BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Mỹ Dung CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô
giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đặng Văn Phan - người đã tận tình
hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Qua đây, tác giả cũng trân trọng cảm ơn các cơ quan: Viện Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tác giả trong quá
trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả xin lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện
luận văn.
điểm phía Nam (VKTTĐPN) là vùng có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế, có
khả năng mở rộng giao lưu liên kết với các vùng khác trong và ngoài nước, tạo điều
kiện cho vùng cũng như cả nước nhanh chóng hội nhập vào thị trường khu vực và
thế giới. Tr
ong thời gian qua, VKTTĐPN là địa bàn thu hút vốn FDI nhiều nhất cả
nước. Từ năm 1988 – 2007, vùng đã thu hút được hơn 50% tổng vốn đăng ký của cả
nước, giữ vai trò động lực, đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước.
Đến nay, có thể đánh giá đây là địa bàn có khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài
tăng lên đáng kể cả về số lượng dự án lẫn vốn đầu tư. Tuy nhiê
n, các dự án và vốn
đầu tư này có sự biến đổi trong thời gian qua.
Nhằm đánh giá một cách tương đối khách quan và đầy đủ về tình hình đầu tư
trực tiếp nước ngoài cũng như sự thay đổi về cơ cấu vốn FDI, tìm ra những mặt
mạnh, mặt yếu của vùng kinh tế trọng điểm này trong việc thu hút và sử dụng vốn
FDI. Từ đó, đưa ra những định hướng nhằm thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn
này trong tương lai, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của vùng. Chúng tôi
tiến hà
nh nghiên cứu đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” góp một phần nhỏ trong việc phát triển
kinh tế của vùng cũng như cả nước.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài thực hiện 2 mục đích chính:
- Khái quát về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự chuyển dịch cơ cấu vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng ki
nh tế trọng điểm phía Nam.
- Tìm ra các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và cả
nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm này chú ý đến khía cạnh địa lý lịch sử. Các yếu tố địa lý không chỉ
biến đổi trong không gian m
à biến đổi cả theo thời gian. Do đó, việc nghiên cứu
chuyển dịch cơ cấu vốn FDI tại VKTTĐPN trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại -
tương lai sẽ làm rõ bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính
logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu.
4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Con người luôn chịu tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đã làm biến đổi tự nhiên, gây
ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng. Cho nên, khi nghiên cứu cần phải quán
triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đề ra những giải pháp nhằm đảm
bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trường và vấn đề phát
triển bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập và phân tích các tài liệu, văn bản, số liệu liên quan đến FDI trong phạm
vi cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Kế thừa các nguồn tư liệu có sẵn.
- Phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.
- Sử dụng phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS), excel và powerpoint để
vẽ và xử lí các số liệu, biểu đồ, lược đồ.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Nhìn lại những thành tựu và hạn chế trong thu hút vốn F
DI tại vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam trong thời gian qua một cách cụ thể thông qua việc phân tích
sự chuyển dịch cơ cấu vốn FDI của vùng kinh tế này.
- Tìm ra một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và
cả nước.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào các vùng kinh tế này.
Trong đó không thể không kể đến vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng luôn
chiếm tỉ trọng lớn trong thu hút đầu tư nước ngoài. Thiết nghĩ, việc tìm hiểu sự
chuyển biến về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng ki
nh tế trọng điểm này có
tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” không ngoài mục đích trên.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài
phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: FDI đối với sự phát triển của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam.
Chương 2: Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam.
Chương 3: Định hướng và giải pháp.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 - FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CẢ NƯỚC
VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
1.1.Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm FDI
Theo Qũy Tiền tệ Quốc Tế (International Monetary fund, IMF), Đầu tư trực
tiếp nước ngoài (Foreign Direst Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi
biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (derest investor) đạt được một
phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (derest
invesment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối th
iểu phải là
10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Theo Ủy ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD): “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của
hành của hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện
như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ
thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống.
- Cơ cấu biểu thị cấu trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận, có mối liên hệ
chặt chẽ với nha
u; cơ cấu biểu hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các bộ phận hợp
thành so với tổng thể hoặc tỷ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ
phận kia giảm và ngược lại.
Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ
trọng của từng yếu tố vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các tiêu thức khác nhau
trong tổng thể hoặc tỷ lệ của từng yếu tố so với một yếu tố khác đư
ợc tính bằng
phần trăm.
Cơ cấu vốn FDI thường thể hiện qua:
- Cơ cấu vốn FDI theo ngành.
- Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư.
- Cơ cấu vốn FDI theo đối tác đầu tư.
- Cơ cấu vốn FDI theo lãnh thổ.
Chuyển dịch cơ cấu vốn FDI là sự thay đổi q
ua thời gian về tỷ trọng vốn FDI
của từng bộ phận (các ngành, các hình thức đầu tư, các đối tác đầu tư và lãnh thổ)
trong tổng số dự án và vốn đầu tư theo một không gian, thời gian nhất định và diễn
ra theo xu hướng nào đó (tăng lên hoặc giảm đi …).
1.1.3. Khái niệm vùng kinh tế trọng điểm [38, tr.21]
Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện
và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu
lôi kéo sự phát triển chung của cả nước.
Vùng
kinh tế trọng điểm (hay vùng kinh tế động lực) là một trong những loại
vùng kinh tế - xã hội, được hình thành và phát triển ở nước ta từ đầu thập niên 90
Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ ĐTNN điều hành quản lý.
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và được phân chia theo tỉ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế và
trả lợi tức cổ phần.
- FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng DN mới, mua lại toàn bộ ha
y từng
phần của DN đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các DN
với nhau.
- FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công
nghệ, chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm quản lí và tạo ra thị trường mới cho cả
phía đầu tư và phía nhận đầu tư.
- FDI hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty đa quốc
gia
1.2.
2. Phân loại FDI [8, tr.62,63]
Có hai cách phân loại FDI: theo dạng và theo mục đích.
1.2.2.1. Phân loại theo dạng
- Đầu tư mới (Greenfield Investment)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp
mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước. Đây
là phương thức
các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo thêm được công ăn việc làm cho người
trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp, đồng thời tạo được
mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới.
Những mặt yếu của đầu tư mới là có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước vì nhờ
khả năng cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu qủa kinh tế, đồng thời làm khô cạn
tài
nguyên trong nước. Ngoài ra, một phần lợi nhuận sẽ chảy ngược về công ty mẹ.
- Sáp nhập và tiếp thu (Mergers and acquisitions)
Xảy ra khi tài sản của một doanh nghiệp trong nước đư
Trung Đông, Châu Phi, Đông Âu và các nước Đông Nam Á mà Việt Nam là một
trong những mục tiêu quan trọng.
Tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền là những “mặt hàng” các công ty
nước ngoài rất “mê” ở các quốc gia đang phát triển với mức sinh hoạt còn thấp.
- Tìm thị trường tiêu thụ
Là những đầu tư trực tiếp nước ngoài nhắm
vào việc mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm của công ty chủ quản. Điển hình nhất là đầu tư FDI của công ty Coca –
Cola và Pepsi – Cola vào Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam.
- Tìm hiệu qủa kinh doanh
Đây là một dạng FDI thường thấy ở các quốc gia đã phát triển, chẳng hạn như
cộng đồng các quốc gia Châu Âu. Lúc này, nguồn đầu tư FDI nhằm nâng cao hiệu
qủa kinh tế và trao đổi khoa học kỹ thuật lẫn nha
u.
1.2.3. Các hình thức đầu tư [30, tr.10 -13; 41 – 53]
FDI được thực hiện chủ yếu qua 3 hình thức cơ bản:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Tuỳ theo điều kiện từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp dụng ở mức
độ khác nhau.
1.2.3.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation contract)
Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa
thuận để tiến hà
nh một hoặc nhiều hoạt động sản xuất – kinh doanh ở nước nhận
đầu tư, trên cơ sở qui định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm
và phân chia kết qủa kinh doanh cho các bên tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp
doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thỏa thuận và được cơ
quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y.
nước chủ nhà.
Đặc điểm chủ yếu của loại hình này là:
- Chủ ĐTNN bỏ ra toàn bộ vốn đầu tư đủ để duy trì sản xuất kinh doanh tại Việt
Nam (kể cả phần xây dựng cơ sở vật chất ban đầu).
- Chủ đầu tư thuê đất của chính phủ Việt Nam.
- Chủ đầu tư thuê và trả lương cho các chuyê
n gia Việt Nam và nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lúc đầu không được người nước ngoài ưa
thích vì họ muốn chia sẻ rủi ro với nước chủ nhà, còn nước chủ nhà cũng không
thích vì muốn chia sẻ lợi ích, học tập kinh nghiệm quản lý được hoạt động của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, hình thức này ngày càng được các chủ đầu tư ưa thích vì
được tự mình quản lý và hưởng lợi nhuận do kết qủa đầu tư tạo ra (Chủ đầu tư phải
làm
tròn nghĩa vụ tài chính với nước chủ nhà) còn nước chủ nhà không phải lúc nào
cũng có thể tham gia góp vốn thành lập DN liên doanh. Vì vậy đối với những dự án
đầu tư vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu, độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi tham
gia quản lý sát sao quá trình vận hành các kết qủa đầu tư (như dự án dầu khí, các dự
án xây dựng hạ tầng cơ sở kỹ th
uật) thì thường buộc phải để nhà ĐTNN đầu tư
100%.
1.2.3.4. Các hình thức đầu tư khác: hợp đồng xây dựng, khai thác,
chuyển giao BOT, BTO, BT . . .
Ngoài ba hình thức trên, các nước chủ nhà còn áp dụng các hình thức khác
như: Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.O.T), xây dựng – chuyển
giao – kinh doanh (B.T.O) và xây dựng – chuyển giao (BT).
Hình thức B.O.T (Built – Operate – Transfer): các chủ đầu tư chịu trách nhiệm
xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi
nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho
nước chủ nhà mà không thu bất kỳ một khoản tiền nào.
Hình thức B.T.O (Built– Transfer– Operate): Sau khi xây dựng xong, nhà đầu
y càng được quốc tế hoá,
tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới được dự báo sẽ tăng lên
do ảnh hưởng của sự chuyển dịch các dòng vốn trên thế giới.
Xét trên phương diện đầu tư, luân chuyển vốn cho thấy nhu cầu mở rộng phạm
vi hoạt động và mở rộng khu vực đầu tư của các nhà đầu tư ở các nước phát triển
đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia.
Nếu đầu thế kỷ XX, trên 70% vốn đầu tư tư bản đổ vào các nước chậm và đang
phát triển để khai thác tài nguyên của các nước này với tư cách là thuộc địa, thì sau
chiến tranh thế giới thứ hai, khu vực Tây Âu là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất.
Thời gian này, Tâ
y Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó ½ là vốn của
Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh thế giới. Ngày
nay, các nước công nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư nhiều nhất:
năm 1999, các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn đầu tư FDI
của thế giới, trong khi đó các nước đang phát triển chiếm ¾ dân số nhưng chỉ chiếm
23,5% vốn đầu tư FDI. Trong những năm gần đây và dự báo của những năm tới, tỷ
trọng FDI của các nước công nghiệp phát triển sẽ giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng
cao so với các nước đang phát triển.
Bảng 1.1: Tình hình và dự báo vốn đầu tư FDI vào
các nhóm nước trên thế giới
Tổng vốn FDI Đầu tư vào
các nước phát triển
Đầu tư vào
các nước đang phát triển Năm
Tổng giá trị
(Tỷ USD)
nghiệp hoá và mở cửa
kinh tế để hội nhập với khu vực và thế giới. Ở châu Á, nước
có thị trường mới nổi là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…; Châu Mỹ Latinh:
Braxin, Achentina, Mêhicô…; Châu Âu: Nga, Thỗ Nhĩ Kỳ…Năm 2004, vốn FDI
vào thị trường mới nổi là 146,8 tỷ USD; năm 2005 là 185,7 tỷ USD. Những nước
mới nổi nhận được nhiều FDI nhất là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và
Việt Nam.
Giống như UNC
TAD, báo cáo của Viện Nghiên cứu Tài chính Quốc tế (IFF)
năm 2007 cũng khẳng định vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ gia tăng vào những
nền kinh tế đang nổi. Trong những năm tới, IFF cũng đưa ra những dự báo khả quan
rằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong những năm
tiếp theo c
ùng với sự phát triển của thị trường vốn, mặc dù nền kinh tế toàn cầu
đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại.
Năm 2008, kinh tế thế giới suy giảm mạnh, tốc độ tăng trưởng thấp. Theo IMF,
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới chỉ đạt 3,7% thấp hơn 1,3% so
với 5% năm 2007 và thấp hơn 1,4% so với mức tăng 5,1% năm
2006.
Năm 2009, các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới đều thống nhất
nhận định: kinh tế thế giới suy giảm nghiêm trọng, bức tranh kinh tế thế giới tiếp
tục ảm đạm. IMF đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 từ 3,9% trong
dự báo hồi tháng 7/2008 xuống còn 2,2% (con số của WB là 0,9%) mức thấp nhất
trong bảy năm qua. Cụ thể là tại các nước đa
ng phát triển, con số này sẽ giảm xuống
còn 5,0% và ở mức tăng trưởng âm tại các nước phát triển (kinh tế Mỹ giảm sâu:
âm 0,7%; Nhật Bản và EU âm khoảng 0,5%). Việc suy thoái kinh tế diễn ra mạnh
mẽ ở các nước có nền kinh tế phát triển, một số nước có nền kinh tế phát triển sẽ
tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Cơ quan quốc gia
về nghiên cứu kinh tế (NBER) của Mỹ đã nhận định: nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy
APEC, ASEM Và WTO. Đó là điều kiện t
huận lợi để mở rộng hợp tác quốc tế, xúc
tiến thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa (CNH,
HĐH), xây dựng nền kinh tế tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Quá trình này đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, không những từ trong
nước mà còn từ nước ngoài. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã
khẳng định, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, trong đó có đề ra nhiệm
vụ “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn
vốn đầu tư toàn xã hội
trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút
FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu
thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng,
hiệu qủa nguồn
FDI”.[19,tr.204, 205]
Chủ truơng hợp tác với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lí, thị trường xuất khẩu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đã
được xác định và cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Văn bản pháp qui đầu tiên qui định về đầu tư nước ngoài là N
ghị định số 115/CP
ngày 14/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Sau đó được nâng cấp lên thành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
năm 1987. Qua hai lần sửa đổi và bổ sung năm 1990 và năm 1992, đến năm 1996
Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam, sau đó lại được
sửa đổi bổ sung năm 2000. Năm
2005, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư mới áp
dụng chung cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài. Sự thay đổi này một mặt thể
hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với qui luật chung, nhằm đáp
ứng kịp thời, khác
đầu triển vọng), các thị trường đang phát triển nhanh và đồng bộ, cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội được xây dựng ngày càng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển.Sá
u
tháng đầu năm 2009, Việt Nam đã thu hút được 306 dự án đầu tư mới và tăng vốn
cho 68 dự án với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8.871,05 triệu USD.
Hơn hai mươi năm qua, FDI đã giữ vai trò trọng yếu trong công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt nam. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước
và ngày càng khẳng định vai trò quan
trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, cải thiện cán cân thanh toán, góp phần tăng cường năng lực sản
xuất, đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm,
gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo
việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động trong nước. Vì thế, trong tương lai
Việt Nam cần có chính sách thu hút và sử dụng hợp lí hơn nguồn vốn này để thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước nhà để đến năm
2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
1.4. FDI đối với sự phá
t triển kinh tế của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam
1.4.1. FDI đối với sự phát triển kinh tế của cả nước [6, tr.15 – 19]
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong
nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất.
Mặt tích cực
Về mặt kinh tế
- FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư
ph
át triển xã hội và tăng trưởng kinh tế
Đóng góp của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng
chiếm 13,1% vào năm 1990 đã tăng lên mức 30,4% trong năm 1995. Tỷ lệ này đã
Vốn FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Từ năm 1991-
2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%,
trong đó: 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây
dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm
trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990; 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt
7,5% (nông lâm
ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng
7%); Năm 2006 đạt 8,17% (nông - lâm – ngư nghiệp tăng 3,4%; công nghiệp xây
dựng tăng 10,37%, dịch vụ tăng 8,29%) và năm 2007 đạt 8,48% (nông - lâm – ngư
nghiệp tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 8,6%).
- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao
năng lực sản xuất công nghiệp
Trong 20 năm qua FDI đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền
kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành
nguồn đầu tư quan trọng của quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp
và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành
đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư,
nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở
cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các
công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu...
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI cao hơn mức
tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH - HĐH, tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn FDI
trong ngành công nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 43,7% năm
2004 và 2005, 44,2% năm 2006).
FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều
ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép,
điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
, da giày, dệt