Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với làng nghề tại Ngân hàng Công thương Hà Tây - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Làng nghề là một nhân tố đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử dân tộc Việt
Nam, là nơi chứa đựng và gìn giữ những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Trong
những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước rất
quan tâm đến việc phục hồi và phát triển các làng nghề. Sự phát triển của các
làng nghề có ý nghĩa hết sức to lớn và được xem là giải pháp cơ bản để tiến
hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Tỉnh Hà Tây từ lâu đã được coi là “đất trăm nghề ” và ngày nay số làng
nghề trong tỉnh vẫn không ngừng tăng lên, đưa tỉnh trở thành một trong những
địa phương có nhiều làng nghề nhất trong cả nước. Toàn tỉnh có 972 làng có
nghề, trong đó có 120 làng được công nhận đạt tiêu chuẩn. Nhiều làng nghề phát
triển rất mạnh, xuất hiện nhu cầu vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn có những làng nghề đang dần bị mai một, cần vốn để
khôi phục lại. Do đó, có thể nói đây là một thị trường đầy tiềm năng để các tổ
chức tín dụng trên địa bàn tỉnh có thể mở rộng hoạt động tín dụng.
Qua thời gian thực tập tốt nghiệp tại phòng tín dụng Ngân hàng Công
thương Hà Tây, được tìm hiểu về thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng
đối với làng nghề và đặc điểm của các làng nghề trong tỉnh, em đã hoàn thành
luận văn của mình với đề tài: “ Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với
làng nghề tại Ngân hàng Công thương Hà Tây” và hy vọng luận văn sẽ góp
phần tìm ra giải pháp để Ngân hàng mở rộng nghiệp vụ cho vay, đáp ứng nhu
cầu về vốn sản xuất kinh doanh - hiện đang là vấn đề bức xúc với các làng nghề
của tỉnh. Đồng thời em cũng mạnh dạn nêu lên một số kiến nghị nhằm tạo thuận
lợi cho việc mở rộng tín dụng của Ngân hàng đối với các làng nghề để góp phần
thúc đẩy sự phát triển của làng nghề ở Hà Tây nói riêng và trong cả nước nói
chung.
Luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Tín dụng Ngân hàng thương mại và quá trình phát triển làng
nghề.


hành chính quốc gia của một nước. Sự hình thành của làng thường bắt đầu từ
việc một bộ phận cư dân của một tộc người hay một dòng họ nào đó đến chiếm
lĩnh và định cư đầu tiên trên một vùng đất. Ban đầu chỉ có một dòng họ, sau đó
có thêm những dòng họ khác đến cư trú và tạo thành làng với đầy đủ các đặc
điểm riêng có của nó. Giữa các làng thường có ranh giới rõ ràng và người dân
trong một làng có rất nhiều những mối quan hệ kinh tế - nhân văn phong phú,
phức tạp như: quan hệ huyết thống, quan hệ láng giềng, nghề nghiệp... Những
mối quan hệ này đã gắn kết một cách chặt chẽ những người dân trong làng với
nhau và nó chi phối mạnh mẽ những hoạt động sản xuất diễn ra trong làng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sự hình thành một nghề ở làng theo quy luật là một hộ gia đình biết nghề
sẽ truyền cho con cháu, họ hàng trong dòng tộc theo phương thức truyền nghề
trực tiếp. Hoạt động này nếu mang lại lợi ích kinh tế cao thì dần dần các hộ khác
trong làng sẽ tìm cách học hỏi thông qua các mối quan hệ và khi số hộ trong
làng làm nghề ngày một nhiều thì nó sẽ trở thành mối quan tâm chung của cả
làng. Một đặc trưng nổi bật của các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp là nó được
kết tinh từ sự tài hoa, khéo léo và tâm hồn của người thợ, đồng thời nó mang
trong mình những bí quyết riêng để tạo nên sự khác biệt, đặc trưng riêng có khác
hẳn những sản phẩm cùng loại. Do đó, để có thể gìn giữ và phát triển nghề của
làng thì vấn đề sống còn là phải bảo vệ được bí quyết nghề và từ đó những tục lệ
khắt khe về việc cấm truyền nghề đi nơi khác xuất hiện.
Như vậy, có thể quan niệm làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc
một số nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và tồn tại độc lập. Về
mặt định lượng có thể hiểu làng nghề là làng ở nông thôn có từ 35% - 40% số hộ
trở lên chuyên làm một hoặc một số nghề thủ công nghiệp mà các hộ có thể sinh
sống chính bằng nguồn thu nhập từ nghề đó và giá trị sản lượng của nghề chiếm
trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương. Vậy làng nghề là làng ở nông
thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và
thu nhập so với nghề nông.

Người ta thường phân loại làng nghề theo những tiêu thức sau:
Căn cứ vào số nghề của một làng, làng nghề được chia thành làng một
nghề và làng nhiều nghề.
- Làng một nghề là những làng ngoài nghề nông ra chỉ làm thêm một nghề
thủ công duy nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối như: Vạn Phúc, Bát Tràng...
- Làng nhiều nghề là những làng ngoài nghề nông ra còn làm thêm một số
nghề thủ công khác như Đồng Kỵ, La Phù...
Căn cứ vào thời gian hình thành, làng nghề được chia thành làng nghề
truyền thống và làng nghề mới.
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện lâu đời trong lịch
sử và tồn tại đến ngày nay.
- Làng nghề mới là những làng mới xuất hiện trong thời gian gần đây do
nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá đó xuất hiện.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Sự cần thiết của việc phát triển các làng nghề
Cùng với việc xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, nước ta đang từng bước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá, trong đó đặc biệt chú ý đến khu vực nông thôn. Trải qua quá trình
tồn tại và phát triển, các làng nghề đã chứng tỏ được vai trò vô cùng quan trọng
của mình trong việc thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam. Như
vậy phát triển các làng nghề là một trong những chiến lược quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn vì không chỉ
mang lại lợi ích kinh tế, nó còn góp phần ổn định đời sống chính trị - xã hội cho
bà con nông dân.
* Về mặt kinh tế
Làng nghề giúp phát triển kinh tế của địa phương, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế - cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, góp phần xây dựng nông thôn mới.
Thực tế cho thấy việc phát triển các ngành nghề đã tạo ra một nguồn thu

Các làng nghề phát triển góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho lao
động nông thôn đang dư thừa nhiều, qua đó làm giảm tỷ lệ thất nghệp, giảm tốc
độ di dân lên thành phố, thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” và hạn chế
các tệ nạn xã hội.
Các hộ làm nghề trước hết tạo công ăn việc làm cho cho các thành viên
trong gia đình. Các cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm thường xuyên cho bình
quân khoảng 30 lao động, ngoài ra còn thu hút thêm những lao động nhàn rỗi
trong nông thôn. Các làng nghề thường sử dụng tối thiểu khoảng 50% số lao
động trong làng làm nghề thường xuyên và khoảng 20% lao động không thường
xuyên. Những làng nghề có quy mô sản xuất lớn còn thu hút cả lao động ở các
làng lân cận, hình thành nên chợ lao động. Ngoài ra làng nghề phát triển còn tạo
ra việc làm cho đội ngũ lao động làm dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản phẩm của
mình như: khai thác, vận chuyển, cung cấp nguyên vật liệu, lưu thông, tiêu thụ
sản phẩm...
Nhờ tạo việc làm, tăng thu nhập, giải quyết thời gian nông nhàn, các làng
nghề được coi là động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn
theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người lao động,

Website: Email : Tel : 0918.775.368
đồng thời góp phần đáng kể trong việc hạn chế phát sinh các tệ nạn xã hội ở
nông thôn.
* Về mặt chính trị
Nhà nước chủ trương phát triển các làng nghề sẽ cải thiện được đời sống
của người lao động, làm cho họ tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước. Nhờ đó sẽ ổn định được tình hình chính trị ở nông thôn.
Làng nghề phát triển cũng góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế, qua đó củng cố
tiềm lực an ninh quốc phòng của địa phương và của cả nước.
Ngoài ra, các sản phẩm mang tính truyền thống của làng nghề cũng góp
phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, bảo tồn tinh hoa nghề
nghiệp của cha ông. Các sản phẩm này khi đến với cộng đồng quốc tế sẽ giúp

Trong hoạt động thực tế của các ngân hàng thương mại thì tỷ trọng của
các khoản tín dụng ngắn hạn là lớn nhất.
2. Quy trình tín dụng của ngân hàng
Quy trình tín dụng của ngân hàng chính là quy trình nghiệp vụ cho vay,
một trong những nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng thương mại. Theo quy
định của Ngân hàng Công thương Việt Nam thì quy trình nghiệp vụ cho vay là
bản hướng dẫn về trình tự tổ chức thực hiện các nội dung cơ bản của kỹ thuật
nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, từ khi phát sinh đến khi kết thúc mà các cán
bộ tín dụng và cán bộ lãnh đạo ngân hàng có liên quan phải thực hiện.
Để giúp cán bộ tín dụng thực hiện được một khoản cho vay có chất lượng
và hiệu quả, các ngân hàng thường đưa ra một quy trình tín dụng chặt chẽ, thích
hợp với một nhóm đối tượng nhất định hoặc chung cho toàn bộ khách hàng vay
vốn. Quy trình tín dụng thường bao gồm các bước như sau:
- Bước 1: Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và
làm hồ sơ vay vốn, bao gồm: giấy đề nghị vay vốn, các báo cáo tài chính thời
điểm gần nhất.
- Bước 2: Điều tra, tổng hợp, thu thập thông tin về khách hàng và phương
án vay vốn: phỏng vấn khách hàng, tổng hợp những thông tin từ các ngân hàng
có quan hệ với khách hàng, các tổ chức có liên quan, thông tin từ thị trường và
tại nơi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Bước 3: Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn: năng

Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực pháp lý, uy tín, năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay vốn và
khả năng trả nợ, đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
- Bước 4: Trưởng phòng tín dụng căn cứ vào tờ trình thẩm định, đề nghị
duyệt cho vay của cán bộ tín dụng và hồ sơ vay vốn của khách hàng để ra quyết
định đối với khách hàng.
- Bước 5: Cán bộ tín dụng hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và chuyển hồ sơ sang
bộ phận kế toán.

lao động.
* Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của làng
nghề
Các đơn vị sản xuất kinh doanh ở làng nghề khi vay vốn ngân hàng đều
phải trả lãi cho đồng vốn mà họ được sử dụng. Do đó họ buộc phải sử dụng
đồng vốn một cách có hiệu quả và làm ăn có lãi. Họ phải tính toán sao cho mỗi
đồng vốn bỏ ra phải bù đắp được chi phí sản xuất, thuế, lãi ngân hàng đồng thời
phải thu được lãi. Như vậy, thông qua việc cung cấp vốn, ngân hàng đã gián tiếp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các làng nghề, buộc họ phải chú ý đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm...
Nhờ có nguồn vốn vay ngân hàng, các hộ và cơ sở ở làng nghề có thể mở
rộng quy mô sản xuất, qua đó sẽ tiết kiệm được chi phí cho một đơn vị sản
phẩm, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm của làng nghề. Thêm vào đó, khi
tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, các chủ hộ và cơ sở sản xuất ở làng nghề
phải thực hiện hạch toán kinh tế đầy đủ để chứng minh việc sử dụng vốn đúng
mục đích. Việc làm này gián tiếp tăng trình độ quản lý sản xuất kinh doanh cho
các chủ hộ và cơ sở và đồng thời cũng góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở làng nghề.
Bên cạnh việc cung cấp nguồn tín dụng cho làng nghề, các cán bộ tín
dụng của ngân hàng còn đóng vai trò là những người tư vấn, giúp cho các dự án
sản xuất kinh doanh ở làng nghề hoàn thiện hơn, mang lại lợi ích kinh tế cao hơn
cho các hộ và cơ sở sản xuất. Ngoài ra, đối với những đơn vị có hoạt động xuất
khẩu, các cán bộ tín dụng còn có thể cung cấp cho họ những thông tin về thị
trường quốc tế, những thông tin luật pháp cũng như các hình thức thanh toán...

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của các làng nghề. Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng của
các làng nghề còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả các

khoản vay càng lớn thì mức lãi suất đưa ra càng cao. Ngoài ra lãi suất còn phụ
thuộc rất lớn vào chi phí vốn và chi phí quản lý khác của ngân hàng.
Do trên thị trường có rất nhiều tổ chức tín dụng có thể cho vay nên khách
hàng thường chọn vay vốn ở nơi có lãi suất thấp nhất. Điều này ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải
đưa ra được một mức lãi suất phù hợp, sao cho vừa đảm bảo được lợi nhuận của
ngân hàng, vừa phù hợp với lợi ích của khách hàng. Đặc biệt là đối với khách
hàng ở các làng nghề, ngân hàng nên có một chính sách lãi suất ưu đãi để
khuyến khích họ vay vốn.
* Bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực
Mạng lưới chi nhánh, địa bàn hoạt động của ngân hàng phải phù hợp với
hoạt động của làng nghề, phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của làng nghề
thì mới mở rộng được tín dụng đối với các hộ và cơ sở sản xuất kinh doanh. Để
có thể thu hút được khách hàng ở các làng nghề thì ngân hàng cần có một mạng
lưới chi nhánh rộng khắp, tiếp cận được từng làng nghề. Đây là một yếu tố quan
trọng vì thực tế ở các làng nghề cho thấy nhiều hộ, cơ sở có nhu cầu vay vốn
nhưng do ở địa bàn không có phòng giao dịch của ngân hàng nên họ lại tìm đến
các quỹ tín dụng của xã mặc dù lãi suất vay ở các quỹ tín dụng này cao hơn
ngân hàng. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng cũng cần phải
có thái độ lịch sự, chu đáo, tôn trọng khách hàng, nhất là các khách hàng là nông
dân ở làng nghề đến vay vốn. Ngân hàng cần phải chú trọng đến vấn đề này vì
chỉ cần một khách hàng ở làng nghề có ấn tượng tốt về ngân hàng thì chắc chắn
họ sẽ quảng bá hình ảnh về ngân hàng và các khách hàng khác cũng sẽ tìm đến
ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn và ngược lại. Ngoài ra ngân hàng cần phải cử
cán bộ tín dụng đến với các làng nghề để giúp cho người dân hiểu thêm về quy
trình, điều kiện vay vốn vì trên thực tế vẫn có nhiều người cho rằng vay vốn
ngân hàng thì thủ tục rất phiền hà, thậm chí còn phải có cả xác nhận của chính
quyền xã về phương án sản xuất kinh doanh của họ. Do vậy, nếu có chính sách
mở rộng tín dụng đối với làng nghề thì ngân hàng cần phải xem xét đến vấn đề


nghề trong từng giai đoạn cụ thể, bao gồm:

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhu cầu tín dụng ngắn hạn: Chu kỳ sản xuất kinh doanh của làng nghề
thường không dài như các hoạt động xây dựng cơ bản, chỉ trong một vài ngày
hay một vài tháng là đã cho ra sản phẩm, tức là chỉ trong một thời gian ngắn là
đã thu hồi được vốn và có lãi. Do đó, các hộ và cơ sở thường vay ngắn hạn trong
một vài tháng (thường là 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng) để tài trợ cho các nhu cầu
về nguyên vật liệu, chi phí hoạt động như điện, nước, nhiên liệu, hàng dự trữ
cho mùa sản xuất sau, mua các máy móc đơn giản...
- Nhu cầu tín dụng trung và dài hạn: thường là các khoản vay để mua sắm
tài sản cố định như máy móc, trang thiết bị, bất động sản... thường có quy mô
lớn so với nguồn vốn tự có của khách hàng. Các nguồn thu trong một hay một
vài chu kỳ thường chưa đủ để thanh toán nợ gốc cho ngân hàng nên xuất hiện
nhu cầu tín dụng trung hạn và dài hạn.
Ở các làng nghề, nhu cầu tín dụng của các cơ sở thường lớn hơn so với hộ
và ngân hàng cũng dễ dàng chấp nhận các khoản vay với quy mô lớn của các cơ
sở sản xuất hơn so với hộ vì các cơ sở sản xuất có tư cách pháp nhân, trình độ tổ
chức và quản lý kinh doanh cao hơn nên họ có thể ký kết được các hợp đồng về
nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm với quy mô lớn hơn. Mặt khác ngân hàng có
thể kiểm soát hoạt động kinh doanh của các cơ sở dễ dàng hơn.
* Khả năng tài chính
Ngân hàng thường quyết định cho vay với những hộ và cơ sở chứng minh
được khả năng tài chính lành mạnh và phát triển. Thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ
tài sản lưu động / tài sản cố định, bất động sản tính theo giá thị trường, các
khoản phải thu, dự phòng phải thu, quan hệ giữa tổng tài sản, tổng nguồn vốn
với vốn tự có... cán bộ tín dụng sẽ xác định được tình hình tài chính hiện tại của
khách hàng và qua đó sẽ dự đoán được xu hướng tài chính trong tương lai.
* Khả năng trả nợ
Khả năng trả nợ là yếu tố quan trọng nhất cho biết mức an toàn và thành

4.3. Những nhân tố khác
* Chính sách của Đảng và Nhà nước và chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của địa phương
Chính sách tín dụng của các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất
lớn bởi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và chính sách tài chính

Website: Email : Tel : 0918.775.368
quốc gia áp dụng trong từng thời kỳ nhất định. Khi Đảng và Nhà nước có chủ
trương phát triển các làng nghề thì sẽ có những đường lối, chính sách cụ thể để
hỗ trợ cho mục tiêu đó. Một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của
bất cứ ngành nghề nào là vốn mà các ngân hàng thương mại chính là kênh phân
phối vốn có hiệu quả nhất cho nền kinh tế. Chính vì vậy mà các ngân hàng
thương mại cần phải nắm được một cách nhanh chóng chính sách của Đảng và
Nhà nước đồng thời dự báo được những xu hướng diễn biến trong tương lai để
có các chiến lược kinh doanh phù hợp. Các làng nghề khi đã được đầu tư thì hệ
thống cơ sở hạ tầng, nguyên liệu, thị trường... đều phát triển; đồng thời nó sẽ tác
động trở lại làm các làng nghề phát triển, các làng nghề càng phát triển thì nhu
cầu vốn để dầu tư mới, để mở rộng lại càng lớn.
Thêm vào đó, mỗi địa phương lại có những đặc điểm và điều kiện kinh tế
khác nhau nên các ngân hàng cón phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh
tế của địa phương mình để có biện pháp thích nghi phù hợp. Nếu địa phương
quan tâm đến việc phát triển các làng nghề thì Ngân hàng cũng phải có các
chính sách tín dụng để hỗ trợ chính sách của địa phương. Do đó có thể nói mục
tiêu và biện pháp mở rộng tín dụng đối với làng nghề phải nằm trong quỹ đạo
phát triển chung mà các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương đã vạch
ra.
* Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cũng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến
việc mở rộng tín dụng đối với các làng nghề. Việc các làng nghề được thừa nhận
về mặt pháp lý và tạo khung pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các sản phẩm của

- Huỷ bỏ sự phân biệt giữa các định chế tín dụng ngắn hạn và trung dài
hạn. Các ngân hàng và tập đoàn tài chính đẩy mạnh cung cấp các khoản vay hỗn
hợp (giữa ngắn hạn với trung dài hạn). Nguyên nhân chính là do sự yếu kém
trong việc phối kết hợp giữa các định chế cho vay vốn lưu động và vốn cố định
đã gây khó khăn chủ yếu cho sự phát triển các ngành nghề nhỏ. Các định chế
này không phân biệt được một cách cơ bản các khía cạnh thuộc về cơ cấu,
nguốn vốn, việc quản lý... Kết quả là không có sự liên quan ý nghĩa nào giữa
việc thực hiện các định chế và kết quả của việc kiểm soát, đánh giá.
- Để tạo điều kiện cho tập đoàn tài chính Nhà nước và tập đoàn phát triển

Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghiệp hoạt động, Ấn Độ đã để các cơ quan này độc lập với các chính
quyền bang: giảm vốn của các chính quyền bang xuống còn 50% và tăng tương
ứng tỷ lệ vốn cho các tổ chức trên.
- Dịch vụ mua bán nợ và chiết khấu được thúc đẩy mạnh mẽ hơn để giải
quyết các vấn đề về khả năng thanh toán và vốn lưu động.
- Các ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương đưa ra một danh
mục đã qua đánh giá về việc thực hiện chức năng phục vụ các đơn vị ngành
nghề nhỏ của các chi nhánh “đặc biệt”... Trong nội dung bao gồm cả vị trí, tổ
chức nhân viên và dịch vụ. Các chi nhánh này có thể được chuyển tới vị trí
thuận lợi ngay trong các khu ngành nghề nhỏ tập trung nếu xét thấy cần thiết.
Do các khu ngành nghề nhỏ chỉ tập trung sản xuất các loại sản phẩm nhất
định nên các chi nhánh này có thể mở rộng các dịch vụ phi tài chính như: cung
cấp thông tin, công nghệ, marketing, tư vấn...
- Những đơn vị cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tài chính như các cơ quan
nghiên cứu và phát triển, các nhà cung cấp thông tin, marketing, các nhà tư
vấn... là nhân tố quyết định của các đơn vị ngành nghề nhỏ. Vì vậy, các cơ quan
này đều được nhận tài trợ ưu tiên của các tổ chức tài chính và ngân hàng.
- Các ngân hàng và tổ chức tài chính đã tìm cách mở rộng hoạt động tín
dụng tới khách hàng tiềm năng thuộc khu vực ngành nghề nhỏ bằng cách giới

hàng thương mại và chỉ có 5% là vốn tự có người được trợ giúp.
Như vậy, thông qua việc ban hành một luật riêng, các đơn vị sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ ở Nhật được bảo đảm rất lớn từ phía cơ chế, pháp lý để
hoạt động. Chính phủ Nhật Bản cũng đã xây dựng các chương trình trợ giúp vốn
một cách cụ thể thông qua việc xem xét những bản kế hoạch do người xin trợ
giúp nộp lên. Vốn đầu tư cho các nghề truyền thống này lấy từ hai nguồn, trong
đó nguồn vốn Chính phủ đóng vai trò chủ yếu, các ngân hàng thương mại thực
hiện chức năng là một kênh chuyển vốn đến những đơn vị có nhu cầu.
Kết quả là ở Nhật, những ngành nghề truyền thống đã trưởng thành và
phát triển được một cách tự lập, góp phần duy trì truyền thống, cung cấp các mặt
hàng có sức hấp dẫn và góp phần phát triển kinh tế địa phương, nâng cao đời
sống văn hoá của nhân dân.
Nhận rõ những lợi ích của việc phát triển kinh tế làng nghề đối với địa

Website: Email : Tel : 0918.775.368
phương, với các làng nghề cũng như đối với bản thân ngân hàng; trong thời gian
vừa qua, Ngân hàng công thương Hà Tây đã chú trọng phát triển hoạt động tín
dụng đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh và đã thu được những kết quả đáng
kể. Điều này được trình bày rõ trong nội dung chương 2 của luận văn.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HÀ TÂY
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HÀ TÂY
1. Quá trình xây dựng và trưởng thành
Ngân hàng công thương Hà Tây là một chi nhánh của Ngân hàng công
thương Việt Nam, có trụ sở tại 269 - Quang Trung - Thị xã Hà Đông - Tỉnh Hà
Tây. Được thành lập tháng 6 năm 1988 và chính thức đi vào hoạt động tháng 8
năm 1988, Ngân hàng công thương (NHCT) Hà Tây có nhiệm vụ huy động vốn

sở chính quản lý về mặt nghiệp vụ đối với các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm.
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của chi nhánh NHCT Hà Tây

Ban giám đốc
Phòng
kinh
doanh
Phòng
kế toán
tài chính
Phòng
tiền tệ
kho quỹ
Phòng
quản lý
tiền gửi
dân cư
Phòng
thanh
toán
quốc tế
Phòng
kiểm
tra nội
bộ
Chi
nhánh
Sông
Nhuệ
Phòng

số...
Phòng tổ
chức
hành
chính
Phòng
kinh
doanh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ban giám đốc bao gồm: giám đốc và ba phó giám đốc. Ban giám đốc trực
tiếp ra quyết định thi hành, quản lý hoạt động của tất cả các phòng ban trong chi
nhánh. Giám đốc là người trực tiếp ra các quyết định kinh doanh, ký các văn
bản, hợp đồng liên quan đến hoạt động của toàn chi nhánh NHCT Hà Tây.
Tại hội sở có 7 phòng chức năng: phòng tổ chức hành chính, phòng kinh
doanh, phòng kế toán - tài chính, phòng quản lý tiền gửi dân cư, phòng thanh
toán quốc tế, phòng tiền tệ kho quỹ, phòng kiểm tra nội bộ. Chi nhánh có 4
phòng giao dịch và 1 chi nhánh trực thuộc. Dưới mỗi phòng giao dịch hoặc chi
nhánh trực thuộc có các bộ phận huy động vốn là các quỹ tiết kiệm, có bộ phận
tín dụng làm công tác cho vay, có bộ phận kế toán đảm nhận các công việc kế
toán cho vay - thu nợ, kế toán tiết kiệm thực hiện theo chế độ hạch toán báo sổ.
Tuỳ theo tình hình kinh tế từng thời kỳ mà ban giám đốc có uỷ quyền mức quyết
định cho vay đối với các trưởng phòng và giám đốc chi nhánh trực thuộc cho
phù hợp.
Trong hoạt động hàng ngày, giữa các phòng ban có mối quan hệ mật thiết
với nhau để đạt được mục đích của toàn NHCT Hà Tây là: Phát triển - An toàn -
Hiệu quả.
3. Những đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của NHCT Hà Tây
* Những đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây
Có thể nói Hà Tây có một vị trí khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế -

lâu đời được người dân trong và ngoài nước lưu truyền như Hương Sơn, Ao
Vua, Đồng Mô, Suối Hai - Ba Vì.... cùng nhiều di tích lịch sử văn hoá, đền, chùa
đã đi vào lòng người, là điều kiện rất thuận lợi để xây dựng chuỗi du lịch. Ngày
nay khi đời sống xã hội đã và đang phát triển, thu nhập của người dân ngày một
khá, thời gian nghỉ ngơi nhiều (tuần nghỉ 2 ngày) thì những nơi có nhiều danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử sẽ là điểm đến của khách du lịch.
Tuy nhiên để có thể đưa được những tiềm năng đó thực sự trở thành thế
mạnh kinh tế của tỉnh thì các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch
cần phải có một sức cạnh tranh lớn; nhất là với các công ty du lịch của Hà Nội
với rất nhiều những ưu thế do vị trí thuận lợi và thị trường rộng lớn đem lại. Do
nhu cầu của khách hàng ngày càng tăng, nhất là về mặt chất lượng nên để có thể

Trích đoạn Mở rộng về đối tượng Mở rộng các phương thức cho vay Các giải pháp gián tiếp Kiến nghị với UBND tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status