Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn (thực tiễn xét xử tại các toà án thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế) - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LIÊN
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN
(THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI CÁC TÕA ÁN
THUỘC TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ)

Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN CỪ HÀ NỘI - 2012

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
5. Những điểm mới của luận văn 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7. Kết cấu của luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN 7
1.1. Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn 7
1.1.1. Các quyền cơ bản của con theo quy định của pháp luật 7
1.1.2. Khái niệm chung về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn 14
1.1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn 15
1.2. Những nội dung cơ bản của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha
mẹ ly hôn 19
1.2.1. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục 20
1.2.2. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn 26
1.2.3. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn 47
Chƣơng 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CỦA CON KHI GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI
CÁC TÕA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ 51
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế ảnh
hưởng đến việc ly hôn và việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha
mẹ ly hôn 512.2. Quan điểm chung về việc bảo vệ quyền lợi của con khi giải quyết
các vụ việc ly hôn tại các tòa án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế 53
2.3. Vấn đề áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi của con khi giải quyết
các vụ việc ly hôn qua hoạt động xét xử của các tòa án trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế 56
2.3.1. Vấn đề giao con cho ai nuôi sau khi vợ chồng ly hôn 56
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS
:
Bộ luật Dân sự
BVCS&GDTE
:
Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
HN&GĐ
:
Hôn nhân và gia đình
TAND
:
Tòa án nhân dân
THA
:
Thi hành án
Nghị định số
70/2001/NĐ-CP
:
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000.
Nghị định số
87/2001/NĐ-CP
:
Nghị định số 87/2001/NĐ-CP của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và

năm 1989 mà Việt Nam đã tham gia.
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của
con khi cha mẹ ly hôn, tuy nhiên việc áp dụng các quy định này trong thực
tiễn xét xử còn có những vướng mắc nhất định, đặc biệt là việc thi hành phần
bản án có liên quan đến quyền lợi của con trong thực tiễn.
Tại tỉnh Thừa Thiên - Huế, nguyên tắc này đã được tòa án áp dụng như
thế nào trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn, quyền lợi của con cái có
được bảo vệ khi cha mẹ ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) năm 2000 hay không là một vấn đề cần được quan tâm.
Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ
ly hôn (thực tiễn xét xử tại các toà án thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế)” làm đề
tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Dân sự. 2
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta, bên cạnh những
văn bản hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ, mới chỉ có một số bài viết trên
các Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), Tạp chí Dân chủ và
pháp luật nghiên cứu, đề xuất kiến nghị một số vấn đề liên quan đến cấp
dưỡng nuôi con, hậu quả pháp lý của ly hôn đối với con cái. Trong đó có thể
kể đến bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Phương Lan - Trường Đại học Luật Hà
Nội như: “Vấn đề cấp dưỡng trong Luật HN&GĐ năm 2000” đăng trên Tạp
chí Luật học, số 1/2001; Bài viết của ThS. Bùi Thị Mừng - Trường Đại học
Luật Hà Nội: “Về việc xem xét nguyện vọng của con khi giải quyết vấn đề
giao con cho ai nuôi trong các vụ án ly hôn”, đăng trên Tạp chí Luật học, số
5/2004; Bài viết của Phạm Thanh Hải: “Về mức cấp dưỡng nuôi con sau khi
ly hôn”, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2001… Ngoài ra còn có
một số bài viết đăng trên các báo điện tử như vietbao.vn; vietnamnet.vn;
thongtinthuvienphapluat.wordpress.com Trong các giáo trình giảng dạy luật

con, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng giải quyết.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về
vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
Thứ hai, phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật của các TAND ở
tỉnh Thừa Thiên - Huế trong quá trình giải quyết các vụ việc ly hôn để bảo vệ
quyền lợi của con cái trong giai đoạn từ năm 2007 - năm 2011.
Thứ ba, qua thực tiễn xét xử tại các toà án trên địa bàn tỉnh Thừa
Thiên - Huế phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng và thi hành pháp luật, đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục,
nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên - Huế. 4
* Đối tượng
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật HN&GĐ
ở nước ta về việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
- Nghiên cứu các bản án của các toà án ở các cấp xét xử, cũng như các
quyết định công nhận thuận tình ly hôn ở góc độ bảo vệ quyền lợi của con qua
việc vận dụng pháp luật giải quyết các vụ việc ly hôn cụ thể của các toà án
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các văn bản pháp luật được áp dụng có liên quan đến vấn
đề này (chủ yếu được quy định từ Điều 92 đến Điều 94 Luật HN&GĐ năm
2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành) và thực tiễn áp dụng các quy định
đó trong hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế, TAND Thành
phố Huế và TAND huyện Phong Điền (từ năm 2007 - năm 2011), từ đó làm rõ các
yêu cầu mà đề tài đặt ra.

- Trước hết, luận văn chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề ra các giải
pháp kiến nghị trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn để từ
đó có thể được sử dụng tham khảo trong quá trình sửa đổi luật HN&GĐ năm
2000 về ly hôn.
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về
vấn đề HN&GĐ nói chung và quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn nói riêng.
* Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu chỉ ra những vướng mắc, bất cập và kiến nghị
hướng hoàn thiện trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế. Những ý kiến này có thể được sử dụng tham
khảo trong hoạt động xét xử của các tòa án để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của
con khi cha mẹ ly hôn. 6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ
ly hôn.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi
giải quyết ly hôn tại các tòa án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Chương 3: Những khó khăn, vướng mắc trong việc bảo vệ quyền lợi
của con khi giải quyết ly hôn tại các tòa án tỉnh Thừa Thiên - Huế và phương
hướng giải quyết.
quốc gia đã thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ năm 1924 về quyền trẻ em trong
đó khẳng định trẻ em cần được chăm sóc đặc biệt. Tuyên ngôn về các quyền
của trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1959 khẳng định:
“Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt đẹp nhất” [10]. Tiếp đó,
Điều 24 Công ước về các quyền chính trị - dân sự năm 1966 (Việt Nam gia
nhập năm 1982) nêu rõ: “Mọi trẻ em đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của
gia đình, xã hội và nhà nước” [16]. Điều 10 Công ước về các quyền kinh tế -
xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định: “Thanh
thiếu niên cần được bảo vệ và không bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc
lột lao động trẻ em” [17]. 8
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước
của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (Công ước về quyền trẻ em). Theo quy
định tại Điều 49 của Công ước thì Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực từ
ngày 02/9/1990. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và là
nước thứ hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em vào ngày
20/2/1990.
Phần lời nói đầu của Công ước xác định lý do để bảo vệ các quyền trẻ
em là vì “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được chăm sóc và
bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau
khi ra đời” [18]. Với khẳng định trong phần Lời nói đầu, các quốc gia thành
viên tiếp tục khẳng định một cách cụ thể, chi tiết hơn các quyền của trẻ em,
gồm các quyền cụ thể như: Quyền về không phân biệt đối xử đối với trẻ em,
quyền được có họ tên và quốc tịch, quyền được bảo vệ và chăm sóc, quyền
không bị cách ly khỏi cha mẹ, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được
học hành, quyền trẻ em trong trường học, quyền được sống trong môi trường
lành mạnh, quyền được giải trí, quyền được thông tin, quyền được tổ chức
hội họp, quyền được tự do bày tỏ ý kiến, quyền được bảo vệ chống lại sự

môi trường gia đình của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản
thân mình mà không được phép tiếp tục ở trong môi trường ấy, có quyền
được hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của nhà nước” [18].
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 là điều ước quốc tế đa phương
phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan
tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ. Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ
em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ
của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và mối quan hệ giữa
quyền trẻ em với quyền con người nói chung.
Ở nước ta, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là đường lối nhất quán,
xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cho đến 10
nửa cuối những năm 80, Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới
Nhà nước về nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng là một bộ
phận quan trọng của công cuộc đổi mới này. Đường lối, chính sách đổi mới
của Đảng đối với trẻ em được tiến hành theo cả chiều sâu và chiều rộng.
Đường lối của Đảng về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được cụ thể hoá
trong pháp luật. Và chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong suốt
một thời gian dài kể từ khi đổi mới cho đến nay. Hàng loạt các văn bản có
hiệu lực pháp lý cao đã ra đời nhằm thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng về trẻ em vào trong hệ thống pháp luật cho phù hợp với điều kiện mới
và sau này được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em (BVCS&GDTE) năm 1991, năm 2004; Bộ luật Lao động năm
1994; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, năm 2005; Luật Giáo dục năm
2005; Luật Quốc tịch năm 2008; Bộ luật Hình sự năm 1999; Luật HN&GĐ
năm 1959, năm 1980, năm 1986 và năm 2000 cùng các văn bản dưới luật
khác để hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, Nhà nước còn tổ chức triển khai và
thực hiện nhiều chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên các lĩnh vực

hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực
hiện tội phạm. Ngoài ra, Luật Tố tụng hình sự - ngành luật hình thức quy
định trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của Luật Hình sự - cũng bảo vệ
quyền trẻ em theo tính chất đặc thù riêng của mình. Đó là trao cho trẻ em
các quyền tố tụng để họ tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời Luật Tố
tụng hình sự quy định những điều luật cụ thể nhằm đảm bảo cho việc điều
tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự được khái quát, toàn diện và đúng pháp
luật, tránh làm oan người vô tội.
Luật Dân sự coi trẻ em như một thành viên của đời sống dân sự và có
những quy định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của trẻ em trong lĩnh
vực dân sự, gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý. Bảo vệ quyền 12
trẻ em được thể hiện ở các quy định về giám hộ đối với người chưa thành
niên, về năng lực chủ thể dân sự của người chưa thành niên, về thừa kế, về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên và do người
chưa thành niên gây ra.
Cũng như Luật Hình sự, Luật Dân sự cũng có một ngành luật hình thức
tương ứng, đó là Luật Tố tụng dân sự. Luật Tố tụng dân sự cũng bảo vệ quyền
trẻ em thông qua các quy định riêng đối với người chưa thành niên khi tham
gia các quan hệ tố tụng dân sự. Luật Lao động coi trẻ em là một đối tượng đặc
biệt và đặt ra các quy định riêng đối với người lao động chưa thành niên,
nhằm đảm bảo quá trình thực hiện quan hệ lao động của người chưa thành
niên diễn ra bình thường, tránh khỏi các công việc quá sức, độc hại, lạm dụng
sức lao động của người chưa thành niên, đảm bảo cho quá trình phát triển
bình thường của trẻ em trong môi trường lao động.
Với phạm vi điều chỉnh đặc thù của mình, Luật HN&GĐ xem trẻ em
như là một thành viên đặc biệt của gia đình, cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt.
Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em thể hiện trong các quy định của Luật HN&GĐ về

quyền trẻ em đều được thể hiện nhất quán và thể chế hoá vào các quy định cụ
thể của mỗi lĩnh vực pháp luật khác nhau.
Như vậy, sự điều chỉnh của Công ước về quyền trẻ em cùng với sự điều
chỉnh của pháp luật quốc gia đã tạo nên một khung pháp luật về trẻ em tương
đối hoàn thiện và trên phương diện rộng.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật Quốc tế và pháp luật Việt Nam
về các quyền cơ bản của trẻ em chúng ta thấy trẻ em là đối tượng cần phải
được bảo vệ, đặc biệt là trong xã hội ngày nay, khi mà tình trạng ly hôn giữa
các cặp vợ chồng ngày càng gia tăng nhanh chóng. Khi cha mẹ ly hôn, Luật
HN&GĐ Việt Nam đã có nhiều quy định để bảo vệ quyền lợi của các con.
Đây được xem như là một nguyên tắc khi giải quyết ly hôn của cơ quan nhà 14
nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích của con trẻ. Việc ly hôn là để chấm
dứt cuộc hôn nhân không hạnh phúc của cha mẹ nhưng con cái lại chịu ảnh
hưởng rất lớn từ việc này. Do đó cần phải bảo vệ quyền lợi của con có cha mẹ
ly hôn vì việc ly hôn không chỉ là việc riêng của cha mẹ mà còn liên quan đến
con, liên quan đến lợi ích của xã hội.
1.1.2. Khái niệm chung về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
“Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước” [2],
quyền và lợi ích của trẻ em được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Điều 65 Hiến
pháp năm 1992 ghi nhận “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục” [26]. Điều luật trên được cụ thể hóa thành một trong
những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ, Khoản 6 Điều 2 Luật HN&GĐ
năm 2000 quy định “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ
nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”
[28]. Khi cha mẹ ly hôn thì người cần được pháp luật bảo vệ cơ bản là trẻ em,
người chưa thành niên. Vì vậy, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của con
chính là bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện, nhưng gắn với

1.1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
Có một bài hát rất quen thuộc với hầu hết trẻ em Việt Nam là bài “Trẻ
em hôm nay thế giới ngày mai”. Câu hát thân quen này bao hàm rất nhiều ý
nghĩa khác nhau để chúng ta thấy được rằng trẻ em là tương lai của dân tộc và
của cả thế giới này. Câu hát như là khẩu hiệu kêu gọi tất cả mọi người cùng
chung tay bảo vệ trẻ em, xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn cho trẻ em.
“Năm 2011 là một năm cột mốc quan trọng đối với công tác bảo vệ,
chăm sóc trẻ em tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một Chương
trình Quốc gia Bảo vệ trẻ em cho giai đoạn 2011-2015 với tổng kinh phí được
Chính phủ phê duyệt là 1.755 tỷ đồng” [3]. Theo đó, việc chăm sóc trẻ em ở
Việt Nam luôn được Nhà nước và xã hội quan tâm, đặc biệt đối với những trẻ 16
em có cha mẹ ly hôn. Đây là đối tượng dễ bị tổn thương nhất, ảnh hưởng
không nhỏ đến tương lai, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ sau này. Do vậy, trẻ
có cha mẹ ly hôn cần được pháp luật bảo vệ.
Khoản 1 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Sau khi ly hôn,
vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con
chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân
sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” [28].
Như vậy, qua quy định tại điều luật trên thì bảo vệ quyền lợi của con
khi cha mẹ ly hôn chỉ được đặt ra đối với con chưa thành niên; con đã thành
niên thuộc diện bị tàn tật, bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Ngoài ra, con thành thai trong
thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt cũng là con chung
của vợ chồng nên đây cũng là đối tượng cần được bảo vệ khi cha mẹ ly hôn.
Theo BLDS năm 2005 thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18
tuổi. Ở lứa tuổi này xét về cả tâm lý, sinh lý của trẻ đều chưa phát triển hoàn
thiện để có thể tự bảo vệ, chăm sóc bản thân. Đối với trẻ từ đủ 15 tuổi đến

kém ở trường, nghiện hút hoặc uống rượu bia và những vấn đề hành vi khác
như bạo lực, tự sát [44].
Theo những đánh giá trên thì cha mẹ ly hôn tác động sâu sắc theo chiều
hướng tiêu cực đến tình cảm, nhận thức, hành vi của trẻ. Do vậy, những đứa
trẻ có cha mẹ ly hôn thường dễ bị tổn thương về mặt tâm lý và sự phát triển
thể chất, trí tuệ nên cần có sự quan tâm sát sao từ phía cha, mẹ, nhà trường,
người thân trong gia đình và cộng đồng nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả của
ly hôn đối với con cái.
Như chúng ta đã biết, gia đình là nơi gắn kết các thành viên, là nơi
thể hiện sự yêu thương, gắn bó với nhau. Gia đình cũng là môi trường đầu
tiên và tốt nhất cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ, bảo đảm cho các em trở
thành công dân có ích cho xã hội, nhưng khi cha mẹ ly hôn thì gia đình 18
không thể nào tránh khỏi ly tán giữa các thành viên. Sự chăm sóc, giáo dục
của gia đình đối với các em bây giờ cũng có sự thay đổi. Cụ thể là trẻ chỉ
được sống chung với một bên cha hoặc mẹ của chúng. Đây là những mất
mát to lớn về mặt tình cảm, sự yêu thương, chăm sóc, giáo dục của cha
hoặc mẹ cũng như điều kiện vật chất tốt nhất cho sự phát triển thể chất của
trẻ nên dễ dẫn đến sự lệch lạc về nhân cách và nhận thức. Ở lứa tuổi chưa
thành niên, trẻ đang trong quá trình hình thành nhân cách nên rất cần được
dạy dỗ, chăm sóc, chỉ bảo, định hướng đầy đủ của cả cha mẹ. Vì vậy, đối
với những đứa trẻ này rất cần có sự quan tâm đặc biệt, sát sao nếu không
trẻ sẽ bị lợi dụng, sa đà vào những thói hư tật xấu, dễ bị rủ rê, lôi kéo ăn
chơi và có thể dẫn tới thực hiện hành vi phạm tội.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn không hề
thay đổi nhưng do con chỉ được sống với một người nên cách thức thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ có một số thay đổi, đặc biệt là đối với
người không trực tiếp nuôi con. Đứa con chỉ được sự chăm sóc, nuôi dưỡng

việc pháp luật ghi nhận các quyền và lợi ích của con khi cha mẹ ly hôn và
đảm bảo cho các quyền, lợi ích đó được thực hiện trên thực tế. Về cơ bản thì
quyền, lợi ích của con khi cha mẹ ly hôn cũng chính là quyền của trẻ em, vì
vậy bảo vệ quyền, lợi ích bằng pháp luật cho con cũng chính là bảo vệ bằng
pháp luật đối với trẻ em, nhưng gắn với việc ly hôn của cha mẹ nên có những
quyền đặc thù.
1.2. Những nội dung cơ bản của việc bảo vệ quyền lợi của con khi
cha mẹ ly hôn
Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì tình trạng
ly hôn giữa các cặp vợ chồng ngày càng gia tăng, đặc biệt là đối với các cặp
vợ chồng trẻ có con đang còn ít tuổi. Vì vậy, bảo vệ quyền lợi của cho khi cha
mẹ ly hôn là điều cần thiết. Việc bảo vệ này phải trên cơ sở các quy định của
pháp luật thông qua các nội dung sau đây.

Trích đoạn Những nội dung cơ bản của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục Vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp dưỡng Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status