TRƯỜNG
ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
•
•••
KHOA NGỮ VĂN
--------soCIca----------
CHU THỊ HẰNG
TIẾP NHẬN TIẺU THUYÉT SÔ ĐỎ
m
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG Ở VIỆT NAM
•
••
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
•
•••
Chuyên ngành: Lí luận văn học
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
•
•••
KHOA NGỮ VĂN
--------soCIca----------
2015 Tác giả khóa
luận
Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
Thạc sĩ Mai Thị Hồng Tuyết. Khóa luận không trùng với kết quả
nghiên cứu của những tác giả khác. Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
- Mọi tư liệu trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn trung thực.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05
năm 2015 Tác
giả khóa luận
MUC
LUC
•
•................................................................................................................................................................................................................................................................
•
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chu Thị Hằng
•
•
MỞ ĐẦU
tiểu thuyết số đỏ của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam” mang lại ý nghĩa thực
tiễn lớn cho công việc giảng dạy văn học.
•
2. Lịch sử vấn đề
•
Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút tiêu biểu của
nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Cuộc đòi ông tuy ngắn ngủi (1912 1939) nhưng khối lượng tác phẩm của ông để lại khá phong phú: hơn 50
tác phẩm trong đó có 28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 phóng sự, 6 kịch
bản, 1 dịch thuật. Ngoài ra còn có một số bài viết tranh luận, phê bình
văn học và hàng trăm bài báo về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa...
Nghiên cứu về vũ Trọng Phụng đã có rất nhiều, nhưng mỗi đề tài lại có
những hướng nghiên cứu, tiếp cận khác nhau.
•
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cận được một
số bài viết và công trình nghiên cứu về số đỏ và Vũ Trọng Phụng đáng lưu
ý như:
•
về cuộc đời sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng có: Vũ Trọng
Phụng về tác gia và tác phẩm (2000) biên tập các bài viết của nhiều tác giả.
Chuyên luận Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực (1957) của Văn Tâm. Vũ
Trọng Phụng (1912 -1930) (1988) của Nguyễn Hoành Khung.
của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam qua các thòi kì.
3.2.
Phạm vỉ nghiên cứu
•
Do điều kiện tìm tư liệu và khuôn khổ của một khóa luận,
chúng tôi chỉ đi vào những hướng tiếp cận chính đối vói tác phẩm số đỏ
của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
4. Phương pháp nghiên cứu
•
Trong quá trình thực hiện bài khóa luận này, chúng tôi thực
hiện một số phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
5. Nhiệm vụ và ý nghĩa của khóa luận
5.1.
Nhiệm vụ nghiên cứu
•
Đọc cuốn Lý luận văn học tập 1, đặc biệt là các chương:
Chương X: “Bạn đọc, chủ thể tiếp nhận văn học”; Chương XI: “quá trình
tiếp nhận” do Phương Lựu (chủ biên), bài viết “Mĩ học tiếp nhận” của
Ngoài phần: mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về mĩ học tiếp nhận
Chương 2: Các khuynh hướng tiếp nhận tiểu thuyết sổ đỏ ở
Việt Nam
•
•
•
•
NHẬN
1.1.
NỘI DUNG
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VÈ MỸ HỌC TIẾP
Sự ra đời của mỹ học tiếp nhận
•
Mỹ học tiếp nhận là “một khuynh hướng trong nghiên cứu
và phê bình văn học, xuất phát tò ý tưởng theo đó, tác phẩm: “nảy sinh”,
“được thực hiện” chỉ trong quá trình “gặp”, xúc tiếp của tác phẩm văn
học với độc giả, và đến lượt mình, nhờ “liên hệ ngược”, độc giả lại tác
động đến tác phẩm, do vậy, độc giả quyết định tính chất lịch sử cụ thể
của việc tiếp nhận và tồn tại của tác phẩm. Như thế, đối tượng của nghiên
thân”. Mỹ học tiếp nhận đoạn tuyệt vói những ý niệm về tính độc lập của
nghệ thuật với văn cảnh xã hội lịch sử, nó gia nhập lĩnh vực nghiên cứu
độc giả và xã hội, nó trình bày văn bản văn học như sản phẩm của tình thế
lịch sử, phụ thuộc vào lập trường của độc giả lí giải. Do vậy, mỹ học tiếp
nhận đặc biệt chú ý đến các hiện tượng của văn hóa đại chúng (văn
chương giải trí tầm thường, các loại ấn phẩm báo chí, truyện tranh...), sự
nghiên cứu của chúng vói các nghiên cứu xã hội học, khoa học sư phạm,
các môn nghiên cứu khoa học ứng dụng.
•
Ngọn nguồn của mỹ học tiếp nhận có giải thích học
(hermeneutik) vốn dựa vào “triết học sự sống” của W.Dilthey và hiện
tượng học của E.Husserl, có chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, có
chủ nghĩa hình thức Nga những năm 1 0 - 2 0 của thế kỉ XX. “Chủ nghĩa
hình thức Nga, phê bình mới rồi chủ nghĩa cấu trúc... chỉ tập trung vào
những mối quan hệ bên trong, nội tại của chính văn bản tác phẩm. Độc
tôn văn bản tác phẩm, Phê bình mói còn phủ nhận luôn sự tiếp nhận của
người đọc, cho đó đều là những “cảm thụ ngộ nhận”.
•
Một trong nhưng bậc tiên phong chủ chốt của mỹ học tiếp
nhận hiện đại là Ingarden (1893 - 1970, triết gia Ba Lan), người đề xuất
một loạt quan niệm đã trở thành nền tảng cho các nhà nghiên cứu hiện
đại. Ông “coi trọng vai trò tiếp nhận của người đọc”. Ông cũng là người
đã tu chỉnh (trong công trình về việc nhận thức tác phẩm văn học nghệ thuật)
•
Một phần cốt yếu của mĩ học tiếp nhận là các vấn đề của giải
thích học, chúng tựa như những chiếc cầu nhỏ bắc từ cấu trúc tác phẩm
sang người tiếp nhận, người sẽ hiểu cấu trúc ấy. Ở công trình Lịch sử tác
động nghệ thuật của
H.
J.Gadamer, chân lí khoa học xã hội nhân văn (trong đó có
khoa học về văn học) được đem đối lập một cách dứt khoát với “tri thức
phương pháp” như là tổng số thông tin về sự kiện có được bỏi các khoa
học tự nhiên. Hiểu văn bản, theo Gadamer, nghĩa là “áp dụng”, “đặt để”
nó vào tình thế cùng với ngưòi lí giải (người tiếp nhận), cũng hệt như
người luật sư “áp dụng” (cụ thể hóa) bộ luật, nhà thần học áp dụng “Lời
Thiêng”.
•
Quan niệm của Gadamer mang tình chất hai mặt. Một mặt,
sự hiểu được ông xác định như sự tự biểu hiện của ngưòi lí giải vói sự hỗ
trợ của những bằng cứ tư liệu của tư liệu quá khứ, khác hẳn vói chủ nghĩa
lãng mạn.
•
Chống lại quan niệm về “sự thân thuộc bí ẩn giữa những tâm hồn”
tác giả và người lí giải tác giả, Gadamer yêu cầu cả hai cùng tham dự
công việc chung: cùng chìm ngập vào “hàm nghĩa chung” và trên cơ sở
năng tạo chuẩn mực và khẳng định chuẩn mực có vai trò đặc biệt.
•
Kết hợp phân tích đồng đại và lịch đại về sự tiếp nhận, H. R.
Jauss đã miêu tả lịch sử tiếp nhận như là quá trình khai triển dần dần tiềm
năng nghĩa ở tác phẩm vốn được hiện thòi hóa trong các giai đoạn lịch sử
của sự tiếp nhận. Theo ông, chỉ có nhờ vào trung giói của độc giả, tác
phẩm mói hòa hợp vói tầm kinh nghiệm biến đổi của một truyền thống
nào đó mà trong khuôn khổ của nó liên tục diễn ra sự phát triển của tiếp
nhận và thụ động, đơn giản, đến hiểu một cách có phê phán, tích cực; từ
chỗ dựa vào các chuẩn mực thẩm mỹ được thừa nhận đến chỗ thừa nhận
các chuẩn mực mới.
•
Tác phẩm văn học không thể coi như cái hoàn toàn mói, dựa
vào những tín hiệu lộ liễu, hoặc ẩn dấu chứa đựng bên trong, nó tạo cho
công chúng một cách tiếp nhận hoàn toàn xác định, nó kích thích độc giả
nhớ lại những gì đã đọc, đưa độc giả vào một trạng thái xúc cảm nhất
định.
•
Theo H. R. Jauss, tương quan giữa tác phẩm và công chúng
không phải chỉ là một chiều mang tính chất quyết định luận. Có những tác
phẩm vào lúc xuất hiện không hướng vào một công chúng nào thật xác
định, nhưng những tác phẩm ấy phá hủy không thương tiếc tầm chờ đợi
+ Mỹ học tiếp nhận nhận thức lý thuyết (giải thích học và
hiện tượng học) + Mỹ học tiếp nhận mô tả tái tạo (chủ nghĩa cấu trúc,
những người kế tục chủ nghĩa hình thức Nga)
•
+ Mỹ học tiếp nhận xã hội học thực nghiệm (xã hội học về
thị hiếu đọc) + Mỹ học tiếp nhận tâm lý (nghiên cứu tâm lý các thế
hệ độc giả)
•
+ Mỹ học tiếp nhận lý thuyết giao tiếp (nghiên cứu kí hiệu
•
+ Mỹ học tiếp nhận thông tin xã hội học (nghiên cứu vai trò
học)
xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng)
1.2.
Sự giới thiệu và vận dụng lí thuyết tiếp nhận ở Việt Nam.
•
o •
•
•
đến vai trò của “thưởng thức” đối với việc hình thành giá trị của tác phẩm
là hướng đi có tính chất tiên phong trong thời điểm bấy giờ. Nếu chúng ta
lưu ý tới một điều là trong thời gian này, nghĩa là vào những năm 70, lý
thuyết tiếp nhận mới bắt đầu thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới, thì
chúng ta sẽ thấy sự nhạy cảm của tác giả và ý nghĩa thời sự của vấn đề do
tác giả đặt ra. Rất tiếc, tư tưởng này ngay sau đó không có cơ hội để phát
triển. Cũng cần lưu ý rằng ở miền Nam, ngay những năm 60 Nguyễn Văn
Trung cũng nhắc đến vấn đề tiếp nhận văn học trong cuốn Lược khảo vãn
học tập 2, và cũng rất tiếc là do hoàn cảnh đặc thù lúc bấy giờ nên những
nghiên cứu của ông đã không được hưởng ứng rộng rãi.
•
Phải đợi đến năm 1980, giáo sư Hoàng Trinh mới nhắc đến
vấn đề tiếp nhận văn học, nhưng ông lại bàn tò góc độ nền văn học này
tiếp nhận một nền văn học khác, tức là nó thuộc về lĩnh vực của văn học
so sánh. Mặc dù những bài viết trên còn khá khiêm tốn, nhưng ít nhiều đã
đánh thức giới nghiên cứu ý thức đến một vấn đề lí thuyết không kém
phần quan trọng khi nghiên cứu văn học, đó chính là lí thuyết tiếp nhận.
•
Trên cơ sở đó, năm tháng 11 năm 1985 Mĩ học tiếp nhận của
trường phái Konstanz Đức lần đầu tiên được Nguyễn Văn Dân giới thiệu
ở Việt Nam trong bài Tiếp nhận “Mĩ học tiếp nhận ” như thế nào ?. Trong bài
này, ông giới thiệu một số tư tưởng của Jauss qua thuật ngữ “Tầm đón
đợi”, “Khoảng cách thẩm mĩ Đáng tiếc là tiếp sau đó, Mĩ học tiếp nhận ở
Việt Nam không được chính thức nghiên cứu với tư cách là một khuynh
Trước sự tương đối sôi động trong bàn luận về tiếp nhận văn
học từ năm 1985 đến 1990, năm 1991 Viện thông tin khoa học xã hội cho
xuất bản cuốn Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, nhưng trong đó chỉ có bài
viết của Trần Đình Sử {Mẩy vấn đề lí luận tiếp nhận văn học) và của Nguyễn
Văn Dân (Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học - nghệ thuật thế giới
ở Việt Nam ta hiện nay), 10 bài còn lại đều là dịch, lược dịch, lược thuật
những bài viết của Schiíĩmet, Morar, Pascadi, Marian... Năm 1995
Trương Đăng Dung công bố bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giả
trị thẩm mĩ tập trung nghiên cứu vấn đề “văn bản”, “tác phẩm” và sự tạo
nghĩa thông qua hành động đọc. Trong bài viết này, ông vận dụng quan
điểm của nhiều nhà nghiên cứu tiếp nhận văn học, trong đó có nhắc qua
đến Jauss.
•
Cuối thập niên 90, đáng chú ý nhất là cuốn giáo trình Tiếp
nhận văn học (1997) viết cho trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Huế của
Phương Lựu, chuyên luận Từ vãn bản đến tác phẩm văn học (1998) của
Trương Đăng Dung và bài Lý thuyết tiếp nhận và phê bình vãn học (số 124
tháng 06-1999). Trong cuốn giáo trình của mình, Phương Lựu đã dành
một chương để giới thiệu về Tiền đề sinh thành, về tư tưởng của Hans
Robert Jauss và Wolfgang Iser, đồng thời sơ bộ đánh giá những điểm“khả
thủ” và “cực đoan phiến diện” của Mĩ học tiếp nhận. Tuy vậy, nhìn chung,
phần viết về Mĩ học tiếp nhận trong giáo trình của Phương Lựu mới dừng
nhận thấy là các nhà nghiên cứu chủ yếu dựa trên những tri thức
tổng hợp về Tiếp nhận văn học nói chung trên thế giới, cùng với sự nhạy
bén khoa học của mình để bàn luận vấn đề một cách chung nhất, chưa có
những nghiên cứu sâu giúp người đọc thực sự hình dung cụ thể về một lí
thuyết tiếp nhận, ngoại trừ những bài mang tính giới thiệu sơ lược.
•
Sang đầu thế kỉ 21, bóng dáng của mĩ học tiếp nhận được
xuất hiện trong hai chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương (2002) của
Nguyễn Thanh Hùng và Tác phẩm vãn học như là quá trình (2004) của
Trương Đăng Dung. Trong công trình của mình, Nguyễn Thanh Hùng có
một mục viết về Trường phái tiếp nhận Konstanz và ỷ nghĩa của tên gọi nêu lên
sơ lược về các khuynh hướng nghiên cứu tiếp nhận nói chung, trong đó
có mĩ học tiếp nhận. Mặc dù đây là chuyên luận trên cơ sở tiếp thu tổng
họp lí thuyết tiếp nhận nước ngoài kết hợp với thực tế văn bản văn học
trong nước đã trình bày khá sâu sắc về vấn đề “đọc và tiếp nhận văn
chương”, nhưng mĩ học tiếp nhận không phải là đối tượng nghiên cứu
trọng tâm mà chỉ là một ví dụ, một phần rất nhỏ. Trương Đăng Dung
trong chuyên luận lần này đã nhắc nhiều hơn đến tư tưởng của trường
phái Konstanz khi bàn đến vấn đề “Kinh nghiệm thẩm mĩ và tầm đón
đợi”, “Sự đọc và quá trình cắt nghĩa văn bản”, “Tính lịch sử của quá trình
tiếp nhận”. Nhưng có thể nhận thấy Trương Đăng Dung nhắc nhiều hơn
đến tư tưởng tiền thân của mĩ học tiếp nhận là giải thích học và hiện
tượng học với những tên tuổi như Husserl, Heideger, Gadamer, Ingarden.
•
rằng Trương Đăng Dung là một trong số những nhà nghiên cứu tiêu biểu,
ông có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, là một trong những
chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này. Đe khẳng định vị trí của Trương
Đăng Dung, Nguyễn Mạnh Tiến từng có bài ca ngợi Trương Đăng Dung
- chuyên gia về mĩ học tiếp nhận. Tác giả Trịnh Nữ trong bài viết Phê bình
hiện tượng luận ở Việt Nam cũng đã khẳng định Trương Đăng Dung có “các
công trình dịch thuật nhiều nhà lý luận kinh điển của mỹ học tiếp nhận”.
•
Gần đây nghiên cứu Mĩ học tiếp nhận đáng chú ý nhất là
những bài viết của Hoàng Phong Tuấn, năm 2010 anh đã công bố bài viết
về sự khác nhau giữa “Lý thuyết tiếp nhận ” và “Mỹ học tiếp nhận ” của Hans
Robert Jaub và 2012 công bố bài: Một sổ điểm chỉnh trong ỉỷ thuyết tiếp nhận
của Wolfgang Iser. Bốn bài tranh luận, hai bài viết, một chương trong giáo
trình lí luận văn học và một cuộc hội thảo cho thấy vấn đề tiếp nhận văn
học trong hai, ba năm gần đây trở nên khá sôi động.
•
Qua lược thuật ở phần trên, có thể nhận thấy, trong gần 30
năm, thành tựu nghiên cứu về mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam vẫn vô cùng
khiêm tốn, trừ những bài mang tính chất giới thiệu sơ lược trực tiếp, phần
lớn giới nghiên cứu văn học Việt Nam chủ yếu nhắc đến mĩ học tiếp nhận
trong tổng thể chung về vấn đề Tiếp nhận văn học, các bài viết chủ yếu là
góp nhặt mồi nơi một chút, rất hiếm những bài viết lấy mĩ học tiếp nhận
•
Kỉnh nghiệm thẩm mỹ: một trong số những phạm trù trung
tâm của mỹ học tiếp nhận do R. Ingarden nêu ra trong cuốn Cụ thể hóa và
tái lập. Khái niệm này được H. R. Jauss tu chính trong cuốn Vãn học sử như
là sự khiêu khích nghiên cứu vãn học hay cuốn Kinh nghiệm thẩm mỹ và giải thích
văn học. Kinh nghiệm thẩm mỹ cho phép người đọc đột phá về phía tương
lai, mở cho con người những khả năng mói, làm sống lại cái quá khứ bị
lãng quên; cho phép người đọc thâm nhập vai đối vói cái thế giới được
mô tả và biểu hiện, tạo cho người đọc khả năng tham dự trò chơi độc đáo,
đồng nhất mình vói những gì được hình dung là lý tưởng; nó cũng cho
phép người đọc thưởng thức những cái mà trong cuộc đời thực không thể
thực hiện được. H. R. Jauss cho rằng, bản chất sâu xa của kinh nghiệm
thẩm mỹ không phải ở sự tiếp nhận hay nhạy bén cái mói, không phải ở
cái ấn tượng sửng sốt chứa đựng trong sự làm quen vói thế giói khác; bản
chất ấy là ở việc quay lại thời gian đã mất, tiềm kiếm cái quá khứ đã bị
lãng quên từ lâu mà con đường đi đến phải qua “cánh cửa của sự nhận
biết lặp lại”.
•
Khoảng cách thẩm mỹ: khái niệm xác định mức độ bất ngờ của
của tác phẩm đối với độc giả, và theo quan niệm của mỹ học tiếp nhận,
nó xác định giá trị thi học của tác phẩm. Sự ngạc nhiên hay thất vọng
xâm chiếm người tiếp nhận khi gặp gỡ tác phẩm đã cám dỗ sự chờ đợi
của anh ta, theo H. R. Jauss, đó là tiêu chuẩn xác định giá trị thẩm mỹ của
hóa có thể có xét từ góc độ những ý đồ của cá nhân độc giả, đều có thể
trở thành mục tiêu nghiên cứu, mà chỉ những sự cụ thể hóa nào cho thấy
có diễn ra sự gặp gỡ cấu trúc tác phẩm và cấu trúc các chuẩn mực văn
học do thời đại lịch sử cụ thể quy định, những chuẩn mực mà người tiếp
nhận là đại diện.
•
Đồng thời hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ sự tự
đồng nhất của độc giả vói các nhân vật văn học; viêc độc giả trải nghiệm
thế giới hư cấu của tác phẩm nghệ thuật như là thế giới cụ thể sống động
có thực, trải nghiệm này nảy sinh trên cơ sơ niềm tin của độc giả vào tính
thực tại của ảo giác nghệ thuật.
•
w. Iser xem quá trình đọc như là sự xung đột thường xuyên
của hai hướng: một mặt độc giả có nhu cầu đồng nhất hóa, tin vào ảo
giác, mặt khác là “mỉa mai văn bản”, đặt toàn bộ các liên hệ cấu trúc của
văn bản trước sự hoài nghi. w. Iser nhận xét rằng, trong quá trình đọc, có
sự này sinh hình thức tham gia của độc giả vào tác phẩm, khi anh ta bị lôi
kéo vào văn bản đến mức anh ta có cảm tưởng là bất cứ khoảng cách nào
giữa anh ta và những điều xảy ra trong tác phẩm, cũng đều đã mất đi. Kết
quả là diễn ra sự “tan” ranh giới giữa chủ thể và khách thể, đưa đến sự
tách vỡ cá nhân của bản thân độc giả.
•
Hiện thời hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ việc độc
giả làm sống động, vật thể hóa các chi tiết hoặc các đoạn của tác phẩm
H. R. Jauss phân thành tầm chờ đợi được mã hóa trong tác phẩm
và tầm chờ đợi của độc giả. Sự tiếp nhận tác phẩm và sự hình thành kinh
nghiệm thẩm mỹ của độc giả được thực hiện trong tiến t rình tương tác của
hai tầm chờ đợi ấy. H. R. Jauss nhận xét, tầm chờ đợi của tác phẩm là
bình ổn, khác với tầm chờ đợi của người tiếp nhận vốn luôn luôn biến
đổi.
•
Chương 2. CÁC KHUYNH HƯỚNG TIẾP NHẬN TIÊU
THUYẾT SÔ ĐỎ Ở VIỆT NAM
•
Lý thuyết tiếp nhận thừa nhận vai trò quan trọng của người
đọc trong việc làm phong phú những giá trị của tác phẩm văn học, khiến
cho tác phẩm luôn sống trong mọi thòi đại. Trong lịch sử văn học, tác
phẩm của những nhà văn tài năng thường tạo nên sự tiếp nhận phong
phú, đa dạng và cả sự phức tạp. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là một
trường hợp như thế.
•
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận định “Vũ
Trọng Phụng là một hiện tượng phức tạp” [22; 5] nhưng nhà thơ Chế Lan
Viên lại cho rằng không phải Vũ Trọng Phụng phức tạp mà “chính chúng
ta phức tạp” [21; 369]. Đây là một khía cạnh của bình diện tiếp nhận văn
học. Sự phức tạp của người đọc quyết định sự phức tạp trong việc tiếp
•
Trước 1945, dư luận nêu và phê phán việc miêu tả "cái dâm"
trong số đỏ của Vũ Trọng Phụng, trong khi tác giả tự bảo vệ mình đã nhấn
mạnh định hướng "tả chân xã hội", định hướng tố cáo xã hội của ngòi bút
mình. Nhưng tựu chung lại, thái độ tiếp nhận của giới nghiên cứu và độc
giả về tác phẩm đôi khi là sự hoài nghi, và sự hoài nghi đó được nhìn
nhận từ góc độ lịch sử - xã hội và góc nhìn phân tâm học.
2.1.1.
•
Tiếp cận Sơ đỏ từ góc nhìn lịch sử, xã hội
Tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn lịch sử, xã hội là kiểu tiếp cận
tác phẩm từ tác giả. Đây chính là phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử.
Vậy phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử là gì? Trong cuốn Phê bình
văn học, con vật lưỡng thê ẩy (xuất bản năm 2011), PGS. văn học Đỗ Lai
Thúy cho rằng: “Phê bình văn hóa - lịch sử ra đời vừa như một tiếp tục
vừa như một đối lập với phê bình tiểu sử học. Bởi lẽ cả hai tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn: cách tiếp cận ngoại quan, lấy yếu tố bên
ngoài như một thứ nhân để giải thích quả tác phẩm. Có điều ở phê bình
tiểu sử học thì nguyên nhân ấy là tác giả, sát hơn con người xã hội và tâm
lí của tác giả. Còn phê bình văn hóa - lịch sử thì một trạng thái văn hóa,
văn minh của một dân tộc nào đó ở vào một thời điểm nào đó. Như vậy,
tác giả đầu là một cá thể, còn ‘Час giả” sau, xét cho cùng là một tập thể,
một cộng đồng cư dân, một dân tộc” [24; 126].