Phân tích hình ảnh mùa thu trong 3 bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến - Pdf 30

Đối với các nhà thơ cận đại, kể cả các nhà Thơ Mới nữa thì mùa
thu là mùa của cảm xúc, của thương nhớ. Trong làng thơ Việt
Nam sau Nguyễn Khuyến, Tương Phố, Tản Đà, Lưu Trọng Lư,
Xuân Diệu… đều có những bài thơ thu nổi tiếng
Tuy vậy, giữa Tam nguyên Yên Đổ và các nhà thơ mới đang có một khoảng cách. Thơ thu của Nguyễn
Khuyến là thơ của làng cảnh Việt Nam đậm đà chân thực dù tác giả có gửi gắm vào trong thơ ít nhiều tâm
sự. Thơ thu của các nhà Thơ Mới từ Giọt lệ thu (Tương Phố), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư) đến Đây mùa thu
tới (Xuân Diệu) chỉ mượn cảnh thu, sắc thu, màu thu, âm thanh mùa thu để gửi gắm tâm trạng đượm buồn
hay lưu luyến bâng khuâng trước đất trời đã chuyển sang thu.
Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là hiện tượng độc đáo và là cống hiến xuất sắc của nhà thơ.
Cả ba bài đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài là một phác thảo với nét bút của nền hội
họa phương Đông, không rườm rà loè loẹt mà cũng không gò bó khuôn sáo. Nhà thơ – họa sĩ họ Nguyễn
đã đưa chúng ta về một vùng chân quê quanh năm ngập nước của đất Hà Nam đầu thế kỷ này vào độ sang
thu.Thu vịnh phác họa khái quát những đặc điểm nổi bật về mùa thu.
Thu điếu dừng lại ở một không gian và thời gian cụ thể: trên một ao thu, vào một chiều thu, một ông già
trên chiếc thuyền câu thả mồi đợi cá.
Thu ẩm quan sát cảnh thu trong nhiều thời điểm khác nhau để thâu tóm những nét nên thơ nhất.Cảnh thu
trong Thu vịnh đã được nhà thơ phác họa như thế nào?Phần lớn dung lượng bài thơ (6/8 câu) là thơ tả
cảnh. Biên độ không gian và thời gian không hạn chế: một buổi sáng, một cảnh chiều, một đêm trăng
đượm màu thu. Ta vẫn bắt gặp trời (c1-2), nước (c3), trăng (c4), hoa (c5) có điểm xuyết âm thanh vọng
lại từ không trung cao vút nhưng điệu thơ, hồn thơ thì đã vượt khỏi khuôn sáo kiểu tứ thời, tứ thú, tứ
quý… của nét bút thơ và họa cổ điển.
Nét thu quán xuyến tất cả là bầu trời không ủ dột, quẩn quanh, tù túng mà cao vời vợi, cao ngất mấy tầng,
cao hút tầm mắt… và thăm thảm màu xanh huyền diệu. Giữa thu bao la ấy, một khóm tre xa xa từ thôn
vắng lả ngọn theo làn gió thu nhẹ nhàng uyển chuyển càng tô thêm sắc thu: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
như làm sống động bầu trời vốn tĩnh lặng.
Đối chiếu với trời thu là sông thu vào sáng tinh mơ, lúc màn đêm đã vén hay vào buổi chiều tà, lúc bóng
ô vừa ngậm non đoài, thời điểm “long lanh đáy nước in trời”; nước biếc dội lên màu xanh thơ mộng tạo
nên ảo ảnh màn khói mênh mông mà các nhà thơ cổ điểm thường gọi là “yên ba giang thượng” (khói
sóng trên sông). Trời thu và nước thu. Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc (trời nước một màu) là như
vậy.

nhỏ bé khi nhập vào không gian bao la càng trở nên bé xíu “bé tẻo teo”. Ngư ông dường như cảm thấy
mình quá bé trước tạo hoá!
Thuyền vừa xa bờ, cận cảnh dẫn đến một cảm giác thu mới: Phẳng lặng trong xanh vốn là đặc tính của
mặt nước ao thu, hồ thu. Chỉ thế mà sau này Tản Đà viết: Trời xanh xanh, nước xanh xanh, khói lam xây
thành: Màu biếc xao động khi gió thu khẽ khàng lướt qua. “Hơi gợn tí” nhưng cũng đủ mạnh để đưa chiếc
lá già của cây cao gần bờ lìa cành “đưa vèo” xoay xoay giữa không gian theo chiều gió… Gió thu là như
vậy.Bình giảng hai câu 3-4, Xuân Diệu đã viết: “Thật tài tình! Nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá,
vèo, dễ tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: “tí”. Tác giả Đây mùa thu tới quả thật đã phát hiện đầy
đủ tài nghệ của Nguyễn Khuyến.
Chắc là sau khi đã buông câu, nhà thơ mới có dịp ngẩng đầu nhìn trời và làng mạc vây quanh. Trời thăm
thẳm một màu xanh, vài đám mây bạc lững lờ trôi như tôn thêm độ cao xa của không giang (Tầng mây lơ
lửng trời xanh ngắt). Đường đi lối lại trong thôn viễn rặng trúc uống lượn vòng vèo không ồn ào náo nhiệt
như những ngày mùa mà êm đềm u tịch. Nhà thơ “tựa gối ôm cần” chìm đắm vào cảnh vật tựa sống trong
mơ…Câu kết thức Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tiếng động của cá đớp mồi đã trả nhà thơ về cõi
thực. Nguyễn Khuyến là ông ngư trên chiếc thuyền nan mỏng mảnh.
Với Thu ẩm, nhà thơ Hà Nam đưa chúng ta về nhiều thời điểm khác nhau để cảm nhận vẻ đẹp mùa
thu.Mở đầu bài thơ, tác giả nói về một ngôi nhà xuềnh xoàng ở tận sâu trong làng Và (Vị Hạ) nơi cụ
Thượng quan hưu trí thường độc ẩm để tìm cách lãng quên thế sự; bởi vì người xưa đã nói: “Chỉ có rượu
mới phá được thành sầu”.
Từ “năm gian nhà cỏ” này ông nhập vào cảnh thu và quan sát những nét thu khi về chiều, vào đêm tối hay
buổi trăng thu viên mãn. Thu ẩm thường diễn ra trong ngôi nhà này vào những thời điểm kể trên. Không
có bóng dáng buổi mai hồng hay chính ngọ trong thơ thu. Phải chăng những thời điểm đó không hợp với
tạng của nhà thơ? Hai buổi đêm và một buổi chiều lần lượt xuất hiện trong Thu ẩm.
Một đêm không trăng dày đặc bóng tối trùm lấp đường ngõ, “lập loè” ánh sáng đom đóm vây bủa đường
thôn (Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè). Một đêm khác trăng soi vằng vặc “bóng trăng vàng từ mặt nước ao
loé ra, bốn chữ 1 gợi chất vàng [đang dàn trải] ba dấu sắc khứ thanh gợi ánh bắn đi từ loa gợi [vòng tròn
lan toả]” (Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến dùng thần bút để cực tả đêm thu.
Một buổi chiều nhẹ thênh từ “nhà cỏ” hay từ bếp nhà ai toả ra làn khói lam chiều? Một nét thân thương và
trìu mến biết bao! Và một buổi chiều khác không còn “tầng mây lơ lửng”, chỉ có da trời ửng màu biếc bao
la vô hạn. Nét phác họa đặc thù này vốn là sở trường của Nguyễn Khuyến.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status