Lời nói đầu
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời và phát triển gắn liền với sự phát
triển của nền kinh tế thị trờng. Với tính tự chủ và sáng tạo của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đã nhanh chóng thích nghi với các biến động của nền kinh tế
thị trờng và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh
tế.
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là thực sự cần
thiết và phù hợp với qui luật phát triển ở nớc ta trong giai đoạn kinh tế mới. Sự
phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không hề làm suy yếu các
doanh nghiệp quốc doanh mà nó còn có tác dụng ngợc lại thúc đẩy các doanh
nghiệp quốc doanh phát triển mạnh mẽ hơn, bù đắp những lổ hổng mà doanh
nghiệp quốc doanh cha có khả năng cáng đáng hết.
Trong bối cảnh đổi mới chung của đất nớc. Ngân hàng thơng mại với vai trò
là một trung gian tài chính quan trọng của toàn xã hội đang từng ngày, từng giờ
đổi mới hoạt động của mình, hoà nhập với cơ chế mới, mở rộng cho vay với tất
cả các thành phần kinh tế. Đó không chỉ là vấn đề thực thi đờng lối chính sách
mà còn là phơng hớng phát triển của các Ngân hàng thơng mại trong điều kiện
hiện nay. Trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,1ngành Ngân hàng đã có một vai trò hết sức quan trọng và cần thiết trong mối t-
ơng quan giữa giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và Ngân hàng. Sự phát
triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần quan trọng trong việc
tăng trởng tín dụng, ngợc lại tín dụng Ngân hàng có tác động tích cực tháo gỡ
khó khăn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, giúp cho hoạt động của các
1.1 Tín dụng Ngân hàng thơng mại .3
1.1.1
Ngân hàng thơng mại.
1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thơng mại (NHTM)
Khi nghiên cứu về NHTM các nhà kinh tế học có nhiều quan điểm khác
nhau về NHTM. Ngời thì cho rằng "NHTM là tổ chức nhận tiền gửi để cho vay".
Ngời khác lại nhận định rằng "NHTM là trung gian tài chính có giấy phép của
chính phủ để vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể
dùng séc". Sở dĩ có tình trạng trên là do hoạt động của NHTM rất đa dạng, các
thao tác trong từng nghiệp vụ lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự
thay đổi chung của nền kinh tế. ở nớc ta Ngân hàng đầu tiên đợc thành lập đó là
Ngân hàng Đông Dơng của Pháp vào giữa thế kỉ XIX để phục vụ cho giới thơng
gia Pháp trên thị trờng Việt Nam. Sau đó thêm các Ngân hàng nớc ngoài của
Trung Quốc, Anh....
Đến năm 1990 pháp lệnh Ngân hàng nhà nớc ta ra đời đã chính thức phân
chia hệ thống Ngân hàng thành hai cấp là Ngân hàng Trung Ương và NHTM.
Từ đó khái niệm NHTM hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực đã ra đời.
Theo luật các tổ chức tín dụng đợc Quốc Hội nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-12-1997 thì "Tổ chức tín dụng là một tổ
chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán chi trả
a.
Hoạt động huy động vốn
.
Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện của Ngân hàng. Huy động các
nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động là lẽ sống quan trọng nhất của
các NHTM.
Hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động nguyên thuỷ của Ngân hàng. Nhận
tiền gửi của khách hàng vẫn là nguồn đầu vào chủ yếu. Có rất nhiêù yếu tố ảnh
hởng đến quy mô tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng nh : chính sách lãi
suất, phơng thức trả lãi của Ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội trong từng thời
kì, tình hình thu nhập và chi tiêu ngân sách, phong tục tập quán thói quen từng
vùng, lòng tin dân chúng đối với Ngân hàng và Chính Phủ, địa điểm Ngân hàng,
các dịch vụ Ngân hàng cung cấp. Ngân hàng cần phải nắm vững các yếu tố đó
để có thể điều chỉnh lợng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu của mình.
Hoạt động huy động huy động vốn đợc thể hiện dới các hình thức sau:
Nếu phân theo kì hạn bao gồm:
+ Tiền gửi không kì hạn: Bao gồm các loại tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết
kiệm không kì hạn của các tổ chức kinh tế và dân c. Đó là khoản tiền gửi mà ng-
ời gửi có thể rút bất cứ lúc nào.
+ Tiền gửi có kì hạn: Đây là loại tiền gửi mà có sự thoả thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và Ngân hàng. Nh vậy về nguyên tắc khách hàng gửi tiền6chỉ đợc rút khi đến hạn thoả thuận. Lãi suất của loại tiền gửi này thờng cao hơn
so với tiền gửi không kì hạn.
lãi suất, đa dạng hoá các hình thức huy động kết hợp với các chính sách
marketing để thu hút khách hàng.
b.
Hoạt động sử dụng vốn
Khi đã có đợc đầu vào thì các Ngân hàng phải tìm đợc đầu ra cho những
đồng vốn huy động đợc. Hầu hết nguồn vốn của ngân hàng đợc sử dụng vào các
hoạt động sau:
+ Hoạt động ngân quỹ
Đây là hoạt động nhằm đẩm bảo khả năng thanh toán thờng xuyên của
Ngân hàng cho khách hàng. Ngân hàng phải thờng xuyên xác định số tiền đang
nằm trong két, số tiền giữ lại tại Ngân hàng Trung ơng và các NHTM khác và
tiền đang trong quá trình thu. Đây là các tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất
thấp nhng các NHTM buộc phải giữ lại vì hai lý do:8Thứ nhất luật Ngân hàng quy định, và để đợc phép hoạt động nó phải tuân
theo luật.
Thứ hai bản thân Ngân hàng cũng thấy rõ sự cần thiết phải giữ lại một ít
tiền mặt mà không nen cho vay hết dù cho nó có thừa khả năng làm điều đó.
Việc giữ lại tiền mặt là để đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, và vì
thế dự trữ tiền mặt trong tài sản có còn đợc gọi là khoản đầu t cho sự an toàn.
+ Hoạt động đầu t:
Đầu t vào chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong hoạt động đầu t
của NHTM tại các nớc phát triển.
ở
nớc ta thị trờng chứng khoán mới ra đời nên
Hoạt động trung gian.
Đây là hoạt động mà Ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng.
Thông qua đó Ngân hàng tăng thêm thu nhập và nâng cao uy tín đối với khách
hàng.
Hoạt động của Ngân hàng bao gồm:
+ Dịch vụ thanh toán hộ.10Theo yêu cầu của khách hàng, Ngân hàng sẽ cung cáp cho khách hàng
các phơng tiện thanh toán nh séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, th tín dụng nhằm
thực hiện thanh toán cho khách hàng, tức là nhận hộ tiền cho ngời bán, trả hộ
tiền cho ngời mua thông qua hình thức kế toán trên chứng từ.
+ Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán.
Do có uy tín nên Ngân hàng thờng tham gia bảo lãmh phát hành chứng
khoán cho các công ty cổ phần muốn huy động vốn, t vấn đầu t chứng khoán
cho khách hàng.
+ Dịch vụ mua bán ngoại tệ.
NHTM tham gia trên thị trờng ngoại hối để đáp ứng nhu cầu chi trả thanh
toán ngoại tệ của khách hàng.
Ngoài ra Ngân hàng còn có các dịch vụ nh bảo quản tài sản quỹ, cho thuê
két sắt.
ở
nớc ta hoạt động trung gian vẫn cha phát triển mạnh vì nền kinh tế
còn phát triển chậm.
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng thơng mại
12 b. Cho vay.
+ Căn cứ vào kí hạn.
- Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có kì hạn tối đa đến 1 năm, đợc
xác định phù hợp với chu kì sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách
hàng.
- Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có kì hạn từ 1đến 5 năm, đợc
xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu t, khả năng trả nợ của
khách hàng và tính chấy nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.
- Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có kì hạn từ 5 năm trở lên nhng
không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép
thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu
t phục vụ đời sống.
+ Căn cứ vào tính chất đảm bảo vốn vay.
- Cho vay có bảo đảm: Là việc cho vay có cầm giữ thế chấp các vật thế
chấp cụ thể nh: Bất động sản, biên nhận kí gửi hàng hoá, trang thiết bị, nhà máy,
các khoản phải thu, các cổ phiếu, trái phiếu, vận đơn có thể chuyển hoá đợc và
những tài sản khác có thể bán đợc. Cho vay có bảo đảm nhằm mục đích hạn chế
rủi ro mất mát cho NHTM trong trờng hợp ngời vay không muốn hoặc không trả
đợc nợ.13- Cho vay không có bảo đảm: Khác với cho vay không có bảo đảm ở chổ
đầu t cho dự án.
- Cho vay theo phơng thức khác: Ngân hàng sẽ xem xét sao cho phù hợp
với đặc điểm trong từng thời kì và không trái với qui định của pháp luật.
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng món vay.
- Cho vay tiêu dùng: Là loại hình cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng
nhằm giúp ngời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trớc khi họ có khả
năng chi trả, tạo điều kiện để họ hởng mức sống cao hơn. Kì hạn của những
khoản cho vay này thờng dới 5 năm.
- Cho vay kinh doanh: Là loại hình cho vay để tài trợ cho mục đích kinh
doanh nh: Bổ sung vốn lu động, mua sắm máy móc thiết bị kì hạn của những
khoản cho vay này thờng dới 1 năm đến hàng chục năm.
+ Căn cứ theo ngành nghề gồm cho vay nông nghiệp, công nghiệp, th-
ơng nghiệp.
+ Căn cứ theo đối tợng vay gồm cho vay cá nhân, tổ chức, chính phủ15 + Căn cứ theo đối tợng vay là các doanh nghiệp gồm cho vay doanh nghiệp
quốc doanh và ngoài quốc doanh.
c. Cho thuê tài sản.
Cho thuê của Ngân hàng thờng là hình thức tín dụng trung và dài hạn.
Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho Ngân hàng
phải thu gần đủ ( hoặc thu đủ ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi ( thời hạn
khoảng 80-90% đời sống kinh tế của taì sản ). Hết hạn thuê, khách hàng có thể
mua lại tài sản đó. Cho thuê giống một khoản cho vay thông thờng ở chổ Ngân
hàng phải xuất tiền với kì vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định,
khách hàng phải trả gốc cả lãi dới hình thức tiền thuê hàng kì. Ngân hàng cũng
phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả không trả
nớc ta đã duy trì quá lâu cơ chế độc quyền của các doanh nghiệp quốc doanh và
cho đến nay cơ chế này vẫn còn đang trong quá trình cải tiến, nên các doanh17nghiệp quốc doanh hầu nh đã thu hút, thâu tóm đợc những nguồn vốn quan
trọng trong xã hội. Các nghiên cứu cho thấy ngoài các độc quyền tự nhiên nh:
điện, nớc thì độc quyền còn có hầu hết trong các ngành kinh tế và nhà độc
quyền chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh. Một hậu quả của sự độc quyền
là không sử dụng hết công suất, hàng tồn kho của các doanh nghiệp này lớn.
Trong thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, các doanh nghiệp quốc doanh luôn
tồn tại mức hàng tồn kho dự tính. Công suất không sử dụng và hàng tồn kho dự
tính là công cụ cạnh tranh trực tiếp sẵn sàng trấn áp, ngăn cản việc nhập hàng
của các hãng khác.
+ Trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu.
Điểm xuất phát của nớc ta là một nền nông nghiệp lạc hậu, trình độ của
lực lợng sản xuất thấp. Kinh nghiệm để phát triển nền kinh tế của một quốc gia
là phải chú trọng vào phát triển công nghệ sản xuất. Nhận thức đIều đó, bắt đầu
từ Đại hội Đảng lần thứ III, Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra chủ trơng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên, trong một thời gian dài từ Đại hội Đảng
lần thứ III đến lần thứ VI, nớc ta đã thực hiện sai lầm mô hình này. Chỉ bắt đầu
từ đại hội Đảng VI, nớc ta mới đề ra mô hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đúng đắn và phù hợp với nền kinh tế nớc ta. Mô hình này bắt đầu từ việc công
nghiệp và hiẹn đại hoá nông nghiệp nông thôn. Công nghệ sản xuất của các
doanh nghiệp Việt nam đã phát triển một cách đáng kể, điều đó đã làm tăng khả18
thi, trong khi thói quen sử dụng các dịch vụ t vấn mang tính chuyên nghiệp cha
hình thành. Trong các doanh nghiệp t nhân đa số quản trị bằng kinh nghiệm,
theo cách suy nghĩ, hiểu biết riêng mình. Nhiều ngời trong số họ cha qua dào
tạo trờng lớp nên ít am hiểu về pháp luật, yếu kém về năng lực và kiến thức.
Sổ sách kế toán của các DNNQD thờng quá đơn giản, không cập nhật,
không đầy đủ và không chính xác. Do vậy, việc đánh giá các doanh nghiệp (để
Ngân hàng quyết định cho vay) thực sự là khó khăn đối với các Ngân hàng, nhất
là hiện nay sổ sách của các doanh nghiệp đều cha đợc kiểm toán.
Hầu hết chất lợng lao động trong các DNNQD là rất thấp, trình độ công
nghệ lạc hậu. Hơn nữa, các chủ doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trờng chỉ có
thể sử dụng lao động rẻ mạt giữa chủ và nhân viên không có điều kiện để tự đào
tạo lực lợng lao động của mình
+ Khả năng tài chính nhỏ bé, nghèo nàn.
Đây là tình trạng phổ biến đối với tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam nói
chung và đối với DNNQD nói riêng. Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh
tế chậm phát triển, không có sự năng động do đó khả năng tích luỹ vốn nội bộ
rất thấp. Ngời dân vẫn cha có thói quen để đồng tiền nhàn rỗi của mình có thể20sinh lời bằng cách đầu t vào sản xuất kinh doanh, mà chỉ gửi tiền tiết kiệm vào
Ngân hàng hoặc giữ tiền ở nhà. Môi trờng kinh tế ở Việt Nam vẫn còn nhiều
nhân tố bất ổn định, môi trờng pháp lí luôn thay đổi và đa dạng trong quá trình
hoàn thiện và đồng bộ hoá do đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiềm
ẩn trong nó rất nhiều rủi ro. Chính vì thế, chỉ có những nhà đầu t trong kinh
doanh mới dám bỏ vốn ra để đầu t, mà số vốn nhà đầu t này ở Viêt Nam lại
không nhiều. Hơn nữa để giảm thiểu rủi ro bằng cách chia sẻ những rủi ro này
cho những ngời khác, mức vốn ban đầu của DNNQD là rất ít, trong quá trình
ờng các DNNQD, số lợng nhân viên ít và các nhân viên này phải đảm nhận công
việc theo kiểu đa năng, phần lớn chủ DNNQD vừa đảm nhiệm vai trò quản trị
điều hành, vừa đảm nhiệm vai trò lãnh đạo kinh doanh ( tìm kiếm và quyết định
cơ hội đầu t ). Do vậy cơ cấu tổ chức trong DNNQD đơn giản, gọn nhẹ, mang
tính linh hoạt, dễ thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới.
Các doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn thờng có một chủ
và một số ngời giúp việc làm việc không thờng xuyên, giúp cho chi phí rất thấp.22Chi phí gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng.
b- Vị trí của các DNNQD trong nền kinh tế Việt Nam.
Bắt đầu từ đại hội VI, Đảng và Nhà Nớc ta đã đề ra chiến lợc phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế thuộc khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh đợc chú trọng. Trong quá trình đổi mới, các
DNNQD ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình:
Nớc ta là một nớc kém phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trình
độ lực lợng sản xuất của nớc ta còn thấp, trong khi tiềm năng phát triển còn lớn
song khả năng khai thác còn hạn chế, sự độc chiếm của sở hữu Nhà nớc và tập
thể không cho phép khai thác những tiềm năng lớn đó của đất nớc, do đó vẫn
còn một lợng vốn lớn còn nằm trong dân. Chỉ có con đờng phát triển các
DNNQD mới có thể khai thác đợc chúng. Các DNNQD có sức lan toả rất lớn
trong nền kinh tế, lan toả vào mọi nghành nghề, mọi địa phơng với quy mô lớn
nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng của chủ đầu t.
Các chủ đầu t nớc ngoài khi muốn đầu t vào một số ngành nghề của một quốc
gia nào đó, họ phải xem xét môi trờng kinh tế của quốc gia đó, xem xét mức độ
rủi ro của cơ hội đầu t. Các DNNQD của quốc gia đó, xem xét mức độ rủi ro của
Sự phát triển của các DNNQD đã thúc đẩy và tăng cờng mối quan hệ kinh
tế trong nớc, đồng thời tạo ra sự ghanh đua giữa các doanh nghiệp, buộc
các doanh nghiệp nói chung luôn phải đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và
phát triển, các DNNQD ( đặc biệt là các doanh nghiệp t nhân) đang là đối tợng
chú ý và có sự u tiên đặc biệt trong việc đâu t phát triển của Ngân hàng thế giới.
Các nhà đầu t nớc ngoài, các đối tác nớc ngoài cũng muốn có quan hệ làm ăn
với các DNNQD do thủ tục thực hiện đơn giản, ít chịu sự ràng buộc.
Đảng ta chủ trơng thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá mà trọng tâm
là công nghiệp hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. DNNQD với mạng lới
rộng khắp và đã có truyền thống gắn bó với nông nghiệp và kinh tế- xã hội nông
thôn sẽ là động lực phát triển nong nghiệp. Sẽ hình thành những tụ điểm công
nghiệp, cụm công nghiệp để tác động chuyển hoá sản xuất nông nghiệp theo h-
ớng công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Hệ thống công nghiệp chế biến và sản xuất
đồ gia dụng sẽ đợc phát triển, các làmg nghề sẽ đợc hiện đại hoá.
Thu nhập của các DNNQD ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản
phẩm xã hội kể cả số tong đối và số tuyệt đối. Sự phát triển của các làng nghề
truyền thống, các ngành sản xuất, nông nghiệp chế biến, các sản phẩm nông
nghiệp đã đóng góp một phần đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu, góp
phần làm tăng thu nhập của ngời dân trong xã hội. Nguồn ngân sách của Nhà n-
ớc đã đựơc tăng lên đáng kể do nguồn thu thuế của các DNNQD.25