TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT N GHIỆP CỬ N HÂN LUẬ T
KHÓA 36 (2010 – 2014)
Đ Ề TÀI
“BẢO VỆ QUYỀN LỢI TRẺ EM KHI CH A MẸ
LY HÔN Ở GÓC ĐỘ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2000”
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. THẠCH HUÔN
NGUYỄN THỊ Ý
MSSV: 5106025
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LỚP: Luật Thương Mại 1 – K36
Cần Thơ, 11 - 2013
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
GVHD: ThS Thạch Huôn
2
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................4
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................6
3. Phạm vi nghiên cứu ...............................................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................7
5. Bố cục của đề tài ....................................................................................................7
CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN
....................................................................................................................................9
1.1. Khái quát chung về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ........................................9
1.1.1. Một số khái niệm liên quan..............................................................................9
1.1.2. Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn .........................13
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu pháp luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha
mẹ ly hôn ...................................................................................................................15
1.1.4. Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em ....................................17
1.2. Bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn dưới góc độ xã hội và dưới góc
độ pháp luật .............................................................................................................18
1.2.1. Về góc độ xã hội ............................................................................................18
1.2.2. Về góc độ pháp luật.......................................................................................19
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA
MẸ LY HÔN............................................................................................................23
2.1. Quyền nhân thân của trẻ em khi cha mẹ ly hôn ..............................................23
2.2. Quyền tài sản của trẻ em khi cha mẹ ly hôn ....................................................24
2.2.1. Quyền được thừa kế.......................................................................................24
2.2.2. Quyền được có tài sản riêng ..........................................................................25
2.2.3. Quyền được cấp dưỡng..................................................................................27
2.3. Quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em khi cha mẹ ly hôn.......................29
2.4. Quyền trẻ em trong trường hợp cha mẹ chung sống như vợ chồng không
đăng ký kết hôn mà ly hôn ......................................................................................34
5
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc kéo theo sự phát triển xã hội.
Nhưng trong cuộc sống có nhiều biến cố và khi cuộc sống chung của vợ chồng phát
sinh mâu thuẫn không thể kéo dài nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly
hôn là một Tất yếu. Tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng phổ biến cùng với những hệ
lụy của nó ngày càng được xã hội quan tâm. Bởi hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để
lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến một đối tượng rất cần được bảo vệ quyền lợi đó là
những đứa con. Những đứa trẻ ngây thơ vốn cần sự yêu thương, chăm sóc của cha mẹ
trong một gia đình hạnh phúc. Nếu không có sự bảo vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ
và tương lai. Trong khi đó trẻ em là lực lượng nồng cốt, là tương lai của đất nước nên
khi cuộc sống và tương lai của chúng bị ảnh hưởng là mối quan tâm của toàn xã hội.
Do đó, pháp luật đóng vai trò không thể thiếu bảo vệ những đứa trẻ vô tội này. Đây
cũng là nguyên tắc cơ bản, là nội dung xuyên suốt trong Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời góp phần tích cực và quan
trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ
bản như: Quy định về nguyên tắc giao con cho ai nuôi vì quyền lợi mọi mặt của con;
Quy định về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nom con;
Quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặt của con
không được đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng lớn lao mà nguyên tắc đem
lại, trên thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vậy, trên thực tế, nguyên tắc đó đã
được Toà án áp dụng như thế nào, những gì đã làm được và chưa làm được, những giải
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
+ Chương 1: Lý luận chung về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn.
+ Chương 2: Quy định của pháp luật về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn.
+ Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về việc bảo vệ quyền trẻ em khi
cha mẹ ly hôn tại Việt Nam.
GVHD: ThS Thạch Huôn
7
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
LỜI CẢM ƠN
Thế là đã sắp hoàn thành chương trình đại học, nhiều kiến thức kinh nghiệm có
buồn có vui, bất ngờ và cơ hội. Học hỏi được nhiều thứ và nhìn sự việc một cách có
biện chứng tuy không hoàn toàn nhưng ít nhiều thấy không bỡ ngỡ nữa. Nhưng cũng
còn không ít vướng mắc khó khăn lẫn hối tiếc vì lý do chủ quan hay khách quan. Nhận
thấy còn quá nhiều điều phải học hỏi thêm. Khoa Luật trường Đại Học Cần Thơ nơi
cho em kiến thức chuyên môn và thực tế, có các Thầy Cô tận tụy, vui tính, nghiêm
khắc… Đã tạo nền tảng cho em trong suốt thời gian học tập ở trường.
Qua luận này, em xin gởi lời cám ơn đến gia đình những người đã yêu thương
chăm sóc và hỗ trợ em. Cám ơn các anh chị và các bạn đã sát cánh và chia sẽ buồn vui
trong suốt quá trình học. Cám ơn tất cả Thầy Cô đã cho em kiến thức cùng những kinh
nghiệm thực tiễn đặc biệt là Thầy Cô của khoa Luật Đại Học Cần Thơ.
Đặc biệt, em xin gởi lời cám ơn chân thành đến Thầy Thạch Huôn người đã tận
tình hướng dẫn để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Bằng tất cả tấm lòng
- Đặc trưng của của quan hệ hôn nhân dưới chế độ phong kiến là tư tưởng trọng
nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, chế độ đa thê và những
quy định hà khắc, những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn. Nếu ở một xã hội mà hôn
nhân không do sự tự nguyện của hai bên thì ly hôn chỉ là một thứ công cụ bảo vệ hệ tư
tưởng và lợi ích của chế độ phong kiến. Ở chế độ này, người chồng tự cho mình cái
quyền bỏ vợ với những lý do bình thường như: Không có con, ghen tuông, lắm lời..
Trong khi đó, người vợ không có quyền bỏ chồng khi cảm thấy cuộc hôn nhân không
hạnh phúc, dù cuộc sống vật chất lẫn tinh thần có tội tệ đến đâu.
- Trong xã hội tư sản, những quy định về quan hệ Hôn nhân và gia đình có
những bước tiến bộ mới như: Tự do yêu đương, hôn nhân một vợ một chồng, tự do ly
hôn… Tuy nhiên, nhìn vào bản chất, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư
tưởng của giai cấp tư sản do bị ràng buộc bởi những quy định ngăn cấm của nhà làm
luật. Vì vậy những quy định này chỉ mang tính hình thức. Lê Nin nói: “Dưới chế độ tư
bản chủ nghĩa, quyền ly hôn cũng như tất cả mọi quyền dân chủ khác, không loại trừ
một quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng được, nó lệ thuộc vào nhiều
điều kiện, bị giới hạn, bị thu hẹp và có tính chất hình thức”. Có thể thấy rõ điều đó qua
quy định về căn cứ ly hôn: Việc ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương sự.
Lỗi là căn cứ quyết định sự tồn tại của cuộc hôn nhân và ai có quyền xin ly hôn. Như
vậy, không cần quan tâm đến tình trạng cuộc hôn nhân, cuộc sống của gia đình trong
GVHD: ThS Thạch Huôn
9
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
thời gian dài ra sao, chỉ cần một bên có lỗi, cuộc hôn nhân có căn cứ chấm dứt. Ly hôn
không được phản ánh đúng bản chất chỉ là hình thức.
ly hôn và vai trò của cơ quan xét xử ở các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau. Ở
thời kỳ phong kiến và tư bản, cơ quan xét xử không quan tâm nhiều đến cuộc sống tình
cảm của vợ chồng có chấm dứt chưa mà chỉ cần xem xét “lỗi” mà các bên đưa ra có
đúng và hợp lý không. Vì vậy, việc xét xử hoàn toàn thụ động. Còn ở chế độ độ Xã hội
chủ nghĩa tòa án với vai trò là người thứ ba nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đi
GVHD: ThS Thạch Huôn
10
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
vào bản chất của vấn đề để quyết định mở ra một lối thoát hay giữ lại cuộc sống bình
yên sau những quyết định nhất thời của vợ chồng.
* Trẻ em:
Mỗi trẻ em là con người với những đặc điểm riêng về thể chất và tâm lí. Những
đặc điểm và khả năng của trẻ em khác nhau theo lứa tuổi và sự trưởng thành. Do hạn
chế nhận thức từ cuộc sống nên trẻ em rất dễ bị lợi dụng, dụ dỗ và những điều bất lợi
khác, rất cần sự bảo vệ, giúp đỡ của người lớn đặc biệt là gia đình.
Theo công ước Liên hợp Quốc vì quyền trẻ em đã ghi nhận “Trẻ em có nghĩa là
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể áp dụng với trẻ em đó quy định
tuổi thành niêm sớm hơn”. Theo pháp luật Trung quốc quy định tài Điều 2 Luật bảo vệ
người chưa thành niên: “Trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới
18 tuổi”. Tại Điều 4 Luật phúc lợi trẻ em năm 1947 của Nhật bản cũng quy đinh trẻ
em là người dưới 18 tuổi. Theo Điều 1 pháp Luật Liên ban Nga số 124 – FZ ngày
21/07/1998 (sửa đổi) thì trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18. Nhưng theo Luật
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định khác hơn so với công ước cụ
thể tại Điều 1: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Việc quy định khác của
điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình. Trẻ em còn có
quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hoà bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn
thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp.
- Công ước vì quyền trẻ em của Liên hợp Quốc 1989: Khẳng định trẻ em là chủ
thể của các quyền, không đơn giản chỉ là đối tượng được quan tâm hoặc dành cho các
dịch vụ phúc lợi, chúng được hướng các quyền của mình thông qua hoạt động của nhà
nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Quyền trẻ em trong công ước của Liên hợp Quốc năm
1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em bao gồm: Quyền sống
còn, quyền đượ bảo vệ, quyền đượ phát triển, quyền được tham gia một số biện pháp
bảo vệ giành dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Trong pháp luật Việt Nam: Hiến Pháp 1992 ghi nhận quyền trẻ em là quyền
được chăm sóc, bảo vệ,1 nhấn mạnh quyền được giáo dục giáo dục là quốc sách hàng
đầu,2 luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng đã nói rõ quyền cơ bản
và bổn phận của trẻ em.3 Bộ Luật trong lĩnh vực dân sự gồm: Quyền, nghĩa, vụ và
những bảo đảm pháp lý. Luật quốc tịch Việt Nam, Bộ Luật dân sự 2005 có những quy
định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của trẻ em với tư cách là một cá nhân nên có
quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiên liên nhất của trẻ em.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân là phải đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của
trẻ em để trẻ em có thể phát triển một cách toàn diện.
* Đối tượng được bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn:
Đề tài này người viết hướng tới đối tượng được quy định là trẻ em theo Luật
Việt Nam là dưới 16 tuổi. Ở độ tuổi này thì nhận thức cũng như khả năng tự tạo cuộc
sống cho mình chưa hoàn thiện việc quy định này rất phù hợp với tình trạng thực tế.
Do luật không nói rõ là trẻ em có bao gồm thai nhi hay không nên người viết mở rộng
thêm đối tượng này. Tức là nếu xác định đứa bé đã thành thai thì khi cha mẹ ly hôn
việc bảo vệ quyền lợi thai nhi sẽ được áp dụng như một trẻ em. Đối tượng kế tiếp là
con trên 16 tuổi theo luật định nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Điều này rất hợp lý thể hiện
tính nhân đạo và công bằng về mặt pháp lý góp phần giảm bớt những hoàn cành
thương tâm và gánh nặng xã hội. Một đối tượng nữa cũng được đề cập đến là con nuôi
- Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con nuôi;
- Không phải là người bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niêm hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; Ngược đãi hoặc hành
hạ cha, mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình; Dụ dỗ, ép buộc hoặc
chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em;
các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; Có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những
việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Trong trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ điều
kiện quy định nêu trên.
Các đối tượng trên là những đối tượng trong đề tài người viết muốn đề cặp tới
trong việc bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn.
1.1.2. Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn
Gia đình tập hợp các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ
nuôi dưỡng. Khi ly hôn quan hệ hôn nhân chấm dứt nhưng quan hệ huyết thống hay
quan hệ nuôi dưỡng vẫn còn. Trên phương diện pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng đã không còn nhưng quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đối với con cái vẫn không
thay đổi. Trên phương diện đạo đức, cha mẹ là người sinh thành ra con cái phải có
trách nhiệm chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên, con cái không thể tự lo cho
mình, không phụ thuộc vào hoàn cảnh của cha mẹ. Khi ly hôn, vợ chồng đã tìm thấy
lối thoát cho bản thân nhưng lại không tránh khỏi gây ra đau khổ, thiệt thòi cho con
cái. Khi đã quyết định ly hôn thì vợ và chồng đã muốn tìm cho mình một cuộc sống
riêng không can dự vì đến đối phương nữa. Đó là hậu quả pháp lý mà trẻ em phải chịu,
để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, pháp luật quy định con chỉ được sống với một người
và đó là người có khả năng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ. Còn người còn lại
phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách gián tiếp thông qua hình thức cấp dưỡng.
Sự thiệt thòi còn thể hiện về mặt tinh thần, khi gia đình có nhiều con và cha hoặc mẹ
GVHD: ThS Thạch Huôn
mà những đứa con phải gánh chịu thật quá bất công và nguy hiểm cho nhận thức và sự
phát triển của chúng. Trẻ rơi vào tình trạng bất an, lo lắng, có cảm giác bị bỏ rơi, có
những trường hợp rơi vào trầm cảm hoặc thay đổi trở thành một con người khác và
hành động một cách cảm tính. Điều này rất nguy hiểm, không những ảnh hưởng đến
học tập mà còn có thể ảnh hưởng đến lối sống và hành vi của trẻ đối với xã hội…
Những trẻ em sống trong gia đình ly hôn thường rất mặc cảm với cuộc sống xung
quanh thường so sánh với bạn bè hay bị tâm lý bất ổn. Nhìn xa hơn ở những trường
hợp cha mẹ ly hôn mà cả hai đều chạy theo cuộc sống riêng của mình, những đứa con
sẽ rơi vào tình trạng bơ vơ, bị bỏ rơi thiếu thốn về vất chất lẫn tinh thần, sẽ rất dễ
vướng vào những cạm bẫy, cám dỗ và rơi vào con đường phạm pháp.
Bên cạnh đó, theo các báo cáo hàng năm "Tình trạng trẻ em trên thế giới", trẻ
em thường phải mang những gánh nặng và chịu sự đối xử không bình đẳng khi gia
4
Xa lộ pháp luật, Người đàn bà “ác quỷ” vì giận chồng, “ném” con thơ xuống sông, http://xahoi.com.vn/anninh-hinh-su/toa-tuyen-an/nguoi-dan-ba-ac-quy-vi-gian-chong-nem-2-con-tho-xuong-song-146031.htm, [ngày
truy cập 11 – 9 – 2013].
GVHD: ThS Thạch Huôn
14
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
đình tan vỡ dẫn đến hang loạt vấn đề xã hội phát sinh mà hứng chịu nặng nề nhất là
bản thân của những đứa trẻ. Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới đều đã có những văn
bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền trẻ em thì hàng ngày hàng giờ những quyền ấy vẫn
tiếp tục bị xâm phạm.
cho con sự sống. Sự vất vả, bận rộn luôn được động viên bởi suy nghĩ là để đem lại sự
đầy đủ, niềm vui cho con, tạo cho con cuộc sống tốt về vật chất lẫn tinh thần. Tuy
nhiên, khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt
GVHD: ThS Thạch Huôn
15
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
được và dẫn đến ly hôn, gia đình tan vỡ vợ chồng có hướng đi riêng và phân chia
quyền lợi cũng như kết thúc quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, những đứa con rất dễ
rơi vào tình trạng bị bỏ rơi hoặc chỉ nhận được một nửa sự yêu thương. Để bảo vệ
quyền lợi cho trẻ pháp luật đã quy định nuôi con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa
vụ của cha mẹ. Nuôi con là một nghĩa vụ luật định nhằm nâng cao trách nhiệm của
người làm cha, mẹ, đặc biệt là khi họ đã ly hôn. Đó cũng là cơ sở pháp lý để bảo vệ
quyền lợi cho con khi người làm cha mẹ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
1.1.3.2. Sự tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Lịch sử đất nước ta từ xưa đến nay, tình cảm gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử
luôn chiếm vị trí thiên liêng trong tâm hồn người mỗi người. Người ta ca giá trị truyền
thống cao đẹp này và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tháng 7 âm lịch hàng
năm được gọi là tháng Vu lan báo hiếu cha mẹ, góp phần khắn khích thêm tình cảm
gia đình. Mùng 1 tết cha mùng 2 tết mẹ đây là dịp để những người con thể hiện sâu sắc
hơn lòng yêu kính đối với ông bà và mùng 3 tết thầy là câu nói dân gian mà cha ông ta
để lại nhằm nhắc nhở thế hệ sau tưởng nhớ đến cội nguồn nhớ đến tổ tiên dù ở nơi đâu
cũng về báo hiếu, chung vui với gia đình vào những ngày đặc biệt. Dù cuộc sống vất
vả, lam lũ, dù đất nước chiến tranh liên miên nhưng giữa những khó khăn vẫn sáng loà
tình cảm gia đình, tình yêu thương, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái. Nó đã kết tinh
của con chứ không phải dựa vào lỗi của cha mẹ - căn cứ dẫn đến ly hôn trong pháp
luật tư bản chủ nghĩa. Trong mọi trường hợp th́ ì quyền lợi của con luôn được đặt lên
hàng đầu, đã thể hiện được bản chất nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
1.1.4. Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em
Bảo vệ quyền lợi của trẻ không còn là trách nhiệm của mỗi gia đình mỗi quốc
gia mà là của toàn thế giới, ngay từ xa xưa vấn đề này đã được quan tâm và tùy theo
hình thái xã hội và tình hình cụ thể quyền lợi trẻ được thể hiện khác nhau.
Ngày 10/2/1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và tuyên bố NQ số
217A về Quyền con người. Tại điều 25, Liên hợp quốc đã thông báo rằng: “Trẻ em có
quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt, tất cả trẻ em trong hay ngoài giá thú đều
được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau”. Đứng trước tình hình trẻ em bị ngượi đãi bị
lạm dụng nghiêm trọng, lang thang cơ nhở đặc biệt là sau hai vụ thảm sát của phát xít
Đức gây ra ở làng Liđisơ – Tiệp Khắc ngày 10/6/1942 và làng Ôrađua – Pháp ngày
10/6/1944, mấy trăm em thiếu nhi của hai làng bị giết hại, đã gây ra sự chấn động dư
luận. Tháng 2/1949 Hội phụ nữ châu Á họp ở Bắc Kinh đã có sáng kiến đề nghị Hội
Phụ nữ dân chủ thế giới chọn một ngày thiếu nhi quốc tế để kêu gọi toàn thế giới đấu
tranh chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ nhi đồng và là ngày đoàn kết thiếu
nhi quốc tế. Trong một phiên họp đã quyết định chọn ngày 1/6 hàng năm là ngày
“Quốc tế bảo vệ thiếu nhi” và nhắc nhở mọi người tưởng nhớ vụ thảm sát man rợ ở
Liđisơ và Ôrađua. Kể từ 1950 trở đi ngày 1/6 đã được tổ chức ở khắp thế giới. Tháng
4/1952 Hội nghị bảo vệ thiếu nhi thế giới có 64 nước tham gia họp ở Viên – Áo đã
nhất trí lấy ngày 1/6 chính thức là ngày Quốc tế bảo vệ thiếu nhi. Điều đó khẳng định
trẻ em là Đối tượng được nhân loại toàn thế giới luôn quan tâm. Vì vậy ngày
20/11/1989 Liên hợp quốc đã thông qua và phê chuẩn “Công ước về quyền trẻ em” bao
gồm 54 điều khoản có hiệu lực từ ngày 20/11/1990. Trong lời mở đầu, công ước đã
khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn
lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm
thông… trẻ em cần được chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội và
cần được nuôi dưỡng theo tinh thần các lý tưởng được nêu ra trong hiến chương Liên
hợp quốc, đặc biệt trong tinh thần hòa bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình đẳng và
gia đình Việt Nam, nó là cơ sở cho Tòa án và các bên đương sự giải quyết vấn đề ly
hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giúp con người thoát ra khỏi sự ràng buộc
không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn.
Sự bùng nổ bất hòa trong gia đình là một đề tài của sự lo âu đối với đứa trẻ:
Không biết người ta còn lo cho mình nữa không? Ai sẽ là người đảm trách việc này?
Đứa trẻ tự cảm thấy bị đẩy đưa trong một không khí bất an nơi mà người ta coi chúng
như là đối tượng để tranh giành tình cảm và quyền lợi tài chính để có được một số
quyền hạn thăm viếng hay trợ cấp để nuôi chúng, hay chỉ là sự chiến thắng với lòng ít
kỉ thù hận lẫn nhau của vợ chồng ly hôn.
Và một điều chắc chắn những đứa trẻ có hoàn cảnh bố mẹ ly hôn không có được
những điều kiện đầy đủ. Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cho
thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đến nơi
đến chốn. Một nghiên cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội
của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn; 28% phàn
nàn bố mẹ không quan tâm đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em.5 Có thể thấy, nếu
không quan tâm đúng cách trẻ em có cha mẹ ly hôn thì số lượng tội phạm xã hội trẻ
em tăng lên gây khó khăn cho phát triển đất nước, vì khi không được quan tâm, chăm
5
ThS Đặng Thanh Nga (Viện Tâm lý học), Trẻ em vị thanh niên phạm tội do ảnh hưởng của gia đình,
http://www.tin247.com/tre_vi_thanh_nien_pham_toi_do_anh_huong_cua_gia_dinh-7-64459.html, [ngày truy
cập 31/10/2013].
GVHD: ThS Thạch Huôn
18
SVTH: Nguyễn Thị Ý
chiến lược phát triển con người xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử và cách mạng Việt
Nam. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với việc khẳng định con người là trung tâm
của sự phát triển và chăm lo đến quyền và lợi ích chính đáng của tất cả mọi người là
mục tiêu của phát triển. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011) đã tái khẳng định những giá trị nền tảng này và phát triển, bổ sung những nội
dung mới trong mục tiêu “Về phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện chính
sách xã hội” đó là: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển; Tôn trọng và bảo
vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước
GVHD: ThS Thạch Huôn
19
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
và quyền làm chủ của nhân dân; Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng,
bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; Chăm lo đời sống những người
già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi; Thực hiện bình đẳng giới,
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em... nhằm bảo đảm cho thế hệ trẻ Việt Nam phát
triển toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp
thu tinh hoa của thế giới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị đã ra Chỉ
thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Những quan điểm được thể hiện trong các
văn kiện của Đảng là cơ sở quan trọng để hình thành các chính sách và pháp luật của
Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cũng như các cấp chính quyền trong
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
và nhóm chính sách về các vấn đề, lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, trong nhóm chính sách
chung gồm có:Thứ nhất, mọi trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội. Thứ hai, bình đẳng
và không phân biệt đối xử đối với mọi trẻ em. Thứ ba, Nhà nước quan tâm đặc biệt tới
nhóm trẻ em thuộc đối tượng chính sách, trẻ em khuyết tật, trẻ em nạn nhân chất độc
da cam, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ em thuộc hộ nghèo và cận nghèo, trẻ em
là người dân tộc thiểu số... Thứ tư, chính sách bình đẳng dân tộc và đại đoàn kết dân
tộc tạo cho mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng về cơ hội trong việc tiếp cận chăm sóc,
bảo vệ, giáo dục và phát triển. Thứ năm, thực hiện chính sách nhân đạo, khoan dung và
giáo dục, xử lý chuyển hướng đối với trẻ em làm trái pháp luật.
Các chính sách cụ thể bao gồm: Một là, trẻ em dưới 6 tuổi được khám, chữa
bệnh miễn phí. Trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được
khám, chữa bệnh theo chế độ miễn, giảm phí. Hai là, giáo dục tiểu học phổ cập, bắt
buộc và miễn phí. Trẻ em được học tiểu học hoàn toàn miễn phí tại các trường công
lập. Ba là, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em dưới 1 tuổi; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
của trẻ xuống 15% vào năm 2015. Bốn là, phòng, chống tai nạn thương tích đối với trẻ
em; phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em; Phòng, chống lạm dụng và bóc lột sức lao
động trẻ em. Năm là, trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước, xã hội chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sáu là, trẻ em thuộc đối tượng chính sách được miễn
giảm học phí ở bậc giáo dục trung học cơ sở.
Các chương trình quốc gia, như Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em
(1991 - 2000) và Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 đã
được triển khai chính là sự cụ thể hóa các chính sách đó. Chương trình hành động
quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 nêu lên 15 nhóm mục tiêu và đưa ra 8 hệ
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và được sửa
đổi, bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 51/2001/NQ-QHX ngày 25-12-2001 (các
điều 35, 36, 40, 59, 63, 64, 65 và 67).
- Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI kỳ hợp thứ 7 thông qua ngày 14-06-2005 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01-01-2006 thay thế cho Bộ luật dân sự 1995.
- Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ hợp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có
hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005 thay thế cho Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em 1991.
- Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 thay
thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
- Luật quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 đã được Quốc hội nước cộng hòa
xã hội chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ hợp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm
2008 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 thay thế Luật quốc tịch
1998.
Có thể thấy không chỉ ở góc độ xã hội mà góc độ pháp luật Nhà nước rất quan
tâm đến bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn. Việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật đã khẳng định rằng: Bảo vệ quyền lợi trở em khi cha mẹ ly hôn là vấn đề lớn
của xã hội không chỉ là ý thức chủ quan mà còn lại nhiệu vụ bắt buộc không thể chối
bỏ.
GVHD: ThS Thạch Huôn
22
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
trẻ em. Ngoài ra, các em còn được bảo vệ bằng các văn bản pháp luật khác như: Luật
quốc tịch năm 2008, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004…
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn về nguyên tắc chung khi bản án quyết
định ly hôn của Tòa án có hiệu luật pháp luật, quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt. Người
vợ, chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác. Sau khi ly hôn, các quyền và
nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, không phụ thuộc vào ý
chí của vợ chồng nữa mà chính Tòa án sẽ quyết định. Điều này có nghĩa quyền và
nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn, gắng bó tương ứng giữa vợ
GVHD: ThS Thạch Huôn
23
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
chồng trong thời kỳ hôn nhân (nghĩa vụ yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ
nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau…) sẽ
đương nhiên chấm dứt khi Tòa án công nhận vợ chồng đã ly hôn. Một số quyền nhân
thân với tư cách là một công dân của vợ, chồng sẽ không bị ảnh hưởng, không thay đổi
khi ly hôn (quyền về họ, tên, tôn giáo, dân tôc, quốc tịch, nghề nghiệp…). Đối với
quyền nhân thân của con cái khi cha mẹ ly hôn thì không thay đổi. Theo Khoản 1 Điều
92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có
nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã
thành niên bị tàn tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình” điều này có nghĩa khi một đứa trẻ cho cha mẹ đã ly
hôn thì vẫn được hưởng quyền nhân thân như những đứa trẻ trong những gia đình
khác. Đối tượng là con nuôi cũng được hưởng quyền nhân thân như con ruột. Do thai
nhi chưa là một cá nhân cụ thể nên quyền nhân thân không được đề cập tới mà sẽ được
24
SVTH: Nguyễn Thị Ý
Luận văn tốt nghiệp Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
thừa kế thứ nhất và cũng được bảo đảm quyền lợi như con ruột khi cha mẹ ly hôn,
nhưng con nuôi không thể thế vị cha, mẹ nuôi để nhận phần di sản mà cha, mẹ nuôi
được hưởng nếu họ còn sống. Điều 681 Bộ luật dân sự con nuôi bảo tồn quyền thừa kế
đối với di sản của những người thân thuộc do huyết thống: Con nuôi là người thừa kế
theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của cha mẹ ruột, là người thừa kế theo pháp luật
thuộc hàng thứ hai của anh, chị, em ruột, là người thừa kế thế vị của cha mẹ ruột trong
di sản của ông bà nội (ngoại)… Mặc dù là con nuôi của gia đình khác nhưng con nuôi
vẫn có quyền thừa kế từ cha mẹ ruột (nếu có) và tài sản đó sẽ là tài sản riêng của con
nuôi.
Quy định về quyền được thừa kế của con thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến
quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn, luôn cố gắng bù đắp những thiệt thòi cho con
có cha mẹ ly hôn.
2.2.2. Quyền được có tài sản riêng
Nhìn nhận theo góc độ pháp luật thì con cũng là một cá nhân và cũng có quyền
có tài sản riêng, nhìn nhận việc có tài sản riêng của con chung quy cũng là hệ quả của
việc thừa nhận năng lực pháp luật của cá nhân trong lĩnh vực tài sản: Ngay từ khi sinh
ra, cá nhân có thể có quyền sở hữu đối với tài sản. Giải pháp này thể hiện một bước
tiến quan trọng của pháp luật gia đình Việt Nam, bởi trong một thời kỳ dài, người con
dù đã thành niên cũng không có tài sản riêng khi cha mẹ còn sống. Trên nguyên tắc,
quyền sở hữu mang tính độc quyền: Người không phải là chủ sở hữu không có quyền
đối với tài sản của người khác, trừ trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao một hoặc
nhiều quyền liên quan đến tài sản. Đối với tài sản của con thì:
- Đối với trẻ em chưa thành niên: Trẻ chưa thành niên chưa đủ sức khỏe và trình