một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing xuất khẩu tại công ty Giầy Thụy Khuê - Pdf 30


Lời mở đầu
Trong những năm cuối cùng của thế kỷ này, nớc ta đã có những bớc tiến
quan trọng trong vấn đề hội nhập ASEAN (năm 1995) APEC (năm 1998 cùng
với việc đang xúc tiến đàm phán ra nhập AFTA, WTO và Hiệp định thơng mại
Việt Nam Hoa kỳ. Trong quá trình hội nhập đó, Đảng và Nhà nớc ta đặc biệt
rất quan tâm đến hoạt động xuất khẩu.
Do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, chúng ta không thể thâm nhập thị tr-
ờng đặc biệt là thị trờng thế giới bằng những mặt hàng manh mún, công nghệ
thấp chất lợng kém và càng không thể chủ quan áp đặt những mặt hàng sẵn có
trên thị trờng. Chính vì lý do đó, để thành công trên con đờng kinh doanh quốc
tế nó đòi hỏi tất cả các công ty xuất nhập khẩu của Việt Nam phải không ngừng
tìm tòi, học hỏi, nắm bắt đợc những cơ hội của thị trờng.
Nhận thức đợc điều đó, trong những năm gần đây, để hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu có hiệu quả, các công ty xuất nhập khẩu của Việt Nam
đã và đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, tìm hiểu thị trờng để từ đó mà vận dụng
các chiến lợcMarketing xuất nhập khẩu ở nhiều mức độ khác nhau. Và trong
số đó có Công ty Giầy Thụy Khuê.
Công ty giầy Thụy Khuê là một đơn vị chuyên sản xuất - kinh doanh mặt
hàng Giầy dép. Hàng năm Công ty đóng góp một phầ không nhỏ vào tổng kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng Giầy dép của nhà nớc. Song vài năm gần đây do chịu
nhiều tác động của các nhân tố khách quan, chủ quan hoạt động xuất khẩu của
Công ty xuất hiện những vấn đề cần đổi mới, nh tầm quan trọng của hoạt động
Marketing xuất khẩu.
Xuất phát từ những điều trên, trong quá trình thực tập tại Công ty Giầy
Thụy Khuê tôi đã chọn đề tài: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
Marketing xuất khẩu tại Công ty Giầy Thụy Khuê làm đề tài chuyên đề
thực tập tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài đó là: Vận dụng tổng hợp cơ sở lý luận,
kết hợp với phân tích điều kiện kinh doanh thực tại ở Công ty, trên cơ sở đó chỉ
ra u điểm, nhợc điểm còn tồn tại cùng nguyên nhân gây ra để đề xuất những

Nh vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý,
nguyên tắc các phơng pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện
thị trờng nớc ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung
chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ đợc tiêu thụ không phải trên thị trờng nội địa
mà là ở thị trờng nớc ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh
vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.
Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt đợc các mục tiêu
của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là
mua bán hay đầu t sản xuất... tại các thị trờng nớc ngoài mà doanh nghiệp muốn
nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trờng hợp chỉ
áp dụng cho các sản phẩm đợc sản xuất trong nớc nhng đợc tiêu thụ ở thị trờng
nớc ngoài thì đó chính là Marketing xuất khẩu.
2. Vai trò và chức năng của Marketing quốc tế.
Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với
điều kiện của môi trờng quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trờng
nớc ngoài với thị trờng nội địa và giữa thị trờng nớc ngoài với nhau, để đảm bảo
lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện đợc những chức
năng cơ bản:
- Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trờng để nhận
biết một cách nhanh chóng các biến động thị trờng và nếu có thể thì dự báo trớc
các biến động đó.
3

- Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng
thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.
- Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt
động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trờng
kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về văn hoá trong quản lý
doanh nghiệp.
- Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật

bán của nó và sự sẵn có của các hãng nghiên cứu Marketing và quảng cáo cũng
có sự khác biệt với thị trờng trong nớc. Do đó việc nghiên cứu các yếu tố thuộc
môi trờng nớc ngoài là vô cùng cần thiết.
* Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trờng kinh tế quốc tế:
Sự ổn định hay bất ổn định về kinh tế, chính sách kinh tế của các quốc gia
trong khu vực và thế giới nói chung hay một quốc gia nói riêng có tác động trực
tiếp đến hoạt động và hiệu quả của công ty trên thị trờng nớc ngoài. Trong môi
trờng môi trờng kinh tế các công ty XNK tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
+ Cấu trúc công nghiệp nớc sở tại: Định hình các nhu cầu vể sản phẩm,
dịch vụ, mức lợi tức và mức độ sử dụng nhân lực. Có bốn loại cấu trúc công
nghiệp:
- Nền kinh tế tự cấp tự túc.
- Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu thô.
- Nền kinh tế đang công nghiệp hoá.
- Nền kinh tế côn nghiệp hoá.
+ Sự phân bổ thu nhập: Thu nhập phản ánh khả năng thanh toán và sử
dụng của ngời tiêu dùng nên cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này.
+ Tốc độ tăng trởng kinh tế của nớc nhập khẩu. Điều này ảnh hởng đến
tổng mức nhu cầu và tổng mức nhập khẩu sản phẩm hàng hoá của nớc đó. Nó đ-
ợc biểu hiện qua GNP, GDP bình quân trên đầu ngời, sự ổn định đồng tiền, khả
năng thanh toán...
+ Xu thế phát triển và hội nhập kinh tế vùng và trên thế giới: Mang lại sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giảm bớt hàng rào thơng mại giữa các
quốc gia thành viên, thúc đẩy các di chuyền trên thị trờng quốc tế các nhân tố
đầu vào và các chính sách kinh tế, tài chính, tỷ giá hối đoái... Hội nhập cũng có
5

ảnh hởng đến lợi ích các quốc gia tham gia khối kinh tế. ảnh hởng tích cực là
tạo ra buôn bán trao đổi, còn tiêu cực là làm chệch hớng trao đổi. Bên cạnh đó
nó còn có thể đa đến thay đổi quan trọng trong cấu trúc của các quốc gia thành

Những điều tiết về hối đoái.
Một số hiệp định thoả thuận đợc các quốc gia tuân thủ có ảnh hởng sâu
rộng đến hoạt động kinh doanh quốc tế, bao gồm các hiệp định song phơng.
Hiện nay Việt Nam cũng đã ký kết hiệp định thơng mại song phơng với Mỹ.
+ Vấn đề giải quyết xung đột: Do không có một thế chế thi hành luật nào
tồn tại nên các công ty thờng giới hạn trong các luật pháp của nớc nhà và nớc
chủ nhà. Vấn đề đặt ra khi có tranh chấp là giải quyết các bất đồng luật pháp
của các bên từ các quốc gia khác nhau nh thế nào: Loại luật nào đợc vận
dụng? và Loại toà án nào sẽ theo đuổi việc kiện tụng.
* Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trờng văn hoá - xã hội quốc tế:
Văn hoá định hình những hành vi mua sắm và tiêu dùng có thể chấp nhận
đợc cho cả ngời tiêu dùng và nhà kinh doanh. Vấn đề đặt ra cho các nhà
Marketing là phải có sự nghiên cứu về văn hoá - xã hội để đa ra các quyết định
Marketing mix phù hợp. Do khía cạnh của văn hoá có ảnh hởng đến quyết
định kinh doanh của các công ty đó là:
+ Giao tiếp ngôn ngữ: Ngôn ngứ là một phơng tiện của giao tiếp. Ngôn
ngữ có hai loại là ngôn ngữ bằng lời và không lời (điệu bộ, vẻ mặt, dáng điệu và
kiểu cách).
+ Quá trình t duy nhận thức: Có khác nhau giữa các quốc gia nên dễ gây
nên sự hiểu lầm trong giải thích các thông điệp.
+ Giá trị và quy tắc: Giá trị là những quan điểm lý tởng sâu sắc làm nền
tảng cho các quy tắc hớng đạo đời sống xã hội. Qui tắc: Là những quy định tiêu
chuẩn và mô hình ứng xử đợc thừa nhận.
+ ý thức về bản thân và không gian: Nền văn hoá có tác động đến sự thoả
mãn của con ngời với bản thân mình. Sự tự nhận biết bản thân và tự đánh giá có
thể khác nhau giữa các quốc gia.
+ Phần thởng và sự công nhận: Cách thức và phơng pháp ca gợi đối với kết
quả thực hiện và thành tựu là một phơng cách quan sát nền văn hoá khác. Các
phần thởng giấy mời ăn tối, các tài khoản chi tiêu danh hiệu và tiền đợc sử dụng
rất khác nhau theo khung cảnh văn hoá. Địa vị và nghề nghiệp hay động cơ mà

Thông tin thu đợc sẽ giúp cho công ty xuất khẩu xác định: Thị trờng cần hàng
gì? Chất lợng nh thế nào? Khi nào mua? Mua nh thế nào?... Tuy nhiên đây là
việc nghiên cứu vô cùng khó khăn và phức tạp nhất là đối với các công ty của
Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
8

* Nghiên cứu tập tính tinh thần của ngời tiêu dùng nớc ngoài: Tập tính tinh
thần của ngời tiêu dùng là những vấn đề mà con ngời suy nghĩ. Nghiên cứu vấn
đề này bao gồm: Nghiên cứu nhu cầu động cơ, hình ảnh của sản phẩm trong
khách hàng, thái đọ của ngời tiêu dùng nớc ngoài đối với hàng hoá nhập ngoại...
* Nghiên cứu giá cả thị trờng nớc ngoài: Việc nghiên cứu này rất quan
trọng đối với công ty xuất khẩu khi đa ra quyết định giá xuất khẩu của mình.
Các vấn đề nghiên cứu bao gồm: giá bán buôn, giá bán lẻ, giá nhập khẩu, các
nhân tố ảnh hởng và xu hớng biến động của giá.
* Nghiên cứu bán hàng ( nhà xuất khẩu).
Hợp đồng chỉ đợc thực hiện khi cả hai bên ký kết cùng tích cực thúc đẩy
công việc thuộc trách nhiệm của mình. Thực tế cho thấy khi tranh chấp xảy ra
khi một trong hai bên không thực hiện đúng hợp đồng. Vì vậy, trớc khi tiến
hành quan hệ buôn bán trao đổi với một bạn hàng, đặc biệt là bạn hàng nớc
ngoài ta phải nghiên cứu chi tiết về bạn hàng. Các vấn đề cần nghiên cứu là:
+ Khả năng thanh toán của bạn hàng.
+ Chức năng quyền hạn của bạn hàng.
+ Uy tín trên thị trờng.
+ Tinh thần thiện chí.
+ Quan điểm lợi nhuận.
* Nghiên cứu tình hình cạnh trạnh ở thị trờng xuất khẩu.
ở đây nhiệm vụ của các nhà xuất khẩu là phải tìm hiểu điểm mạnh, điểm
yếu của đối thủ cạnh tranh để có biện pháp cạnh tranh phù hợp. Tuy nhiên, đối
với các công ty của Việt Nam việc nghiên cứu này gặp rất nhiều khó khăn bởi
các yếu tố khách quan và chủ quan: Thiếu thông tin chính xác, khả năng trình

lợc tập trung và chiến lợc phân tán.
i. Chiến lợc tập trung:
Chiến lợc tập trung là chỉ thâm nhập sâu vào một số ít thị trờng nên dễ tập
trung đợc các nguồn lực của doanh nghiệp, việc chuyên môn hoá sản xuất và
tiêu chuẩn hoá sản phẩm đạt đợc mức độ cao hơn hoạt động quản lý trên các thị
trờng đó cũng hoạt động dễ dàng hơn. Mặt khác do tập trung đợc nguồn lực của
doanh nghiệp nên tạo đợc u thế cạnh tranh cao hơn tại các thị trờng đó.
ii. Chiến lợc phân tán.
10

Chiến lợc này đợc đặc trng bằng việc mở rộng hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp cùng một lúc sang nhiều thị trờng nớc ngoài khác nhau. Chiến lợc
này có u điểm chính là tính linh hoạt trong kinh doanh cao hơn, hạn chế đợc các
rủi ro trong kinh doanh song do hoạt động kinh doanh bị dàn trải nên khó thân
nhập sâu và hoạt động quản lý cũng phức tạp hơn, chi phí thâm nhập lớn hơn.
+ Thủ tục và phơng pháp lựa chọn thị trờng xuất khẩu.
Thủ tục lựa chọn:
i. Thủ tục mở rộng: Thủ tục lựa chọn thị trờng này thờng dựa vào sự tơng
đồng giữa các cơ cấu thị trờng của khu vực thị trờng nớc ngoài về đặc điểm
chính trị, xã hội, kinh tế hoặc văn hoá để mở rộng thị trờng của doanh nghiệp
sang các khu vực thị trờng có mức độ tơng đồng cao nhất với thị trờng nội địa
quen thuộc của doanh nghiệp. Đây là dạng lựa chọn thị trờng dựa vào kinh
nghiệm.
ii. Thủ tục thu hẹp:
Thủ tục thu hẹp đợc sử dụng khi việc lựa chọn thị trờng nớc ngoài đợc bắt
đầu từ tổng số các thị trờng quốc gia hoặc liên kết khu vực hiện có. Phơng pháp
này đợc tiến hành một cách có hệ thống hơn và đảm bảo không bỏ sót mọi cơ
hội thị trờng của doanh nghiệp. Thủ tục này đợc tiến hành qua các bớc tuần tự:
- Đánh giá tổng quát thị trờng.
- Phân tích khả năng doanh nghiệp.

a. Xuất khẩu.
- Xuất khẩu gián tiếp: Là hình thức khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ
của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nớc xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản
phẩm của mình ra nớc ngoài. Hình thức xuất khẩu gián tiếp khá phổ biến ở
những doanh nghiệp mới tham gia vào thị trờng quốc tế. Hình thức này có u
điểm là ít phải đầu t. Doanh nghiệp không phải triển khai một lực lợng bán hàng
ở nớc ngoài cũng nh các hoạt động giao tiếp khuyếch trơng ở nớc ngoài và
thêm vào đó là hạn chế đợc các rủi ro.
Tuy nhiên hạn chế là giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do phải chia sẻ với
các tổ chức tiêu thụ và không nắm băt đợc các thông tin về thị trờng nớc ngoài.
Trong hình thức này doanh nghiệp có thể sử dụng các trung gian phân phối
sau:
. Hãng buôn xuất khẩu.
. Công ty quản lý xuất khẩu.
. Đại lý xuất khẩu.
. Khách vãng lai.
. Các tổ chức phối hợp.
- Xuất khẩu trực tiếp: Hầu hết các nhà sản xuất chỉ sử dụng các trung gian
phân phối trong các điều kiện cần thiết. Khi đã phát triển đủ mạnh để tiến tới
thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình để có thể kiểm soát trực tiếp thị tr-
ờng thì họ thích sử dụng hình thức xuất khẩu trực tiếp hơn. Trong hình thức này
nhà sản xuất giao dịch trực tiếp với khách hàng nớc ngoài thông qua tổ chức
của mình.
Các tổ chức bán hàng trực tiếp của nhà snả xuất gồm:
. Cơ sở bán hàng trong nớc .
. Đại diện bán hàng xuất khẩu.
. Chi nhánh bán hàng tại nớc ngoài.
13

. Tổ trức trợ giúp ở nớc ngoài.


3. Chính sách về sản phẩm xuất khẩu.
3.1. Khái niệm về sản phẩm xuất khẩu và chính sách sản phẩm.
Sản phẩm xuất khẩu là mọi thứ có thể thoả mãn đợc nhu cầu và mong
muốn của khách hàng nớc ngoài.
Với khái niệm nh trên, sản phẩm xuẩt khẩu rất đa dạng về hình thức. Nó
có thể là những sản phẩm vật chất cũng nh các thứ mà khách nớc ngoài và ngời
tiêu dùng nhận thức đợc nh là vai trò của sản phẩm có thể thoả mãn đợc những
cái mà họ mong muốn và do đó có thể bán đợc.Với mỗi sản phẩm, các thành
phần chất lợng của nó đợc biểu hiện thông qua các khía cạnh:
- Giá trị sử dụng của sản phẩm.
- Đóng gói sản phẩm.
- Các dịch vụ hỗ trợ.
Ta chú ý rằng tính thay thế đợc của sản phẩm rất rộng, mỗi nhu cầu của
khách hàng có thể thoả mãn bằng nhiều sản phẩm khác nhau và ngực lại mỗi
sản phẩm có thể thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau. Do đó khi xây dựng một
chính sách sản phẩm nói chung và thiết kế một sản phẩm nói riêng phải chú ý
đến điều đó. Từ đó ta có thể đa ra khái niệm về chính sách sản phẩm:
Chính sách sản phẩm là việc duy trì, cải tiến hoặc thải loại sản phẩm hiện
có và phát triển sản phẩm mới.
3.2. Nội dung của chính sách sản phẩm xuất khẩu.
3.2.1. Kế hoạch hoá và phát triển sản phẩm.
+ Các dạng chủ yếu của phát triển sản phẩm trong Marketing mix:
- Bổ sung phát triển sản phẩm mới: là một dạng thức mà theo đó công ty
có thể bổ sung một sản phẩm mới vào loại sản phẩm hiện tại đang đợc bán trên
thị trờng nớc ngoài thông qua xuất khẩu.
- Cải tiến hoặc thay đổi những sản phẩm hiện tại:
Để sản phẩm thích ứng với thị trờng nớc ngoài và có thể kéo dài chu
kỳ sống của nó. Một công dụng mới của sản phẩm cũng đòi hỏi những thay đổi
nhất định từ phía sản phẩm.

và dễ nhớ nhất cho việc thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trờng nói chung và
thị trờng xuất khẩu nói riêng. Để đảm bảo các chức năng bảo vệ, thông tin và
quảng cáo sản phẩm và cũng để thích ứng với nhu cầu thị trờng nớc ngoài, việc
16

thiết kế bao bì phải: Phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hoá - xã hội của từng
quốc gia, hấp dẫn, đẹp mắt, từ đó tạo sự chú ý và tin tởng khách hàng.
- Nhãn mác: Là cơ sở tạo sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng loại của các
công ty khác nhau. Nhãn hiệu có vai trò nh một công cụ cạnh tranh, một đặc
điểm chính yếu tác động đến quảng cáo và bán sản phẩm. Đồng thời nó cũng
góp phần tạo ra lợi nhuận trong quyết định giá của công ty.
Nhãn hiệu có thể đợc biểu tợng bằng hình ảnh, chữ viết,... Song trong điều
kiện hiện nay nó phải đảm bảo các yếu tố: Phù hợp với từng loại sản phẩm dễ
đọc, dễ nhận biết, dễ nhớ, độc đáo. Một điều hết sức quan trọng khác là nó phải
dễ dịch sang tiếng nớc ngoài và tuân thủ theo luật bảo vệ nhãn hiệu quốc tế.
3.2.5. Quyết định về các dịch vụ bao hỗ trợ.
Thông thờng các dịch vụ này bao gồm: Bảo hành lắp đặt, hớng dẫn sử
dụng, dịch vụ trớc, sau bán và trong bán, các dịch vụ sinh hoạt, các điều kiện
giao hàng, thanh toán... Các công ty thành công thờng sử dụng tốt các dịch vụ
này.
3.2.6. Quyết định về chuẩn hoá và thích ghi văn hoá sản phẩm xuất
khẩu.
+ Quyết định về tiêu chuẩn hoá sản phẩm xuất khẩu: Đợc hiểu là việc công
ty bán ra thị trờng ngoài nớc những sản phẩm giống nhau hoặc đồng nhất về các
yếu tố vật chất nh kích cỡ, màu sắc, đáp ứng các tiêu chuẩn của ngời tiêu dùng.
+ Quyết định về thích nghi hoá sản phẩm xuất khẩu: Đợc hiểu là sự thay
đổi hoặc điều chỉnh để thích nghi với môi trờng nớc ngoài. Thích nghi hoá có
thể uỷ thác hay tự nguyện.
Thông thờng các quyết định về sản phẩm có sự pha trộn giữa hai chiều h-
ớng tiêu chuẩn và thích nghi hoá.

+ Giá bành trớng: Định mức giá thật thấp để tăng thêm tỷ lệ khách hàng
tiềm năng ở mức giá thấp. Nó đợc áp dụng khi độ co dãn của nhu cầu theo giá
rất nhiều và chi phí giảm mạnh theo sản lợng.
+ Giá u đãi: Xác định giá ở mức đủ thấp để làm nản chí các đối thủ cạnh
tranh. Với mục tiêu này giá cả sẽ gần bằng chi phí toàn bộ tính cho một đơn vị
sản phẩm hoặc thậm chí ở mức chi phí tới hạn.
18

+ Giá tiêu diệt: Mức giá này đợc các doanh nghiệp lớn với chi phí thấp sử
dụng nh một phơng tiện để loại các doanh nghiệp yếu hơn ra khỏi ngành sản
xuất đó. Nó tạo ra sự độc quyền trên thị trờng.
4.2.2. Quan hệ giữa chính sách giá tại các thị trờng.
a. Mối quan hệ giữa giá nội địa và giá xuất khẩu.
Trong sự tơng quan giữa các nội địa và giá xuất khẩu của sản phẩm có thể
có ba loại quyết định:
+ Giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa: Quyết định này dựa trên căn cứ: Thứ
nhất là sản phẩm xuất khẩu còn xa lạ với thị trờng nớc ngoài. Thứ hai là do các
đối thủ cạnh tranh ở nớc ngoài có thể sản xuất với chi phí thấp hơn hoặc có thể
đợc hởng trợ cấp của chính phủ. Thứ ba là nhà sản xuất nên gánh chịu các chi
phí cho giai đoạn đầu của xuất khẩu và không nên tính các chi phí vào giá xuất
khẩu.
+ Giá xuất khẩu cao hơn giá nội địa: Quyết định này dựa trên cơ sở là chi
phí ban đầu cho việc tổ chức thâm nhập thị trờng tăng lên đáng kể, chi phí bán
hàng có thể cao hơn thị trờng nội địa. Để thích nghi sản phẩm cần có sự đầu t
thêm.
+ Giá xuất khẩu ngang bằng giá nội địa: Chính sách này áp dụng giá nội
địa với thị trờng xuất khẩu, đặc biệt có ý nghĩa đối với những ngời xuất khẩu
lần đầu tiên và cha có hiểu biết tỷ mỷ các điều kiện của thị trờng nớc ngoài.
b. Mối liên hệ giữa các mức giá tại thị trờng nớc ngoài.
Một khía cạnh khác của vấn đề là do những điều kiện thị trờng khác nhau

thuận lợi của sản phẩm xuất khẩu.
- Các nhân tổ ảnh hởng đến quảng cáo:
+ Hội trờng quảng cáo: là toàn bộ các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá -
xã hội. Thông qua môi trờng này tác động mạnh đến khả năng tiếp cận mức độ
đánh giá, sự phản ứng của ngời tiêu dùng đối với những chơng trình quảng cáo.
+ Phơng tiện quảng cáo: Là những phơng tiện thông tin nhằm tuyên truyền
các thông điệp của nhà quảng cáo đến khách hàng tiềm năng của mình, số lợng,
chủng loại và đặc điểm của các phơng tiện cũng có sự khác biệt giữa các quốc
gia.
5.2.2. Bán hàng cá nhân:
Đây là hình thức giới thiệu bằng miệng của nhân viên bán hàng, đợc thực
hiện dới hình thức các cuộc hội thảo, gặp gỡ với 1 hay một số khách hàng tiềm
20

năng nhằm mục đích bán đợc sản phẩm sự thành công của công ty ở đây phụ
thuộc vào phẩm chất t cách của cá nhân nên nhân viên bán hàng đợc lựa chọn
tốt sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng lợng bán và vị thế của công ty.
5.2.3. Xúc tiến bán:
Là những biện pháp kích thức nhất thời (ngắn hạn) nhằm khuyến khích
hành động mua của sản phẩm. Xúc tiến bao gồm các phơng thức:
+ Hàng mẫu: Đợc gửi trực tiếp đến khách hàng, nhà bán buôn hay đại lý,
chi nhánh ở nớc ngoài nhằm giới thiệu cho ngời mua về hình dáng, chất lợng...
một cách chân thực nhất.
+ Catalogue: Là công cụ rất phổ biến có ý nghĩa lớn khi khách hàng ở xa
bằng việc cung cấp những thông tin cần thiết từ kích cỡ, mầu sắc, số lợng, giá
cả, hình thức thanh toán,.... tới khách hàng nớc ngoài làm giảm bớt khoảng cách
của công ty và khách hàng. Mục đích là tạo ra sự quan tâm, thu hút khách hàng
phản ánh khả năng sản xuất hàng xuất khẩu của công ty,....
+ Xuất bản ấn phẩm về công ty hay tổ chức xuất khẩu: việc này không chỉ
giới hạn về việc mô tả sản phẩm mà còn giới thiệu về công ty....

lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty. Một trong những quyết định hết
sức táo bạo, sáng suốt là công ty đã di chuyển toàn bộ cơ sở sản xuất từ nội
thành ra ngoại thành.
Cơ sở mới này gồm 3 xởng sản xuất chính, khối phòng ban phụ trợ, kho
tàng, nhà ăn với gần 20.000m
2
nhà xởng và đờng nội bộ trên một khu đất hơn
30.000m
2
tại khu A2 Phú Diễn - Từ Liêm - Hà Nội.
Song với nhiệm vụ xây dựng va di chuyển tới địa điểm mới các chỉ tiêu
kinh tế xã hội hàng năm đợc thực hiện tốt, hiện tại sản xuất năm sau cao hơn
22

năm trớc. Công ty đã có nhiều giải pháp để sản xuất liên tiếp hợp tác và áp dụng
các thành tựu khoa học - kỹ thuật mới vào sản xuất.
Năm 1992 - 1993 Công ty hợp tác với Công ty P.D G của Thái Lan mở
thêm dây truyền sản xuất giầy dép nữ thời trang xuất khẩu và tuyển thêm 250
lao động ngoài xã hội vào làm việc.
Năm 1994, công ty ký với công ty Chiakmings, Đài Loan để mở thêm dây
truyền thứ 3 sản xuất giầy cao cấp xuất khẩu. Công ty tuyển thêm 350 lao động
mới ngoài xã hội vào làm việc. Doanh thu mă, 1994 đạt 20 tỷ, bằng 135% năm
1993.
Năm 1995, công ty lại ký với công ty Ase của Hàn Quốc với giá trị đầu t 7
tỷ đồng.
Công ty thờng xuyên cải tiến sản phẩm hạ giá sản phẩm. Đến nay sản
phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều quốc gia khác nhau với hơn 80% là xuất
khẩu.
Tháng 10/1994, Công ty đợc Nhà nớc tặng thởng Huân Chơng lao động
hạng 3, năm 1995 là đơn vị quản lý giỏi xuất sắc của Sở công nghiệp Hà Nội.

Nhà nớc.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của Nhà nớc trong quá trình sản xuất
- kinh doanh và đờng lối của Đảng, sản xuất - kinh doanh trong ngành nghề cho
phép. Nghiêm chỉnh thực hiện chế độ bảo vệ lao động và ô nhiễm môi trờng...
3. Mạng lới kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty Giầy Thụy
Khuê.
Địa chỉ của công ty đặt ở 2 nơi - Văn phòng giao dịch ở số152 phố Thụy
Khuê - Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội.
- Cơ sở sản xuất tại tại xã Phú Diễn - Huyện Từ Liêm - Hà Nội.
Hiện nay tổng số lao động của công ty đã lên tới 2100 cán bộ công nhân
viên công ty đã cải tạo và xây dựng trên 20.000m
2
đất với 7 dây truyền sản xuất
hoàn chỉnh, khép kín bằng thiết bị hiện đại, sản lợng 3,5 - 4 triệu đôi/năm. Sản
phẩm xuất khẩu trên 20 nớc trên thế giới, với tỷ trọng xuất khẩu 80 - 90 %
doanh thu sản xuất kinh doanh phát triển với tốc độ tăng trởng cao, năm sau cao
hơn năm trớc.
Bên cạnh đó công ty còn chú trọng đến nguồn nhân lực của mình vì công
ty đã xác định: lao động là yếu tố hàng đầu của quá trình sản xuất kinh doanh,
nếu đảm bảo đợc số lợng và chất lợng lao động sẽ mang lại hiệu quả cao trong
24

hoạt động sản xuất kinh doanh vì nó ảnh hởng trực tiếp đến năng suất lao động
hiệu quả sử dụng máy móc của công ty. Do đó mấy năm qua lực lợng lao động
của công ty đã không ngừng lớn mạnh cả về số lợng và chất lợng.
Hiện nay tổng số lao động của công ty là 2100 ngời tăng so với những
năm đầu thành lập là 1550 ngời, trong đó có 85% lực lợng lao động trẻ khoẻ có
kiến thức văn hoá, có khả năng tiếp thu công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại.
Trong những năm gần đây công ty không ngừng nâng cao và cải thiện điều
kiện làm việc. Đối với các phòng nghiệp vụ, nhân viên phải làm việc trong điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status