Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ và vùng KTTĐ miền Trung;
4- Trung du và miền núi Bắc bộ (Tây bắc và Đông bắc);
5- Tây Nguyên;
6- Đồng bằng sông Cửu Long.
người/năm cũng tăng từ 1.493 lên 22.310 USD năm 2020.
Vai trò vùng KTTĐ phía Nam:
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có vai trò rất quan trọng, đóng góp lớn
nhất cho kinh tế Việt Nam, chiếm gần 60% thu ngân sách, trên 70% kim ngạch
xuất khẩu và là khu vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hàng đầu cả nước,
tỷ lệ dân số đô thị gần 50% (so với mức bình quân 25% của cả nước).
Có thể so sánh qua những kết quả thống kê sau đây:
- Từ 1996 đến 2000, tốc độ tăng GDP (%) của c
ả nước là 7%, tốc độ tăng
GDP của Vùng KTTĐ phía Nam là 10,9%. Từ 2001 đến 2005, tốc độ tăng GDP
(%) của cả nước là 7%, tốc độ tăng GDP của Vùng KTTĐ phía Nam là 12%. Tuy
chưa có kết quả 2006 đến 2010, nhưng dự kiến tốc độ tăng GDP (%) của cả nước
là 8%, tốc độ tăng GDP của Vùng KTTĐ phía Nam là từ 13% - 14% [163; 36].
- Vào năm 2005, tỷ trọng GDP của Vùng KTTĐ phía Nam chiếm 40,3%
so với cả n
ước.
15
Dự kiến 5 năm sau, đến 2010, tỷ trọng GDP của Vùng KTTĐ phía Nam
chiếm >50% so với cả nước.
Vùng KTTĐ phía Nam có vị trí trung tâm của cả nước:
- Là đầu mối giao thông vận tải:
Đường hàng không: sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất là cửa ngõ giao
thương quan trọng của Vùng với năng lực khoảng 7 triệu khách năm hiện nay
lên 15 triệu khách/năm cuối năm 2006. Đây là cảng hàng không lớn nhất Việt
Nam, chiế
m 2/3 lượng khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không.
Đến năm 2010, sân bay Quốc tế Long Thành với công suất thiết kế 80-100 triệu
Các ngành công nghiệp quan trọng nhất của Vùng gồm: Dầu khí, dày da, dệt
may, điện tử, cơ khí, hoá chất, phân bón, cán thép… Ngoài ra các cơ sở công
nghiệp còn tập trung ở Long An (Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Thủ Thừa,
Đức Hoà và Tân An), thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang).
- Là trung tâm năng lượng của cả nước:
Trung tâm điện lực Phú Mỹ (BRVT) và nhà máy điệ
n Bà Rịa, Hiệp Phước
có tổng công suất điện năng trên 30% tổng công suất điện năng cả nước, công
trình khí - điện - đạm Cà Mau đang được gấp rút xây dựng để tận dụng nguồn
khí đốt từ bể Nam Côn Sơn nhằm cung cấp nguồn năng lượng cho vùng này.
Trong tương lai gần, cùng với Trung tâm điện lực Nhơn Trạch (2600 MW),
Vùng này vẫn là trung tâm năng lượng quan trọng củ
a cả nước.
- Vùng phát triển dịch vụ và thương mại:
Hoạt động xuất nhập khẩu của Vùng nhộn nhịp nhất nước, tổng kim
ngạch xuất khẩu của Vùng chiếm khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Đây là nơi tập trung các siêu thị, trung tâm thương mại lớn của các tập
đoàn bán lẻ lớn nhất trên thế giới.
- Khu vực đ
ô thị hoá với tốc độ cao:
Trong tương lai không xa, với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, đây sẽ là
vùng đô thị lớn (metropolitan area) có quy mô lớn trong khu vực Đông Nam Á
và cả thế giới. Hiện tại ở đây đang triển khai một số dự án khu đô thị lớn như:
khu đô thị công nghiệp tổng hợp Bình Dương quy mô 4000 ha, khu đô thị Đông
Bắc Củ Chi và Long An 4000 ha, khu đô thị Phú Mỹ
Hưng 600 ha và đặc biệt là
khu đô thị thương mại mới Thủ Thiêm 700 ha.
Hiện nay Vùng KTTĐ phía Nam là vùng phát triển mạnh nhất trong cả
nước, trong đó Tp. Hồ Chí Minh có thể được coi là đầu tàu của Vùng, đã, đang
hoạch để từ đó có thể rút ra những bài họ
c kinh nghiệm cho việc phân vùng và
nghiên cứu phát triển các vùng khác ở nước ta.
Từ thực tiễn thời gian qua Vùng KTTĐ phía Nam đã có những bước phát
triển vượt bậc trên cơ sở dựa vào các lợi thế và nguồn lực sẵn có cộng với tác
động tích cực của công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế trên phạm vi cả
nước, chứng tỏ chủ trương tập trung phát triển vùng của Đảng và Nhà n
ước ta đã
đi đúng hướng, điều quan trọng không kém cần phải tiếp tục nghiên cứu và thực
hiện đó là tiếp tục có những cơ chế chính sáh phù hợp để Vùng KTTĐ phía Nam
phát triển hơn nữa, phát huy được tất cả những lợi thế của mình.
18
1.2 Cơ chế quản lý nhà nước đối với vùng kinh tế và cơ chế quản lý nhà nước
đối với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
1.2.1 Cơ chế quản lý nhà nước đối với vùng kinh tế
Cơ chế: “Cách thức sắp xếp, tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó
mà thực hiện” [162; 23].
Cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế (cơ chế qu
ản lý kinh tế): là phương
thức mà qua đó Nhà nước tác động nền kinh tế thông qua các mục tiêu, phương
pháp, nguyên tắc, công cụ để định hướng, dẫn dắt, kích thích, tổ chức, điều tiết
nền kinh tế vận động đến các mục tiêu đã định [161; 10].
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều hành của các chủ thể
mang quyền lực nhà nước, được thực hi
ện bằng bộ máy công cụ đồng bộ trong
gắn kết phối hợp của nhà nước.
Các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước, nói gọn lại là các cơ quan
quản lý nhà nước, phải thực hiện hoạt động quản lý nhà nước bằng quyền lực,
công cụ và bộ máy của nhà nước, mà cụ thể là:
nhằm điều hành hiệu quả nhất việc phát triển liên vùng hài hòa.
Cơ chế quản lý nhà nước đối với Vùng KTTĐ phải phù hợp chủ tr
ương
quản lý bằng cách điều tiết gián tiếp là chủ yếu để nâng cao hiệu quả nền kinh
tế, tức là điều tiết gián tiếp thị trường thông qua các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đến
lượt nó, thị trường lại ra ‘tín hiệu’ cung-cầu, giá cả để dẫn dắt các doanh
nghiệp (các lực lượng thị trường). Đây cũng chính là quan điểm của Đảng và
Nhà nướ
c ta hiện nay: “Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế,
chính sách và các công cụ kinh tế… Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống
pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và
doanh nghiệp.”[161; 7]
Ngoài ra, để thực hiện tốt quản lý nhà nước đối với vùng KTTĐ còn cần
phải xây dựng được cơ chế phối h
ợp giữa các bộ, ngành và địa phương đối với
những vùng kinh tế trọng điểm nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ để đạt hiệu quả
cao trong phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, sự phối hợp phải bảo đảm nguyên
tắc đồng thuận giữa các bộ, ngành; giữa các bộ, ngành với các địa phương và
giữa các địa phương với nhau trong vùng kinh tế tr
ọng điểm, nhằm tạo ra
“khung kết cấu hạ tầng” đồng bộ, hiện đại. Hoạt động phối hợp có thể được thực
hiện thông qua cơ cấu tổ chức đó là các cuộc hội nghị của các tổ thường trực
điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. Trên cơ sở nội dung chuẩn bị
do các bộ, ngành và địa phương so
ạn thảo, đưa ra, các bộ, ngành, địa phương
bàn bạc, thảo luận tại các hội nghị để thỏa thuận và thống nhất trên những
phương hướng nhất định. Nội dung phối hợp tập trung vào việc quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm, quy hoạch phát triển các
lĩnh vực kết cấu hạ tầng, quy hoạch ngành, quy hoạch sản phẩ
m chủ yếu, huy
Năm 1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội VKTTĐPN giai
đoạn đến 2010 (lúc này có 4 tỉnh TP. HCM, Đồng Nai, B.Dương, BR-VT).
1.2.2.1 Xem xét cơ chế quản lý vùng KTTĐ phía Nam từ góc độ các văn bản quy
phạm pháp luật của Nhà nước
Kể từ khi thành lập Vùng KTTĐPN, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời tồn tại và phát triển của Vùng.
Quyết định số 44/1998/QĐ - TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
đến 2010 - có thể
được xem như là văn bản “khai sinh” của Vùng KTTĐPN, theo đó văn bản xác
định mục tiêu thành lập Vùng, phạm vi các tỉnh trong vùng, xác định vùng
21
KTTĐPN là đầu tàu, là hạt nhân của vùng Đông Nam bộ và Nam bộ, quy định
rõ nhiệm vụ của vùng KTTĐPN trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Sau khi được thành lập, vùng KTTĐPN đã chứng tỏ vai trò đầu tàu năng
động của mình và thực tiễn hoạt động cũng cho thấy việc thiếu sự phối hợp đồng
bộ của các địa phương trong vùng là cản ngại rất cho sự
phát triển Vùng. Để giải
quyết yêu cầu cấp bách của thực tiễn, ngày 18/2/2004, Thủ tướng Chính Phủ ban
hành Quyết định số 20/2004/QĐ-TTg thành lập Tổ chức điều phối phát triển
các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) ở cấp Trung ương để phối hợp các hoạt
động phát triển giữa các ngành, các địa phương nhằm tạo ra sự thống nhất trong
chỉ đạ
o, tổ chức thực hiện và đồng bộ trong triển khai đầu tư để đạt hiệu quả cao
trong phát triển kinh tế - xã hội của các vùng KTTĐ.
Theo Quyết định số 20/2004/QĐ-TTg thì Tổ chức điều phối không phải là
theo Quyết định 1022/QĐ-TTg ban hành ngày 28/9/2004, Trưởng Ban chỉ đạo
là Phó Thủ tướng Chính phủ và Phó ban là Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch và đầu tư,
các thành viên Ban Chỉ đạo là thứ trưởng, phó Chủ tịch UBND các tỉnh thuộc
vùng kinh tế trọng điểm. Từ năm 2005 Ban chỉ đạo đã thường xuyên tổ chức các
Hội nghị phát triển vùng kinh tế trọng điểm để bàn bạc, thảo luận và đưa ra các
nhóm nhiệm vụ và giải pháp cho các vùng KTTĐ Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ.
Mục đích cơ bản củ
a các Hội nghị là nhằm phối hợp chỉ đạo, điều hành, phối
hợp phát triển vùng… nhìn chung, hoạt động điều phối này còn chưa mạnh, tập
trung và thống nhất, nên mới thu được kết quả ban đầu hạn chế; đặc biệt mối
liên kết phát triển còn khá yếu.
Tổ chức điều phối không phải là một cấp hành chính, không có chức năng
quản lý hành chính mà chỉ hoạ
t động mang tính tham mưu giúp Thủ tướng phối
hợp các Bộ, ngành và địa phương phát triển hiệu quả, vì vậy Ban chỉ đạo không
có thẩm quyền để ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phương hướng phát
triển Vùng, quy hoạch tổng thể Vùng được quy định tại Quyết định
146/2004/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 13/8/2004 “Về
phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế tr
ọng điểm phía
Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”.
Theo Quyết định 146/2004/QĐ-TTg, Chính phủ ban hành quy định về
phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ phía Nam đến
năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 để phát huy những tiềm năng, lợi thế về vị
trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm xây dựng vùng
KTTĐ phía Nam trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển năng động,
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, thực sự là vùng kinh tế động lực
của cả nước, giữ vững vai trò quyết định đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
chung của cả nước. Đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả
thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong
các vùng KTTĐ, lĩnh vực phối hợp trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi
trường, quốc phòng, an ninh.
Quyết định 159/2007/QĐ-TTg cũng nêu rõ nguyên tắc phối hợp phát triển
trong các vùng KTTĐ, đó là :
- Tuân thủ chủ
trương, đường lối đã ghi trong Nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ X, Nghị quyết của Bộ Chính trị và quy định của pháp luật về chủ trương
phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng KTTĐ.
- Thực hiện phối hợp bảo đảm nguyên tắc đồng thuận giữa các Bộ, ngành;
giữa các Bộ, ngành với các địa phương và giữa các địa phương v
ới nhau trong
các vùng kinh tế trọng điểm.
- Việc chủ trì tổ chức thực hiện công tác phối hợp sẽ được giao cho Bộ,
24
ngành, địa phương nào có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn liên quan nhiều nhất
đến lĩnh vực hoặc nhiệm vụ cần phối hợp đó.
- Hoạt động phối hợp được thực hiện thông qua Hội nghị của các Tổ
Thường trực điều phối phát triển các vùng KTTĐ. Trên cơ sở nội dung chuẩn bị
của các Bộ, ngành và địa phương soạn thả
o, đưa ra các Bộ, ngành, địa phương
bàn bạc, thảo luận tại các Hội nghị để thỏa thuận và thống nhất.
Văn phòng Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các vùng KTTĐ lập tờ trình báo
cáo kết quả các vấn đề phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê
duyệt. Các Bộ, ngành và địa phương trong Vùng KTTĐ triển khai thực hiện.
- Những vấn đề
không đạt được sự đồng thuận của các Bộ, ngành và địa
phương trong Vùng KTTĐ thì Văn phòng Ban Chỉ đạo tổng hợp ý kiến, trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định.