Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng. - Pdf 30

Huỳnh Thúc Kháng là một nhà thơ yêu nước. Cụ đã để lại nhiều
thơ chữ Nôm và chữ Hán. Năm 1908, trước lúc chia tay các chiến
hữu trong tù, bị đày ra Côn Đảo, Cụ viết bài thơ \"Bài ca lưu
biệt\". Bài thơ được viết theo thể hát nói, có một số câu thơ chữ
Hán tạo nên phong cách trang trọng hào hùng.
Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947) đậu tiến sĩ dưới triều Nguyễn, không làm quan. Văn chương lỗi lạc,
khí tiết sáng ngời, giàu lòng yêu nước thương dân, suốt đời hi sinh phân đấu cho độc lập, tự do của dân
tộc. Cụ là một trong những người cầm đầu phong trào Duy Tân tự cường đầu thế kỉ ở Trung Kì. Năm
1908 bị thực dân Pháp kết án "trảm giam hậu", sau đổi thành án tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Hơn 13
năm trời bị đoạ đày nơi địa ngục trần gian, năm 1921, Cụ mới dành được tự do. Cụ trở lại Huế, làm Nghị
trưởng Viện dân biểu Trung Kì, rồi làm chủ bút báo "Tiếng Dân" tiếng tăm lẫy lừng trong cả nước. Cách
mạng tháng Tám thành công, theo lời mời của Hồ Chủ tịch, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Phó Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có lúc giữ quyền chủ tịch nước. Năm 1947, đi kinh lí miền
Trung, Cụ tạ thế tại Quảng Ngãi, thọ 72 tuổi.
Huỳnh Thúc Kháng là một nhà thơ yêu nước. Cụ đã để lại nhiều thơ chữ Nôm và chữ Hán. Năm 1908,
trước lúc chia tay các chiến hữu trong tù, bị đày ra Côn Đảo, Cụ viết bài thơ "Bài ca lưu biệt". Bài thơ
được viết theo thể hát nói, có một số câu thơ chữ Hán tạo nên phong cách trang trọng hào hùng.
Hai câu đầu song hành, đối xứng nêu lên một nhân xét về quy luật của tự nhiên và cuộc đời:
"Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết
Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan".
Trăng tròn rồi lại khuyết - một ý thơ bắt nguồn theo quan niệm "thiên địa tuần hoàn" nghĩa là trời đất
xoay vần, hết vòng này lại chuyển qua vòng khác. Cũng như cuộc sống của mỗi người hết "an" lại đến
"nguy". Sông có khúc người có lúc, cho nên bất cứ ai, đâu có thể thoát khỏi vòng gian nan, vất vả, nguy
hiểm. Trăng "khuyết" cũng như con người gặp "tiết gian nan" là chuyện tất yếu, chuyện bình thường. Hai
câu thơ thể hiện một cái nhìn sáng suốt, bình tĩnh trước tai hoạ cuộc đời.
Hai câu tiếp theo nói lên cách ứng xử của đấng trượng phu trước mọi biến cố, mọi thử thách:
"Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an
Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn".
Đấng trượng phu là người tài giỏi, có khí phách trong xã hội phong kiến. Hai câu chữ Hán có nghĩa là:
Đấng trượng phu gặp bất kì cảnh ngộ nào cũng xử trí được. Luôn luôn chủ động, làm chủ hoàn cảnh, làm
chủ tình thế an, nguy, hoạn nạn trên đường đời. Gặp cảnh hoạn nạn sẽ xử trí theo cảnh hoạn nạn, quyết

là tụ, nay mai người bị đày ra Côn Đảo, người bị giam hãm khắp các nhà tù đó đây, thế là "tán", nhưng
chỉ là tiểu biệt" mà thôi, nghĩa là chia li nhất thời. Ý thơ tương phản đối lập giữa “tụ, tán" với "tiểu biệt"
đã biểu lộ một cách nhìn, một cách sống rất tỉnh táo, lạc quan trong đại họa, trong gian nan. Câu dưới sử
dụng điển tích "Thất mã Tái Ông" cấu trúc câu thơ dưới hình thức câu hỏi tu từ cũng thể hiện một niềm
tin chói sáng: bị tù đày chưa hẳn "hoa" hay đó là "phúc" để người chiến sĩ yêu nước thử thách can
trường, lòng dạ trung thành sắt son với nước, với dân! Một ý thơ đẹp, được diễn tả rằng vần thơ hàm súc,
giàu âm điệu, đúng là câu ca của “Bài ca lưu biệt". Ba câu thơ tiếp theo cũng nói lên một tâm thế rất đẹp:
dù con tạo (tạo hoá) có cơ cầu, có sắp xếp đi thế nào nữa, thì đến đâu, ở đâu cũng là quê hương, cũng
nước non nhà. Chỉ biết rằng trong cuộc sống trăm năm, cần có ta:
"Một mai kia, con tạo khéo cơ cầu
Thảy bốn biển cũng trong bầu trời đất cả
Ư bách niên trung tu hữu ngã".
Câu thứ hai nhiều bản chép sai. Không phải là "trong vòng trời đất cả" mà là "trong bầu trời đất cả". "Bầu
trời" cũng gần nghĩa như "vòng trời" có điều chữ “bầu" thì mới vần với chữ "cầu" ở trên. "Vần" là một
trong những yếu tố hàng đầu của tính nhạc trong thơ, nhất là thơ hát nói. Câu thơ chữ Hán: " Ư bách niên
trung tu hữu ngã” ta đã từng bắt gặp trong bài thơ "Xuất dương lưu biệt" của Phan Bội Châu; điều đó cho
thấy tâm hồn hai nhà cách mạng vĩ đại gặp nhau trong một tư tưởng vĩ đại, cùng khẳng định vai trò của
nhà nho chân chính trước mệnh lịch sử. Trong cuộc đời, cuộc sống một trăm năm cần có ta. Câu thơ vang
lên như một tuyên ngôn, đĩnh đạc, hùng hồn. Các chí sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX như Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... đã sống và hành động đẹp như thế!
Ba câu thơ trong khổ xếp biểu hiện khí tiết của đấng trượng phu trong hoạn nạn:
"Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả,
Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn,


Trăng kia khuyết đó lại tròn”.
Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản: "Dẫu... vẫn...". "Núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả"
tượng trưng cho những biến cố dữ dội ấy cũng chẳng hề gì! vẫn trong sáng như "vàng", vẫn cứng rắn như
"đá", dù có tạc đi, đập đi cũng chẳng mòn, chẳng tan nát, biến dạng. Khí tiết ấy, tinh thần bất khuất ấy là
của một lớp nhà nho chân chính đầu thế kỉ. Họ đã để lại ba bài học lớn cho con cháu mai sau: "Phú quý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status