TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
VÕ MINH NHỰT
ĐÁNH GIÁ MỘT VÀI LOẠI THUỐC PHÒNG TRỊ
SÂU ĐỤC TRÁI (Etiella zinckenella) TRÊN
GIỐNG ĐẬU NÀNH MTĐ 760-4
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ MỘT VÀI LOẠI THUỐC PHÒNG TRỊ
SÂU ĐỤC TRÁI (Etiella zinckenella) TRÊN
GIỐNG ĐẬU NÀNH MTĐ 760-4
Giáo viên hướng dẫn:
Ts. Nguyễn Phước Đằng
Ths. Phan Thị Thanh Thủy
..................................
DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học ứng dụng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣơc ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào trƣớc đây.
Tác giả luận văn
Võ Minh Nhựt
iii
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Võ Minh Nhựt
Ngày sinh: 12/02/1991
Họ và tên cha: Võ Thanh Khiết
Họ và tên mẹ: Lê Thị Kiều
Quê quán: Trà Ôn – Vĩnh Long
Quá trình học tập:
1998-2003: Trƣờng tiểu học Trà côn B, xã Trà Côn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Long.
2003-2007: Trƣờng trung học cơ sở Trà côn, xã Trà Côn, huyện Trà Ôn, tỉnh
Vĩnh Long.
TÓM LƢỢC
Sâu đục trái Etiella zinckenella Treitschke là loại dịch sâu hại quan trọng nhất trên
đậu nành ở đồng bằng sông Cửu Long. Thí nghiệm đƣợc thực hiện để đánh giá hiệu
quả của một vài loại nông dƣợc tƣơng đối an toàn để kiểm soát dịch sâu hại này trên
đậu nành. Các nông dƣợc hoặc đƣợc áp dụng riêng lẽ hoặc kết hợp hai loại với nhau
tạo thành năm nghiệm thức là Actimax+Permecide, Actimax+Maxfos, Secure,
Brightin+Thiamax, Actimax và một nghiệm thức đối chứng không phun thuốc. Các
nghiệm thức đƣợc xử lý hàng tuần và phun liên tục trong tám tuần. Kết quả cho
thấy hầu hết các nghiệm thức xử lý thuốc đều có khả năng ngăn chặn mức độ xâm
nhiễm của sâu đục trái ở các mức khác nhau theo bản chất của thuốc đƣợc thử
nghiệm. Sâu đục trái có xu hƣớng xuất hiện muộn hơn và gây hại ít hơn ở các
nghiệm thức phun thuốc so với đối chứng dẫn đến sự thất thoát năng suất cũng thấp
hơn. Phun riêng lẽ Secure hoặc Actimax có hiệu quả kém hơn phun kết hợp hai loại
thuốc. Trong đó phun kết hợp Brightin+Thiamax đạt hiệu quả cao nhất vì ở giai
đoạn trái xanh không phát hiện lỗ sâu đục, ấu trùng, trái sâu, hạt sâu và năng suất
đạt 625,8g; cao hơn đối chứng 31,9%. Bên cạnh đó, phun kết hợp
Actimax+Permecide và Actimax+Maxfos cũng ghi nhận lỗ sâu đục, ấu trùng, trái
sâu, hạt sâu xuất hiện muộn và tƣơng đối ít, năng suất lần lƣợt đạt 671,4g và 540,3g;
cao hơn đối chứng 41,5% và 13,9%. Do đó, để kiểm soát hiệu quả E. zinckenella
trên đậu nành cần phun thuốc sớm và phun hàng tuần, khi trái mới hình thành đến
khi hạt mẩy chắc. Ngoài ra, nên sử dụng xoay vòng các loại thuốc khác nhau để
giảm khả năng phát triển tính kháng thuốc của sâu đục trái.
vi
MỤC LỤC
Nội dung
Lời cam đoan
2.3.1 Số lỗ sâu đục và số ấu trùng E. zinckenella
2.3.2 Phần trăm trái đậu nành còn xanh bị thiệt hại do
E. zinckenella
2.3.3 Phần trăm hạt bị thiệt hại do E. zinckenella
vii
Trang
iii
iv
v
vi
vii
ix
x
1
2
2
2
2
3
3
4
5
5
6
8
12
13
13
3.2.4 Nhận xét chung
CHƢƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1 Kết luận
4.2 Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƢƠNG
viii
16
17
18
19
19
19
19
19
20
20
21
21
21
25
26
27
29
29
29
30
32
Ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ sâu đến số lỗ sâu đục trên 10 trái
22
của giống đậu nành MTĐ 760-4 lúc còn xanh qua 8 tuần liên tiếp
Ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ sâu đến số ấu trùng sâu đục trái
23
bắt đƣợc trên 10 trái của giống đậu nành MTĐ 760-4 qua 8 tuần
liên tiếp
Ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ sâu đến số trái sâu trên 10 trái
24
của giống đậu nành MTĐ 760-4 lúc còn xanh qua 8 tuần liên tiếp
Ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ sâu đến số hạt bị sâu đục trên 10
trái lúc còn xanh của giống đậu nành MTĐ 760-4 qua 8 tuần liên
tiếp
Ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ sâu khác nhau trên năng suất hạt
5 cây của giống đậu nành MTĐ 760-4
25
Trung bình số trái trên cây và phần trăm trái lép, trái một, hai, ba
và bốn hạt và năng suất thực tế (NSTT) của giống đậu nành MTĐ
760-4
27
ix
26
DANH SÁCH HÌNH
8
8
10
10
11
MỞ ĐẦU
Đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) là cây màu ngắn ngày rất thích hợp để
đƣa vào hệ thống luân canh với lúa nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và độ màu mỡ
của đất. Với hàm lƣợng protein trung bình 40%, hàm lƣợng dầu thực vật ăn đƣợc
20%, hàm lƣợng carbohydrates khoảng 30%, hàm lƣợng đƣờng tổng số 10% và
hàm lƣợng tro khoảng 5% (IITA, 1993), đậu nành không những là nguồn thực phẩm
giàu dinh dƣỡng cho con ngƣời mà còn là thức ăn rất tốt cho gia cầm và thủy sản.
Tuy nhiên, để canh tác đậu nành đạt năng suất cao không phải là điều đơn
giản. Có nhiều nguyên nhân làm giảm năng suất đậu nành, trong đó phải kể đến sâu,
bệnh và cỏ dại (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1999). Trong những loại côn trùng gây hại
trên đậu nành, sâu đục trái (Etiella zinckenella) từ lâu đã đƣợc đề cập đến nhƣ là
côn trùng phá hại nghiêm trọng nhất ở vùng nhiệt đới nhƣ Việt Nam, Nhật Bản,
Trung Quốc,… (Marwoto và Saleh, 2003). Tại các vùng trồng đậu nành ở đồng
bằng sông Cửu Long, E. zinckenella thƣờng hiện diện với mật số cao và bộc phát
mạnh trong vụ xuân hè, nó làm thất thu năng suất và giảm chất lƣợng hạt đáng kể
nếu không phòng trị kịp thời.
Để kiểm soát E. zinckenella trên cây đậu nành có nhiều cách, trong đó sử
dụng hóa chất là biện pháp đơn giản và mang lại hiệu quả nhanh nhất. Nhiều loại
thuốc trừ sâu gốc phospho hữu cơ đã đƣợc chứng minh về hiệu quả và dƣ lƣợng của
chúng trong việc phòng trị sâu đục trái ở ngoài đồng. Tuy nhiên, sử dụng phổ biến
các loại thuốc trừ sâu cổ truyền này các độc tố lƣu tồn và những tác động rủi ro đến
môi trƣờng đã động viên nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã thành công trong
việc phát triển các hợp chất mới, hiệu quả và an toàn hơn để thay thế.
số hạt trên trái dẫn đến sự giảm sút năng suất (Trần Thƣợng Tuấn và ctv, 1983).
1.1.1 Đất đai
Nhìn chung cây đậu nành không quá kén đất, nó có thể trồng trên nhiều loại
đất khác nhau: đất phù sa, đất đồi núi, đất đỏ bazan,… và có cơ cấu từ đất cát, thịt
nhẹ đến sét. Tuy nhiên, đậu nành thích hợp nhất là trồng trên các vùng đất cao
(thoát nƣớc tốt và có thành phần cơ giới nhẹ) nhƣ đất cồn, phù sa ven sông và đất
rẫy; có độ pH từ 5,5 đến 6,5.
1.1.2 Nƣớc
Nƣớc là một trong những yếu tố quan trọng nhất cùa môi trƣờng, có ý nghĩa
quyết định đến sự sống, từ sự nảy mầm của hạt đến sự sinh trƣởng và phát triển của
cây đậu nành. Cây đậu nành không chịu đƣợc úng lẫn hạn. Do hầu hết bộ rễ tập
trung ở tầng đế cày nên khả năng sử dụng nƣớc ở tầng đất sâu rất hạn chế và khó
giữ đƣợc độ ẩm thích hợp ở vùng rễ tập trung trong suốt chu kì sinh trƣởng của cây
(Trần Thị Kim Ba và ctv., 2008).
2
Nƣớc tác động đến sự sinh trƣởng của cây, bao gồm cả về mặt sinh lý, sinh
hóa, hình thái và giải phẩu nên cũng ảnh hƣởng đến năng suất hạt (Ngô Thế Dân và
ctv., 1999). Khi thiếu nƣớc, cây sinh trƣởng phát triển kém, sự hình thành nốt sần và
quá trình cố định đạm bị kìm hãm, giảm số lƣợng hoa và tăng tỉ lệ rụng hoa, hạt
không đầy dẫn đến năng suất giảm sút rõ rệt. Tuy nhiên, nếu thừa nƣớc sẽ gây tổn
thƣơng bộ rễ do thiếu không khí. Ba giai đoạn cây cần phải đủ nƣớc là giai đoạn
nảy mầm, ra hoa và phát triển trái, hạt. Đậu nành cần nƣớc nhƣng cũng có khả năng
chịu hạn trong một thời gian nhất định, cây con cũng có khả năng chịu úng trong
thời gian ngắn.
Theo Shaw và Laing (1966), năng suất đậu nành giảm nghiêm trọng khi cây bị
thiếu nƣớc vào tuần cuối cùng của giai đoạn hình thành trái và trong thời gian phình
to của hạt. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ nƣớc để đảm bảo tốt cho quá trình sinh
chín muộn có phản ứng với ánh sáng mạnh hơn các giống chin sớm.
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn (1996), ánh sáng là yếu tố ảnh hƣởng sâu sắc đến
hình thái cây đậu nành, vì nó làm thay đổi thời gian trổ hoa và chín nên có ảnh
hƣởng đến chiều cao cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây, kể cả năng
suất hạt. Ánh sáng còn là yếu tố quyết định quang hợp, sự cố định nitơ và sản lƣợng
chất khô cũng nhƣ nhiều đặc tính khác phụ thuộc vào quang hợp. Phản ứng của đậu
nành với ánh sáng thể hiện cả hai mặt: Độ dài thời gian chiếu sáng trong ngày và
cƣờng độ ánh sáng.
1.1.4.1 Độ dài thời gian chiếu sáng
Nếu thời gian chiếu sáng trong ngày ít hơn 12 giờ thì tất cả các giống chín
muộn đều trổ hoa sớm, thƣờng ra hoa khoảng 25-30 ngày sau khi gieo. Thực tế cho
thấy nếu cây ra hoa trong điều kiện 15-20 ngày tuổi, cây thƣờng thấp, còi cọc, hoa
ra ít, năng suất thấp. Trái lại, trong điều kiện ngày dài cây sẽ ra hoa muộn hơn. Nếu
điều kiện ngày dài xảy ra liên tục, cây dƣờng nhƣ sinh trƣởng vô hạn và không ra
hoa.
1.1.4.2 Cường độ ánh sáng
Đậu nành có khả năng sử dụng ánh sáng có cƣờng độ cao kém hơn các cây
khác nhƣ mía, bắp, cao lƣơng. Nhu cầu ánh sáng của đậu nành là 50.000 Lux, bão
hòa ánh sáng ở cƣờng độ 60.000 Lux (60% ánh sáng mặt trời buổi trƣa) đối với tán
cây đậu nành và giảm xuống 40.000 Lux ở giai đoạn tạo hạt (Upmeyer, 1973). Vì
vậy, cây đậu nành thích hợp trồng xen với nhiều loại cây trồng có nhu cầu về cƣờng
độ ánh sáng cao hơn.
1.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA ĐẬU NÀNH
Fehr, Caviness, Burmood và Pennington (1971) đã chia giai đoạn tăng trƣởng
và phát triển của đậu nành ra làm hai giai đoạn: giai đoạn sinh dƣỡng (vegetative
stage) và giai đoạn sinh sản (reproductive stage). Mô tả chi tiết từng giai đoạn đƣợc
trình bày ở Bảng 2.1.
Các giai đoạn sinh dƣỡng đƣợc xác định bằng cách đếm số đốt trên thân chính,
bắt đầu với đốt lá đơn, là đốt có hoặc đã có một lá mở ra hoàn toàn. Các giai đoạn
sinh sản R1 và R2 đƣợc dựa trên sự trổ hoa, R3 và R4 trên sự phát triển trái, R5 và
Lá kép thứ n. (n + 1) đốt.
Các giai đoạn sinh sản
Số
Giai đoạn
Mô tả
R1
Bắt đầu trổ hoa. Ít nhất 1 hoa xuất hiện ở bất cứ đốt nào trên thân chính
R2
Trổ hoa hoàn toàn. Hoa đƣợc tìm thấy ở 1 trong 2 đốt trên ngọn thân chính
R3
Bắt đầu tƣợng trái. Trái dài ½ cm (3/16”) ở 1 trong 4 đốt trên ngọn thân chính
R4
Tƣợng trái hoàn toàn. Trái dài 2cm ( ¾”) ở 1 trong 4 đốt trên ngọn thân chính
R5
Bắt đầu tạo hạt. Hạt dài 3mm (1/8”) ở 1 trong 4 đốt trên ngọn thân chính
R6
phẩm chất của cây trồng do cỏ dại cũng nhƣ chi phí kiểm soát cỏ dại là một vấn đề
nan giải về kinh tế trong tất cả các vùng sản xuất nông nghiệp. Anonymous (1979)
cũng ghi nhận thiệt hại về năng suất do cỏ dại cũng nhƣ chi phí phòng trừ cỏ dại là
một sự mất mát lớn trong sản xuất đậu nành.
Biện pháp diệt cỏ dại tốt nhất cho cây đậu nành là nên chuẩn bị đất kỹ trƣớc
khi gieo hạt, thƣờng xuyên làm cỏ, vệ sinh đồng ruộng để hạn chế sự sinh trƣởng
của cỏ.
1.3.2 Bệnh hại đậu nành
1.3.2.1 Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani)
Bệnh thƣờng xuất hiện trong đất và nấm có khả năng sống hoại sinh. Trong đất,
nấm phát triển tự do khi gặp đƣợc cây kí chủ sẽ tập trung và phát triển trên đó. Bệnh
gây hại chủ yều ở giai đoạn cây con, 1-2 tuần tuổi, thƣờng xảy ra trong điều kiện
thời tiết nóng ẩm và độ ẩm không khí cao. Cây bị bệnh phần thân giáp đất, cổ rễ và
rễ già có màu nâu đỏ, sau đó vết bệnh teo lại, cây bị đổ ngã và héo (Hình 1.1).
Hình 1.1: Bệnh héo cây con do Rhizoctonia solani
(Nguồn: planthealth.info; ces.ncsu.edu)
Thông thƣờng bệnh chỉ tồn tại cho đến khi cây ra hoa, đậu trái. Đôi khi bệnh
cũng có thể gây hại trên cây trƣởng thành, khi cây đã phát triển tán lá đầy đủ, nhất
là giai đoạn ra hoa gặp phải độ ẩm không khí trong quần thể cao. Bệnh phát sinh
đầu tiên trên một vài cây và sau đó lan rộng ra, thiệt hại đôi khi lên đến 50-80%.
1.3.2.2 Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum)
Thƣờng nấm gây hại khá nghiêm trọng khi thời tiết nóng ẩm. Bệnh xuất hiện ở
cây con và cả cây trƣởng thành. Các lá dƣới thấp bị vàng trƣớc rồi lan dần lên các lá
trên, sau cùng cả cây bị vàng héo, lá rụng dần (Hình 1.2). Rễ bị thối, phát triển kém,
gốc thân có nhiều sợi nấm trắng bao quanh dày đặc. Trong thân, các mô dẫn truyền
có màu nâu và có nấm phát triển.
Ở ĐBSCL, bệnh xuất hiện ở khắp các vùng trồng đậu nành, nhất là trên những
1.3.2.4 Bệnh đốm phấn (Peronospora manshurica)
Đây là bệnh phổ biến trên tất cả các vùng trồng đậu nành trên thế giới, kể cả
Việt Nam (Ngô Thế Dân và ctv., 1999). Bệnh có thể gây hại trên nhiều bộ phận nhƣ
lá, thân, hoa, quả...nhƣng chủ yếu là gây hại trên lá. Mặt trên lá nổi lên những vết
vàng xanh lợt, sau trở nên nâu lợt rồi sậm. Chung quanh vết bệnh nổi quầng màu
vàng xanh. Mặt dƣới lá có nhiều sợi nấm trắng (Hình 1.4). Bệnh truyền qua hạt
giống và tàn dƣ của cây bị bệnh từ vụ trƣớc. Nếu hạt giống trƣớc khi đem gieo đã
có sẵn mầm bệnh thì khi gieo xuống khoảng nửa tháng lá sẽ có đốm vàng, mép lá
cong xuống phía dƣới, mặt dƣới lá có nhiều khuẩn ty bao phủ, cây con bị lùn.
7
Hình 1.4: Bệnh đốm phấn ở hai mặt của lá đậu nành
(Nguồn: commons.wikimedia.org; insectimages.org)
Bệnh đốm phấn xuất hiện và gây hại tƣơng đối phổ biến ở các vùng, nhất là ở
những nơi có ấm độ không khí trong ruộng cao, nhiệt độ không khí thấp, trời hơi
lạnh, có sƣơng mù nhiều, tạo cho ruộng đậu ẩm thấp, vì thế bệnh thƣờng gây hại
trong vụ Đông xuân nhiều hơn.
1.3.2.5 Bệnh hạt tím (Cercospora kikuchii)
Bệnh xuất hiện ở tất cả các vùng trồng đậu nành trên thế giới. Nấm tạo nhiều
bào tử ở nhiệt độ từ 23-27C trong vòng 3-5 ngày trên những mô có nhiễm nấm.
Mặc dù nấm gây hại phổ biến trên hạt, song nó cũng có thể lây nhiễm thân, lá và
trái (Walters, 1979).
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), triệu trứng đặc trƣng dễ thấy
nhất là trên hạt xuất hiện những vết hơi tím sậm, với kích thƣớc từ nhỏ đến lớn và
có thể bao trùm cả hạt (Hình 1.5).
- Tuổi 2: Ba sọc vàng trên lƣng và 2 chấm đen ở bụng hiện lên rất rõ. Tuổi này
kéo dài từ 1-2 ngày (Hình 1.6).
- Tuối 3: Kéo dài từ 1-4 ngày.
- Tuổi 4: Kéo dài từ 2-5 ngày.
- Tuổi 5 và tuổi 6: Khả năng cắn phá của sâu rất mạnh, giai đoạn tuổi 5 kéo dài
từ 2-6 ngày và tuổi 6 kéo dài từ 3-7 ngày.
- Tuổi 7: Ở cuối giai đoạn này sâu chui xuống đất, tạo một xoang trong đất và
hóa nhộng trong đó. Giai đoạn nhộng từ 6-9 ngày.
a
b
b
b
c
c
Hình 1.6: Ổ trứng (a), thành trùng (b) và ấu trùng (c) sâu ăn tạp
(Nguồn: idtools.org; nbaii.res.in; forestryimages.org)
Sâu tấn công hầu hết các bộ phận của cây đậu nành từ lá, chồi non đến hoa và
trái. Xuất hiện từ giai đoạn cây con đến khi gần thu hoạch. Khả năng sinh sản rất
cao, phổ kí chủ rất rộng. Do đó, nếu không chú ý phòng trị kịp thời loài này có thể
gây hại rất nặng cho các ruộng đậu nành.
1.3.3.2 Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (1999), sâu da láng hiện diện ở miền nam châu Á
Hình 1.8: Thành trùng (a) và ấu trùng (b) ruồi đậu
(Nguồn: forestryimages.org)
Trứng màu trắng bóng, hình bầu dục, dài 3mm và nở trong 2 ngày. Ấu trùng
màu trắng hơi vàng, khi nở ra đục thẳng vào gân xuyên qua cuốn lá và đục thẳng
vào thân tạo thành đƣờng hầm ăn từ gốc đến ngọn. Dòi xuất hiện ngay từ khi cây
đậu vừa có hai lá đơn đầu tiên. Nếu mật số cao và ấu trùng tấn công sớm, cây đậu
có thể bị héo chết; nếu tấn công muộn, cây chết từng nhánh hoặc giảm sức sinh
trƣởng. Trong một vụ đậu nành thƣờng có 2-3 lứa dòi tấn công. Mật số ruồi đậu
trong mùa nắng cao hơn trong mùa mƣa và thƣờng gia tăng vào cuối vụ; vì vậy,
những ruộng trồng trễ vụ thƣờng bị dòi tấn công gây thiệt hại nặng.
10
1.3.3.4 Sâu đục trái (Etiella zinckenella)
Đây là loài côn trùng phá hại nghiêm trọng trên đậu nành ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
Đặc điểm sinh học và hình thái
Sâu đục trái trải qua các giai đoạn: Thành trùng, trứng, ấu trùng và nhộng
(Hình 1.9)
* Thành trùng: Bƣớm có màu xám tro, cánh trƣớc có một băng vàng nằm
ngang, phía trƣớc băng vàng này có viền màu nâu. Mép trƣớc có một viền màu
trắng chạy dài từ gốc đến đỉnh cánh. Bƣớm cái dài khoảng 13mm, cánh trải dài
khoảng 22mm. Bƣớm đực dài khoảng 10mm, trải cánh rộng khoảng 26mm. Thành
trùng hoạt động vào ban đêm. Sau khi vũ hóa đƣợc vài giờ thì có khả năng bắt cặp
ngay và trứng đƣợc đẻ vào ngày hôm sau. Thời gian đẻ trứng kéo dài từ 4-6 ngày.
Một bƣớm cái đẻ 100-200 trứng. Tỉ lệ trứng nở thƣờng đạt 80%.
* Trứng hình bầu dục, dài 0,70-0,80mm, rộng 0,40-0,50mm. Lúc mới đẻ trứng
màu trắng xanh, sau chuyển sang màu vàng. Thời gian ủ trứng khoảng 4-7 ngày
(Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
trên trái thì chúng đục ngay vào trái đó. Trƣớc khi đục vào trái sâu nhả tơ dệt một
túi kén nhỏ, màu trắng, mỏng, dài khoảng 1mm rồi ẩn mình trong đó để đục khoét
dần vỏ trái. Sâu tuổi 1 đã có khả năng đục vào trái, rất khó phát hiện vì lỗ đục rất
nhỏ. Sâu thải phân ra ngay bên trong trái và lỗ đục của sâu tạo điều kiện cho nấm
mốc tấn công hạt. Sâu thƣờng phá hại khi cây có trái non (giai đoạn R4), ăn hai bên
mép vỏ trái và ăn dọc theo lớp vỏ hạt xong mới đục vào hạt, hạt mới hình thành bị
sâu đục sẽ không phát triển (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996). Khi lớn, sâu ăn khuyết
từng góc hạt hoặc đục vào trong hạt ăn dọc theo rãnh của hai lá mầm; khi ăn hết hạt
trong trái, sâu đục một lỗ lớn hơn để chui ra ngoài và tìm trái khác phá hại. Trong
suốt giai đoạn phát triển, một con sâu có thể phá hoại 3-5 hạt và có thể di chuyển
gây hại 1-2 lần.
Ở đậu nành, E. zinckenella có thể làm giảm năng suất lên đến trên 86%. Sâu
xuất hiện từ giai đoạn cây trổ hoa đến khi thu hoạch. Mật số sâu tập trung vào mùa
nắng, mùa mƣa số lƣợng giảm đáng kể. Do đó, vụ hè thu trồng đậu nành ít bị thiệt
hại hơn vụ đông xuân và xuân hè. Thời gian sinh trƣởng của giống cũng ảnh hƣởng
đến sự phát triển của sâu. Giống dài ngày bị thiệt hại nhiều hơn giống ngắn ngày.
1.4 CÁC LOẠI NÔNG DƢỢC PHÕNG TRỊ SÂU ĐỤC TRÁI
Nông dƣợc hay thuốc bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên
hay hóa tổng hợp đƣợc dùng để bảo vệ cây trồng hay nông sản, chống lại những
sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật (Trần Văn Hai, 2005).
Một số tác động của các loại thuốc trừ sâu: Tiếp xúc (tác động qua da), vị độc
(tác động qua miệng), xông hơi (tác động qua đƣờng hô hấp), nội hấp hay lƣu dẫn
(thấm vào trong tế bào và xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn trong cây), thấm sâu
(thấm vào mô cây và diệt những côn trùng sống ẩn dƣới những phần không phun
thuốc). Ngoài ra thuốc còn có tính xua đuổi hoặc gây ngán ăn đối với côn trùng.
12
CHƢƠNG 2
16,2
1,989
(Nguồn: Bộ môn Di truyền Giống Nông nghiệp, ĐHCT)
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Thuốc trừ sâu: Các loại thuốc trừ sâu đƣợc thử nghiệm (Actimax 50WG,
Brightin 1.8EC, Thiamax 25WDG, Secure 10EC, Permecide 50EC, Maxfos 50EC)
và nồng độ áp dụng theo khuyến cáo đƣợc trình bày ở Bảng 2.2.
- Thuốc trừ bệnh: Basudin 10H
- Phân bón: Ure 46%, Kali (KCL) và lân.
2.1.3 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm đƣợc thực hiện trong vụ Đông Xuân 2013, bắt đầu từ 31/01/2013
đến tháng 06/2013, tại Trại Thực nghiệm, trƣờng ĐHCT.
2.2 PHƢƠNG PHÁP
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đƣợc bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp
lại. Mỗi lần lặp lại có 6 lô tƣơng ứng với 6 nghiệm thức gồm 5 nghiệm thức thuốc
trừ sâu (Actimax, Actimax+Maxfos, Brightin+Thiamax, Actimax+Permecide,
Secure) và 1 nghiệm thức đối chứng (không phun thuốc). Giữa hai lô kề nhau đƣợc
trồng cách nhau 50cm để tránh ảnh hƣởng của thuốc khi phun. Ngoài ra, mỗi lô
13
đƣợc trồng 4 hàng, trong đó chỉ lấy chỉ tiêu hai hàng ở giữa: 1 hàng lấy chỉ tiêu sâu
đục trái ở giai đoạn trái xanh và 1 hàng lấy chỉ tiêu năng suất lúc thu hoạch, hai
hàng bìa ở hai đầu của mỗi lô dùng làm hàng cách ly ngăn ngừa sự va chạm các lá
giữa hai nghiệm thức khác nhau. Sơ đồ bố trí thí nghiệm đƣợc trình bày ở Hình 2.1.
1
5
6
3
2
4
Lặp lại III
2. Actimax+Permecide
5. Brightin+Thiamax
3. Secure
6. Actimax
Hình 2.1: SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
Bảng 2.2: Các loại thuốc trừ sâu đƣợc thử nghiệm
Tên
thƣơng
phẩm
Nhà cung cấp Tên hoạt chất thuốc
Nguyên liệu
Actimax
Secure
10EC
Công ty
TNHH Hóa
Nông Hợp
Trí
Công ty
TNHH Hóa
Nông Hợp
Trí
Nồng độ
khuyến
cáo
Cơ chế
Tác dụng
Emamectin
benzoate
375 g/ha
(10-14
g/16L)
Tấn công hệ
thần kinh làm
sâu hại tê liệt,
chết.
Ethyl
20 Tiếp xúc, vị độ
30ml/16L mạnh
Chlorfenapyr
Ức chế sự tổng
hợp năng lƣợng
trong ty thể của
tế bào côn
trùng, gây chết
20 - 40
ml/16L
14
Đối tƣợng
phòng trừ
Sâu cuốn lá,
bọ trĩ, sâu
xanh da láng,
sâu đục quả
nhãn,...
Diệt các nhóm
côn trùng
chích hút trên
rau màu và
cây họ đậu,...