chế định nhiều tội phạm trong luật hình sự việt nam - Pdf 30

Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2010-2014

Đề tài
CHẾ ĐỊNH NHIỀU TỘI PHẠM
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS. Phạm Văn Beo

Nguyễn Minh Quang
MSSV: 5105992
Lớp: Luật Thƣơng Mại 1 K36

Cần Thơ, 11/2013
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 1

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
.........................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................

......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 4

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài ................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài .................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài ............................................................................ 2
5. Kết cấu của đề tài.................................................................................................. 3
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NHIỀU


CHƢƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH, QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
TRƢỜNG HỢP NHIỀU TỘI PHẠM ................................................................... 29
2.1 Định tội danh đối với trƣờng hợp nhiều tội phạm ........................................ 29
2.1.1 Những vấn đề lý luận chung về định tội danh ............................................ 29
2.1.1.1 Khái niệm định tội danh .................................................................... 29
2.1.1.2 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh ................................................ 30
2.1.1.3 Các giai đoạn của việc định tội danh ................................................. 32
2.1.2 Định tội danh đối với trường hợp nhiều tội phạm ...................................... 33
2.1.2.1 Một số vấn đề chung về định tội danh đối với trường hợp nhiều tội
phạm ............................................................................................................. 33
2.1.2.2 Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội ............................... 35
2.1.2.3 Định tội danh trong trường hợp có nhiều bản án ............................... 43
2.1.2.4 Định tội danh trong trường hợp phạm tội nhiều lần .......................... 43
2.1.2.5 Định tội danh trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm ........ 46
2.2 Quyết định hình phạt đối với trƣờng hợp nhiều tội phạm ........................... 47
2.2.1 Những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt ................................ 47
2.2.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt ........................................................ 47
2.2.1.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt ............................................... 48
2.2.1.3 Các căn cứ quyết định hình phạt ....................................................... 52
2.2.2 Quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm........................... 58
2.2.2.1 Quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội ................. 58
2.2.2.2 Quyết định hình phạt đối với trường hợp có nhiều bản án ................ 64
2.2.2.3 Quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội nhiều lần ........... 67
2.2.2.4 Quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm .. 68

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 6


nhiệm nghề nghiệp của chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán ...... 87
3.3.4 Tăng cường sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm lập pháp hình sự với nước
ngoài ..................................................................................................................... 88
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 7

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần
duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được
sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân
văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản
trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Bộ luật hình sự nước ta đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn. Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

hỏi các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử phải nắm vững kiến thức pháp luật nói
chung, pháp luật hình sự nói riêng và có kinh nghiệm thực tiễn mới xử lý đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội.
Từ thực tế trên, theo người viết việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu đồng bộ,
có hệ thống để tiến tới hoàn thiện Chế định nhiều tội phạm trong pháp luật hình sự
Việt Nam là rất cần thiết. Vì vậy, người viết chọn đề tài “Chế định nhiều tội phạm
trong Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Học tập và tìm hiểu những vấn đề lý luận về chế định nhiều tội phạm.
Tìm hiểu những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh và
quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, cụ thể là trong từng hình thức
biểu hiện: phạm nhiều tội, trường hợp có nhiều bản án, phạm tội nhiều lần và tái
phạm, tái phạm nguy hiểm.
Tìm hiểu những bất cập trong các quy định liên quan đến Chế định nhiều tội
phạm, những bất cập trong việc định tội danh và quyết hình phạt đối với từng hình
thức biểu hiện của chế định này. Từ đó có những phân tích, đánh giá để đưa ra một
số kiến nghị hoàn thiện những bất cập của chế định nhiều tội phạm trong Luật hình
sự Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là học tập, tìm hiểu những vấn đề về chế định
nhiều tội phạm và việc định tội danh, quyết định hình phạt trong từng hình thức biểu
hiện của chế định này, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện dưới góc độ luật hình sự,
cả lý luận và thực tiễn xét xử.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận của luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; chủ trương,
chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH
NHIỀU TỘI PHẠM
1.1 Khái niệm tội phạm
1.1.1 Khái niệm tội phạm
Điều 8 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1999 đã
định nghĩa khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa.1
Khái niệm tội phạm trong luật hình sự có vai trò hết sức quan trọng. Định
nghĩa tội phạm trên là một định nghĩa có tính chất khoa học thể hiện tập trung nhất
quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm. Thể hiện tập trung bản chất giai cấp, các
đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý của luật hình sự của mỗi quốc gia. Là cơ
sở khoa học thống nhất cho việc xác định các loại tội phạm cụ thể và tạo cơ sở cho
việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật, quy định về từng tôi cụ thể.
Từ định nghĩa này, ta có thể định nghĩa tôi phạm một cách khái quát như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi và phải chịu
hình phạt.
1.1.2 Đặc điểm của tội phạm
Thế giới quan vật chất của chủ nghĩa Mác - Lê Nin khẳng định: “lực lượng vật

quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm, bởi nó là thuộc tính và là nội dung của
tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy định là tội phạm vì bản thân nó có “tính nguy
hiểm”. Đây chính là điểm khác giữa pháp luật hình sự hiện hành với pháp luật hinh
sự của chế độ Sài Gòn trước đây cũng như pháp luật hình sự một số nước trên thế
giới, xem tính luật định là dấu hiệu quyết định.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm về khách quan có nghĩa là gây ra
hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Đây là các quan hệ xã hội
gắn liền với lợi ích của Nhà nước, mọi công dân và toàn xã hội; và khi bị xâm hại, có
thể làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội. Những quan
hệ xã hội đó được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành.
Theo nghĩa đầy đủ, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn bao hàm cả yếu tố
chủ quan, tức là lỗi. Tuy nhiên, để nhấn mạnh sự thừa nhận lỗi là một nguyên tắc cơ
bản, pháp luật hình sự nước ta từ trước đến nay vẫn luôn xem lỗi là dấu hiệu độc lập
của tội phạm.
Bất kỳ một hành vi vi phạm chuẩn mực chung của xã hội nào cũng có tính
nguy hiểm, có nghĩa là khả năng gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã
hội. Tuy nhiên, so với các hành vi vi phạm khác, tội phạm có tính nguy hiểm “đáng
kể” hơn cả. Ví dụ, hành vi chửi mắng ông bà, cha mẹ…bị xem là hành vi vi phạm
đạo đức. Hành vi này về bản chất cũng có tính nguy hiểm nhất định cho xã hội, vì nó
đã xâm phạm đến quan hệ tình cảm giữa người thân trong gia đình. Tuy nhiên, hành
vi này chưa phải là tội phạm vì mức độ nguy hiểm vẫn còn hạn chế, chưa “đáng kể”.
Trong trường hợp hành vi chửi mắng diễn ra liên tục, kèm theo hành vi đối xử tàn ác
về vật chất, tinh thần đối với ông bà, cha mẹ…dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hoặc đã
bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì hành vi đó bị coi là tội phạm. Bởi vì, trong
trường hợp này, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã “đáng kể”. Tính nguy
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 12

SVTH: Nguyễn Minh Quang

tất cả các nước trên thế giới. Theo tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc “không
ai bị kết án về một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không
quy định là tội phạm”. Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ
bị coi là tội phạm khi nó được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự,
khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 khẳng định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự…”, Điều 2 Bộ luật hình sự 1999“chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm
hình sự”.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 13

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

Bộ luật hình sự quy định một hành vi nào đó bị cấm thì người phạm tội thực
hiện hành vi đó. Ngược lại, khi Bộ luật hình sự quy định hành vi đó phải được làm
thì người phạm tội không làm hoặc làm không hết trách nhiệm và khả năng của
mình. Ví dụ, tại Điều 102 Bộ luật hình sự hiện hành quy định trách nhiệm cứu giúp
người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Nếu một người chứng
kiến người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà không có hành vi
cứu giúp khi có khả năng và điều kiện cứu giúp, thì bị coi là trái Bộ luật hình sự.
Quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm, không những là
cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo
đảm quyền dân chủ của công dân không bị vi phạm bởi hành vi tùy tiện, mà còn thúc
đẩy các cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật theo sát với sự thay đổi của

Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

cho rằng không thể coi tính có lỗi là dấu hiệu độc lập với dấu hiệu tính nguy hiểm
cho xã hội. Trong Bộ luật hình sự Việt Nam, tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về
tội phạm là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải để tách
lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng của tính
lỗi.
Tóm lại, luật hình sự Việt Nam xem lỗi là một dấu hiệu của tội phạm để thừa
nhận lỗi là một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự. Khi xác nhận hành vi có phải là
tội phạm hoặc không phải là tội phạm, chúng ta cần dựa trên cơ sở thống nhất các
yếu tố khách quan và chủ quan. Bởi vì, chúng ta áp dụng hình phạt không phải chỉ để
trừng trị người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn nhằm mục đích cải tạo, giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt sẽ
không đạt mục đích, thậm chí, còn có tác dụng ngược lại nếu hình phạt được áp dụng
đối với người không có lỗi.
1.1.2.4 Tính chịu hình phạt của tội phạm
Quan điểm định nghĩa theo dấu hiệu hình thức xem tính chịu hình phạt là một
dấu hiệu cơ bản của tội phạm. Chẳng hạn, Bộ luật hình sự Thụy Sĩ năm 1937 quy
định: tội phạm là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt”; Bộ luật hình
sự Malaixia quy định: “Tội phạm được hiểu là một hành vi bị xử phạt theo Bộ luật
này” (Điều 40 Bộ luật hình sự Malaisia)…Thật ra, về bản chất, một hành vi bị coi là
tội phạm bởi vì nội dung nó có tính nguy hiểm cho xã hội và về hình thức nó trái
pháp luật hình sự, có tính có lỗi và vì nó là tội phạm nên mới phải chịu hình phạt. Bộ
luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được thực hiện có lỗi và bị Bộ luật này quy định phải chịu hình phạt”. Bộ luật
hình sự Việt Nam dù không đề cập dấu hiệu này trong định nghĩa tội phạm nhưng lý
luận luật hình sự Việt Nam, được thể hiện trong Giáo trình luật hình sự của các cơ sở
đào tạo luật, thì có đề cập và cho rằng tính trái pháp luật là dấu hiệu bên ngoài của tội

phạm tội, chứ không phải phạm tội đó không có kèm theo hình phạt được quy định
trong Bộ luật hình sự. Mọi hành vi khác không phải là tội phạm thì không có nguy cơ
đe dọa bị áp dụng hình phạt. Phải nhìn nhận như thế mới thấy được mối liên hệ giữa
tội phạm và hình phạt, hình phạt luôn gắn liền với tội phạm và chỉ có thể áp dụng
hình phạt đối với người có hành vi phạm tội.
1.2 Lý luận chung về chế định nhiều tội phạm
1.2.1 Khái niệm nhiều tội phạm
Trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, có không ít trường hợp, một người
thực hiện hai tội phạm trở lên và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
cùng một lúc về các tội phạm ấy hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào những thời
gian khác nhau sau khi bị kết án về hành vi phạm tội trước đó.
Trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên có tính nguy hiểm cao
cho xã hội. Trong các điều kiện giống nhau, trường hợp thực hiện nhiều tội phạm
xâm hại đến nhiều nhóm quan hệ xã hội hoặc nhiều lần xâm hại đến một nhóm quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và thông thường gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn
so với trường hợp phạm một tội. Điều này thể hiện khuynh hướng chống đối xã hội
và tính chất nguy hiểm cao cho xã hội của người phạm tội. Những điều nói trên đều
được nhà làm luật dự liệu đến khi xây dựng pháp luật hình sự và được cơ quan bảo
vệ pháp luật cân nhắc khi áp dụng các quy định của pháp luật hình sự. Khi một người
thực hiện hai tội phạm trở lên tạo nên một tình huống đặc biệt liên quan đến việc
định tội danh các hành vi phạm tội; việc quyết định hình phạt và cá thể hóa trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội; việc phân biệt trường hợp một tội phạm với
trường hợp thực hiện nhiều tội phạm…

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 16

SVTH: Nguyễn Minh Quang


hiệu định lượng để phân biệt với các trường hợp không phải là nhiều tội phạm. Thứ
hai, mỗi tội phạm trong số các tội phạm đã được thực hiện phải chịu hậu quả pháp lý
hình sự. Thứ ba, sự lặp lại việc thực hiện hai tội phạm trở lên. Điều này có nghĩa, các
tội phạm được thực hiện cách nhau một khoảng thời gian nhất định đủ để phân biệt
tội phạm trước với tội phạm sau.
Từ các quan điểm trên, chúng ta thấy rằng, nếu chỉ coi dấu hiệu một người
phạm từ hai tội trở lên hay phạm một tội từ hai lần trở lên là dấu hiệu đặc trưng duy
nhất của khái niệm nhiều tội phạm là chưa đầy đủ, bởi lẽ không phải bất cứ trong
trường hợp thực hiện nhiều hành vi phạm tội đều bị coi là nhiều tội phạm. Chẳng
hạn, người phạm tội mới sau khi được xóa án tích đối với tội phạm trước đó hoặc sau
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 17

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đã phạm trước đây hoặc
trường hợp khi có trở ngại về mặt tố tụng để khởi tố vụ án hình sự (chẳng hạn, không
có yêu cầu khởi kiện của người bị hại đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu
của người bị hại). Do đó, ngoài dấu hiệu người phạm tội thực hiện từ hai tội trở lên
hoặc phạm một tội từ hai lần trở lên, khái niệm nhiều tội phạm phải bao gồm cả dấu
hiệu người thực hiện những tội phạm đó chưa được xóa án tích về các tội đã phạm,
các tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có trở ngại về
mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự.
Ví dụ: Ngày 1/5/2009, Tòa án nhân dân huyện ĐT, tỉnh HT xử phạt Nguyễn

Trang 18

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

giá mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, trong trường hợp nhiều tội phạm
mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thường lớn, so với trường hợp người
phạm tội thực hiện một tội phạm thì trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều tội
phạm thường gây ra những thiệt hại lớn hơn về vật chất, thể chất và tinh thần. Việc
thực hiện nhiều tội phạm chứng tỏ rằng người phạm tội có mức độ nguy hiểm rất lớn
cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội phải đạt đến mức đáng kể. Vì vậy, những
hành vi tuy có dấu hiệu của nhiều tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội
không đáng kể, thì không phải là nhiều tội phạm.
- Tính trái pháp luật hình sự: hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là nhiều
tội phạm khi hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự. Tính trái pháp luật hình
sự được hiểu là một người nào đó đã làm một việc mà luật hình sự cấm hoặc đã
không làm một việc mà luật hình sự buộc phải làm khi họ có nghĩa vụ và đầy đủ điều
kiện để làm. Như vậy, nếu trong thực tế có những hành vi xét thấy rất nguy hiểm cho
xã hội nhưng luật hình sự chưa quy định là tội phạm thì hành vi đó vẫn không bị coi
là trái pháp luật hình sự.
- Tính có lỗi: lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm
cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc
vô ý. Người bị coi là có lỗi là người mà khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,
họ có sự tự lựa chọn và quyết định; lẽ ra họ phải xử sự đúng theo những chuẩn mực
mà xã hội đòi hỏi nhưng họ đã không làm như vậy.
- Tính chịu hình phạt: hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức bị coi là tội

của người bị hại đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại). Do
đó, ngoài dấu hiệu người phạm tội thực hiện từ hai tội trở lên hoặc phạm một tội từ
hai lần trở lên, nhiều tội phạm phải bao gồm cả dấu hiệu người thực hiện những tội
phạm đó chưa được xóa án tích về các tội đã phạm, các tội đó chưa hết thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự và không có trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án
hình sự.
Đây chỉ là những đặc điểm cơ bản, đặc điểm cụ thể và làm nỗi bật lên những
điểm khác biệt của chế định nhiều tội phạm ta phải xem xét, phân tích và đi sâu vào
từng biểu hiện của chúng. Tức là phải xem xét trong từng biểu hiện cụ thể: phạm
nhiều tội, trường hợp có nhiều bản án, phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy
hiểm.
1.2.3 Phân biệt nhiều tội phạm với tội phạm đơn nhất phức tạp
Trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử có một số tội phạm đơn nhất phức
tạp có dấu hiệu rất giống với dấu hiệu nhiều tội phạm. Để hiểu chính xác về nhiều tội
phạm cần phân biệt những điểm khác nhau giữa nhiều tội phạm với các tội phạm đơn
nhất phức tạp. Tội đơn nhất phức tạp có các hình thức biểu hiện là: phạm tội kéo dài,
phạm tội liên tục, các tội ghép, các tội gây hậu quả nghiêm trọng mà hậu quả đó là
dấu hiệu của tội phạm khác…
Phạm tội kéo dài là trường hợp tội phạm được thực hiện một lần và kéo dài
trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi người phạm tội bị bắt giữ. Trong
trường hợp này, về bản chất hành vi phạm tội kéo dài từ lúc bắt đầu được thực hiện
và thường chỉ kết thúc khi tội phạm bị phát hiện bắt giữ hoặc người phạm tội chủ
động kết thúc việc phạm tội đó. Ví dụ: Tội tàng trữ vũ khí quân dụng (Điều 230 Bộ
luật hình sự 1999) bắt đầu từ khi người phạm tội có hành vi cất giữ vũ khí quân dụng
mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đến khi bị phát hiện hoặc
họ tự ra đầu thú.
Phạm tội liên tục là trường hợp người phạm tội thực hiện liên tục nhiều hành
động phạm tội cùng tính chất đối với cùng một đối tượng và vì vậy cấu thành một tội
GVHD: TS. Phạm Văn Beo


hơn (Từ hai khách thể trở lên hoặc một khách thể bị xâm hại hai lần trở lên) còn tội
phạm đơn nhất phức tạp chỉ xâm hại đến một khách thể.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: nhiều tội
phạm thường tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, vì mỗi hành vi phạm tội
bao giờ cũng cấu thành một tội phạm độc lập. Còn tội phạm đơn nhất phức tạp
thường là nhỏ hơn, vì mỗi hành vi chưa đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể.
Về hậu quả: nhiều tội phạm thường là nghiêm trọng vì gây thiệt hại cho nhiều
khách thể hơn. Còn tội phạm đơn nhất phức tạp thường ít nghiêm trọng hơn vì chỉ
gây thiệt hại cho một khách thể.
Về nhân thân của người phạm tội: thái độ chống đối xã hội của nhiều tội phạm
thường cao, ngoan cố và nguy hiểm. Còn tội phạm đơn nhất phức tạp thường ít nguy
hiểm hơn.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 21

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

Về trách nhiệm hình sự: đối với nhiều tội phạm thường nghiêm khắc hơn, còn
tội phạm đơn nhất phức tạp thường ít nghiêm khắc hơn.
1.3 Các hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm
Nhiều tội phạm là một chế định phức tạp, mà dấu hiệu đặc trưng nhất của
nhiều tội phạm là trường hợp một người có từ hai hành vi phạm tội trở lên được thể
hiện ở tất cả các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm. Thực tiễn đấu tranh, chống
nhiều tội phạm ở nước ta cũng cho thấy, nhiều tội phạm có các hình thức biểu hiện:


SVTH: Nguyễn Minh Quang


Luận văn tốt nghiệp

Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

Quan điểm thứ hai: Phạm nhiều tội bao gồm cả trường hợp mà hành vi phạm
tội do một chủ thể thực hiện được quy định trong các điều luật khác nhau, trong các
khoản khác nhau của một điều luật thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
Từ thực tiễn và lý luận khoa học hình sự, có thể nói rằng quan điểm đầu tiên
không phù với yêu cầu, nội dung thực tế của các điều luật quy định về tội phạm và
không đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với trường hợp nhiều tội. Khi một người thực
hiện các hành vi phạm tội được quy định trong các khoản khác nhau của điều luật
thuộc Phần các tội phạm Bộ luật hình sự thì cần phải được coi là trường hợp phạm
nhiều tội. Đó là trường hợp mà mỗi hành vi phạm tội trong số đó mang tính chất của
một hành vi độc lập và không thuộc khái niệm phạm tội nhiều lần. Ví dụ: Một người
lợi dụng chức vụ quyền hạn cản trở việc tố cáo của người khác, đồng thời có hành vi
trả thù người tố cáo thì bị xét xử theo hai tội được quy định tại khoản 1 Điều 132 và
tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật hình sự 1999 và hình phạt chung được quyết định trên
cơ sở hình phạt đối với từng tội đó. Bởi vì, hành vi “cản trở” và hành vi “trả thù” là
hai hành vi độc lập với nhau và cấu thành hai tội phạm khác nhau. Do đó, quan điểm
thứ hai phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống các trường hợp phạm nhiều tội.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm phạm nhiều tội như
sau: Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội phạm trở lên, mà
những tội phạm đó được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác
nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nhưng người
phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong các tội ấy.3
Về hình thức biểu hiện của nhiều tội, nhiều nhà luật học nước ta có chung

phân biệt với trường hợp phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng. Thông thường các
hành vi phạm tội được thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau; khoảng thời
gian cách nhau có thể dài hoặc không đáng kể, nhưng từng hành vi phạm tội phải độc
lập, cấu thành một tội phạm riêng biệt.
Ví dụ: Trịnh Thế T, Lê Đức H bàn nhau đi xin tiền của học sinh để lấy tiền
nhậu, hai đối tượng đón trước cổng trường trung học phổ thông Ng D. Khi thấy em
M, học sinh lớp 10 đạp xe vào trường, T nhảy lên xe M, móc túi lấy 700.000 đồng,
sau đó ôm M để H móc nốt 50.000 đồng. Khi đó em L bạn M vào ngăn cản, thì T lấy
dao cùng H đuổi theo L vào trường gây mất trật tự. Khi em L chạy vào lớp 10C1, T
đuổi theo và chém nhiều nhát vào L, làm L bị thương. Khi em L chạy lên khu vực
Ban giám hiệu, T vẫn cầm dao đuổi theo và dùng đá đập cửa sổ làm hư hỏng tài sản
của nhà trường trị giá 800.000 đồng. Trong vụ án này, T và H đã phạm hai tội: tội
cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 Bộ luật hình sự 1999), tội gây rối trật tự công cộng
(Điều 245 Bộ luật hình sự 1999), riêng T còn phạm thêm tội cố ý gây thương tích
(Điều 104 Bộ luật hình sự 1999).
Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có không ít những trường
hợp phạm nhiều tội tổng hợp thực tế, khi các hành vi phạm tội được thực hiện cách
nhau không đáng kể về mặt thời gian, thậm chí không cách biệt về mặt thời gian và
có liên quan hữu cơ với nhau, nhưng tính chất độc lập của từng hành vi phạm tội rất
rõ ràng.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa của khái niệm
phạm nhiều tội tổng hợp thực tế như sau: Phạm nhiều tội tổng hợp thực tế là trường
hợp khi một chủ thể thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập với nhau,
những hành vi đó cấu thành hai tội phạm trở lên được quy định tại các điều luật
khác nhau hoặc tại các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự.4
 Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tƣợng
Phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng có ba quan điểm điển hình:

4

phạm Bộ luật hình sư”.
Người viết không đồng ý kiến với quan điểm thứ nhất, bỡi lẽ có những trường
hợp một hành vi phạm tội gây thiệt hại cho đồng thời hai khách thể khác nhau, nhưng
hành vi đó lại chỉ được điều chỉnh bằng một quy phạm pháp luật hình sự và vì vậy
không xảy ra phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng. Vấn đề ở đây là bằng một hành vi
phạm tội, bị cáo đã gây thiệt hại cho nhiều khách thể nhưng hành vi đó lại phải được
điều chỉnh bằng hai điều luật trở lên của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Ví dụ:
hành vi dung vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đồng thời xâm hại đến hai khách thể đó
là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu, nhưng hành vi này chỉ được điều chỉnh bằng
một quy phạm pháp luật hình sự (Điều 133 Bộ luật hình sự 1999), và do đó hành vi
này chỉ phạm một tội, đó là tội cướp tài sản, ở đây không xảy ra trường hợp phạm
nhiều tội tổng hợp trừu tượng.
Đối với quan điểm thứ hai, quan điểm này không phù hợp với thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xữ. Bởi lẽ, phạm nhiều tội tổng hợp trừu tượng không phải hoàn toàn
mang tính chủ quan, áp đặt mà là sự ghi nhận thực tế khách quan, nếu một hành vi
phạm tội mà chỉ áp dụng một điều luật thì không phản ánh hết các hành vi phạm tội
của bị cáo, do đó cần thiết phải áp dụng hai điều luật để quyết định hình phạt đối với
bị cáo, như vậy mới không bỏ lọt tội phạm. Ví dụ: hành vi làm chết người để nhằm
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 25

SVTH: Nguyễn Minh Quang


Trích đoạn Phạm tội nhiều lần Tái phạm, tái phạm nguy hiểm nghĩa của việc nghiên cứu chế định nhiều tội phạm trong Luật Hình sự Các căn cứ quyết định hình phạt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status