Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
====o0o====
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẠI DƯƠNG - OCEANBANK
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đặng Ngọc Đức
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thanh Phương
Lớp : Ngân hàng 19.19
MSSV : BH191829
Hà Nội , 12/2010
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động các hoạt động cơ bản 6
1.2. Cơ cấu và nguồn hình thành nên vốn của ngân hàng thương mại 13
1.3. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 15
1.4. Tăng cường huy động vốn trong ngân hàng thương mại 24
1.5. Điều kiện để tăng cường vốn 26
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đại Dương – OceanBank 30
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng TMCP Oceanbank 30
Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank) tiền thân là ngân hàng thương mại cổ phần
Nông thôn Hải Hưng, được thành lập vào năm 1993 theo Quyết định số 257/QĐ – NH
ngày 30/12/1993, giấy phép số 0048/QĐ – NH ngày 30/12/1993 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam với vốn điều lệ là 300 triệu đồng và chỉ đơn giản là nhận tiền
gửi và cho vay hộ nông dân trên địa bàn nông thôn Hải Dương. 30
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Với mục tiêu phát triển kinh tế cùng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xã hội ngày càng cần hơn về vốn. Công cuộc đổi mới đất nước làm thay đổi
cơ bản nền kinh tế với những chỉ số kinh tế ngày càng khả quan, hệ thống ngân hàng
đã đóng một vai trò quan trọng việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mở cửa thị trường làm tăng số lượng các ngân
hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý, áp lực cạnh tranh
cũng tăng dần theo lộ trình nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước
ngoài. Điều đó đòi hỏi các ngân hàng thương mại trong nước phải tìm cách mở rộng
quy mô, đầu tư máy móc công nghệ hiện đại, vốn lớn để tăng khả năng cạnh tranh
với các ngân hàng khác. Để hoạt động kinh doanh tốt thì phải có vốn, để có vốn hoạt
động thì Ngân hàng thương mại phải tìm cách để huy động được một số vốn lớn.
Huy động vốn giúp tăng quy mô vốn của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay được
nhiều hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Là một ngân hàng trẻ, trong những năm qua ngân hàng TMCP Đại Dương
OceanBank đã không ngừng vươn lên từng bước khẳng định vị trí của mình trong thị
trường tài chính. Tuy nhiên một ngân hàng trẻ mới chuyển đổi mô hình hoạt động
được 3 năm như OceanBank muốn phát triển được trong môi trường cạnh tranh khốc
liệt như hiện nay không phải là điều đơn giản. Việc tăng cường huy động vốn có ý
nghĩa hết sức quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng. Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Tăng cường huy động vốn tại Ngân
hàng TMCP Đại Dương – Oceanbank” để qua đó tìm hiểu rõ hơn về hoạt động huy
động vốn của ngân hàng từ đó có thể đưa ra những giải pháp thích hợp để tăng cường
công tác huy động vốn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Đặng Ngọc
Đức và các cô chú, anh chị công tác tại ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank đã
giúp em hoàn thành chuyên đề này. Vì điều kiện thời gian và kiến thức hạn chế, em
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
luôn tồn tại những người có khoản tiền nhàn rỗi chưa cần dùng đến đồng thời cũng
có những người có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và
tiêu dùng hiện tại. NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời đó và sử
dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng.
NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Hoạt động của
ngân hàng thương mại góp phần tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đem lại thuận lợi cho
cá nhân và cá tổ chức.
NHTM không chỉ là trung gian giữa người có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi với
người cần vốn mà còn là trung gian giữa NHTƯ với dân chúng và nền kinh tế. NHTƯ
bằng các công cụ của mình như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, chiết khấu ... đã tác động
đến hoạt động của ngân hàng thương mại qua đó tác động đến nền kinh tế. Với các hoạt
động đa dạng và đặc trưng ngân hàng có một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại hoạt động với 3 nghiệp vụ chính là huy động vốn, tín
dụng và cung ứng dịch vụ . Các hoạt động này vủa ngân hàng quan hệ mật thiết, tác
động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho
các NHTM. Các hoạt động này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân
hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình kinh doanh của NHTM.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.1.1. Hoạt động huy động vốn
1.1.1.1. Nghiệp vụ tiền gửi
NHTM nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác để qua
đó thu phí gián tiếp. Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích thanh
toán hoặc bảo quản tài sản còn người dân gửi tiền vào ngân hàng để bảo quản hoặc
hưởng lãi trên số tiền gửi
1.1.1.2. Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
Ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giáy tờ có giá khác
chắn. Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng,
trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những thương phiếu chưa đến hạn
thanh toán cho ngân hàng để nhận về một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức và
hoa hồng phí. Đến thời hạn thanh toán thương phiếu ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ
của người có trách nhiệm thanh toán thương phiếu.
1.1.2.2. Nghiệp vụ cho vay
Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm
tỷ trọng lớn nhất, chiếm tới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Thông qua
nghiệp vụ này ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạng, trung và dài hạn
cho các thành phần trong kinh tế. Các hình thức cho vay như sau:
Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay chi trội
( vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đế một giới hạn nhất định và trong
khoản thời gian xác định.Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không
phù hợp về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào
dự đoán ngân quỹ song không chính xác. Vì vậy hình thức cho vay này tạo điều kiện
thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời.
Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến đối với các khách hàng không có nhu
cầu vay vốn thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số
khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhu cầu thời vụ, hay sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng., tức là vốn từ ngân hàng
chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nghiệp
vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, tuy nhiên mỗi lần xin vay khách hàng phải
làm đơn và trình phương án vay vì vậy ngân hàng dễ dàng có thể kiểm soát mục đích
sử dụng vốn vay của khách và hạn chế rủi ro cho khoản tín dụng.
Cho vay theo hạn mức
nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Đây là hình thức tín dụng tài trợ
nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Thường áp dụng đối với khoản vay trung và
dài hạn tài trợ cho tài sản cố định, cho hàng hóa lâu bền.
Cho vay trả góp thường có rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng
chính hàng hóa mua trả góp đó. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
người vay. Rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất trong khung lãi
suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay
thông qua các nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cự chiến binh, hội Phụ nữ, . . . Tổ
chức trung gian này đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn hoặc bảo lãnh cho
các thành viên. Điều này thuận tiện cho những người vay khi họ không có hoặc
không đủ tài sản thế chấp.
Ngân hàng có thể nhờ các tổ chức trung gian này thực hiện vài khâu trong quá
trình cho vay như thu nợ hay phát tiền . . . Cho vay qua trung gian tài chính thường áp
dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ. Cho vay qua trung gian nhằm giảm
bớt rủi ro, chi phí cho ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều yếu điểm như
nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình để tăng lãi suất cho vay, giữ tiền của các
thành viên khác sử dụng cho mục đích của mình.
1.1.2.3. Nghiệp vụ cho thuê tài chính
Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên cơ sở hợp đồng cho thuê
tài sản giữa các bên cho thuê là các tổ chức tín dụng và khách hàng đi thuê. Khi kết
thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó hoặc tiếp tục thuê tài sản đó
theo các các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê
các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo phương thức này người thuê được sử dụng tài sản mà mình cần trên cơ sở đi
thuê, không phải bỏ vốn mua mà chỉ phải chi tiền thuê tài sản hàng kì cho ngân hàng tuy
Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại thực hiện dưới hai hình thức chủ
yếu: Đầu tư chứng khoán là ngân hàng mua chứng khoán và trở thành người sở hữu
chứng khoán. Chứng khoán mà ngân hàng thương mại có thể mua là tín phiếu kho
bạc ngắn hạn, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Đầu tư vốn
liên doanh, liên kết là việc ngân hàng thương mại bỏ vốn ra để liên doanh, liên kết
với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác hoặc các doanh nghiệp thuộc
các lĩnh vực sản xuất thương mại, dịch vụ để tăng phần vốn góp, tạo ra những lợi thế
cho Ngân hàng và nền kinh tế.
1.1.3.2. Hoạt động dịch vụ thanh toán
Ngân hàng thương mại là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách
hàng. Dịch vụ này bao gồm thanh toán không dùng tiền mặt, hoặc thu chi tiền mặt,
qua ngân hàng. Đây là một nghiệp vụ truyền thống, đồng thời được phát triển mạnh
trong nền kinh tế thị trường. Thông qua hoạt động thanh toán, ngân hàng thu được lệ
phí, tập trung được nhiều nguồn vốn và thông qua đó kiểm soát được chu chuyển tiền
tệ trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.3.3. Các dịch vụ khác
Dịch vụ ngân hàng phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa lại
nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng thương mại. Hoạt động dịch vụ được thực hiện
dưới các hình thức sau:
Kinh doanh ngoại tệ và vàng: Ngân hàng thương mại mua bán ngoại tệ và vàng
ở thị trường trong nước và quốc tế. Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là chênh lệch
giữa giá bán và giá mua.
Dịch vụ chứng khoán: Ngân hàng làm các dịch vụ về chứng khoán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng.
Dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập
chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi nên sẽ có một bộ phận các ngân hàng khác
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
( thường là các ngân hàng lớn) sẽ cung cấp các dịch vụ đại lý như thanh toán hộ, phát
trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa, có thể sử dụng để cho vay, góp vốn
liên doanh. Đây cũng là tài sản đảm bảo, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng
khi hoạt động thua lỗ. Vốn chủ sở hữu cũng là căn cứ quyết định quy mô và khối
lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của ngân hàng.Vốn chủ
sở hữu bao gồm có vốn điều lệ , vốn bổ sung và các quỹ dự phòng. Vốn điều lệ là
mức vốn được hình thành khi ngân hàng được thành lập và phải lớn hơn hoặc bằng
mức tối thiểu mà luật quy định (vốn pháp định). Vốn chủ sở hữu của ngân hàng
không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung. Nguồn bổ sung
này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm. Trong
quá trình hoạt động NHTM còn trích lập các quỹ theo luật định như quỹ đầu tư phát
triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quĩ khen
thưởng...Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận. Vốn điều lệ và phần lợi
nhuận chưa chia là vốn tự có của ngân hàng.
1.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương
mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách
nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Vốn huy động được huy
động từ các nguồn tiền gửi, vay và một số loại khác
1.2.2.1. Tiền gửi
Là nguồn tiền quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có
chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức khác
nhau. Tiền gửi nhất là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi
suất, tỷ giá, thu nhập và nhiều nhân tố khác. Lãi suất cao sẽ kích thích các doanh
nghiệp, dân cư gửi và cho vay.
1.2.2.2. Tiền vay
Tỷ trọng nguồn tiền vay thấp hơn so với tiền gửi. Ngân hàng chỉ vay khi cần
thiết và hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Các khoản vay thường có thời hạn ngắn nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thời là cơ sở để thực hiện các chức năng còn lại.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.2. Ý nghĩa của vốn huy động trong hoạt động ngân hàng
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn cơ bản và quan trọng để ngân hàng dùng
vào hoạt động kinh doanh tiền tệ. Vốn huy động quyết định tới khả năng mở rộng
quy mô và phạm vi kinh doanh, kết quả kinh doanh của NHTM. Các ngân hàng lớn
thông thường có các khoản mục về đầu tư, cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối
lượng tín dụng cũng lớn hơn trong khi các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn phạm vi hoạt
động chủ yếu trong khu vực nhỏ hoặc một quốc gia. Nếu vốn khả dụng lớn ngân
hàng có thể mở rộng quy mô, khối lượng tín dụng, có thể tài trợ cho các dự án lớn về
quy mô tín dụng, thời hạn tín dụng...Một ngân hàng thành công trong công tác huy
động vốn sẽ có tiềm lực tài chính để nâng cao khả năng cạnh tranh: mở thêm nhiều
điểm giao dịch với khách hàng, nghiên cứu và đưa ra thị trường những sản phẩm mới
bên cạnh những sản phẩm truyền thống… Nhờ vậy ngân hàng có thể thu hút thêm
nhiều khách hàng. Điều này có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh cuối kỳ của
ngân hàng.
Nguồn vốn huy động giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh. Nguồn vốn
lớn làm tăng khả năng họat động của ngân hàng như chủ động đa dạng hóa hình thức
và phương thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro, tăng lợi nhuận
Bên cạnh đó, vốn huy động cũng đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.
Nguồn vốn dồi dào giúp ngân hàng lúc nào cũng có thể phục vụ nhu cầu thanh toán
chi trả của khách hàng, khiến khách hàng yên tâm giao dịch, tin tưởng vào ngân hàng.
Từ đó, uy tín của ngân hàng trên thị trường cũng được nâng cao, càng có điều kiện để
mở rộng hoạt động và nâng cao vị thế.
1.3.3. Hoạt động huy động vốn
1.3.3.1. Khái niệm
Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong
đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm
hàng thường sử dụng huy động vốn qua tài khoản tiền gửi, huy động vốn bằng phát
hành giấy tờ có giá và huy động thông qua các khoản đi vay.
1.3.4. Các hình thức huy động vốn
Quá trình huy động vốn đó hầu như đều giống nhau ở các ngân hàng nhưng để
phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau. Điều này còn phụ thuộc vào
các tiêu chí được lựa chọn để phân loại
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.4.1. Phân loại căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên
quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng
như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được
chia thành:
1.3.4.1.1. Huy động ngắn hạn
Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua
việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận
tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán....Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn
hạn ( dưới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn.
Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định
lại kém. Huy động ngắn hạn gồm các hình thức chủ yếu:
Tiền gửi ngắn hạn từ thị trường: Là nguồn cơ bản quan trọng chiếm tỷ trọng
cao trong tổng nguồn vốn. Nguồn tiền này đảm bảo cho nhu cầu kinh doanh ngắn hạn
của ngân hàng ngoài ra còn có thể chuyển hoán kỳ hạn để đầu tư, cho vay dài hạn
giúp ngân hàng giảm bớt gánh nặng thiếu vốn trung và dài hạn.
Vay NHTƯ và các TCTD khác: các khoản vay từ NHTƯ và các TCTD khác
hầu hết đều là ngắn hạn bởi những khoản vay này đều nhằm mục đích giải quyết sự
thiếu hụt dự trữ bắt buộc hoặc đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách trong thời gian ngắn.
Lãi suất đối với hình thức vay vốn này thường cao nên các ngân hàng chỉ khi thực sự
cần thiết mới sử dụng hình thức huy động này.
ngân hàng rất coi trọng. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh
nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp
khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu kỳ rút tiền
của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy ngân hàng luôn
có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối thuận
lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện
ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến cho
việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc mở
rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.4.2.3. Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫn
nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán... Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các
ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên
song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại. Khi
xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ... các ngân hàng
thương mại có thể vay lẫn nhau. Quá trình vay này là một thoả thuận tín dụng giữa
hai bên. Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội
tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người
đặc biệt. Đó là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người
cho vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàng
nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy,
hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều.
1.3.4.3. Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại
sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện
cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:
Tiền gửi có kỳ hạn : Là khoản tiền có sử thỏa thuận giữa khách hàng và ngân
hàng về thời gian gửi. Kỳ hạn có thể là 1 tháng, 3 thàng , 6 tháng hay 1 năm ...Với
hình thức tiền gửi có kỳ hạn người gửi sẽ được hưởng lãi suất cao hơn rất nhiều so
với tiền gửi không kỳ hạn nhưng người gửi chỉ được rút tiền theo thời hạn đã thỏa
thuận với ngân hàng từ khi bắt đầu gửi tiền, muốn rút sớm thì phải được sự đồng ý
của ngân hàng. Còn ngân hàng có thể tùy ý sử dụng số tiền khách gửi trong khoảng
thời gian đó. Đây là khoản tiền tương đối ổn định giúp ngân hàng kiếm được nhiều
lợi nhuận. Các ngân hàng thường đa dạng hóa các hình thức gửi tiền có kỳ hạn đồng
thời áp dụng các mức lãi suất khác nhau để thu hút nguồn tiền này.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng và ngân hàng khác: Giữa các ngân hàng và tổ
chức tín dụng có mối quan hệ mật thiết trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng
thường gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác để thuận tiện cho việc chuyển
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khoản, thanh toán hộ hay mua bán. Lượng tiền gửi này thường không lớn và ít ảnh
hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng.
1.3.4.3.2. Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Vốn vay cũng là một nguồn vốn rất quan trọng đối với các ngân hàng. Khi vốn
huy động từ nhận tiền gửi không đủ để đáp ứng cho nhu cầu tín dụng ngân hàng sẽ
phải chủ động đi vay để giải quyết nhu cầu vốn. Vốn vay của ngân hàng hình thành
từ nhiều nguồn khác nhau như sau:
Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng là các khoản vay thông thường mà các ngân
hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân
hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau
chứ không vay ngân hàng trung ương.
Vay vốn của các NHTM và tổ chức tín dụng được thực hiện thông qua thị
trường liên ngân hàng. Việc vay vốn này được thực hiện ở NHTM trung tâm và sau
đó sẽ điều chỉnh cho các chi nhánh trong hệ thống.
Vay vốn của các ngân hàng và NHTƯ: Trong quá trình hoạt động kinh doanh
mặt để chi trả hoặc không đáp ứng được nhu cầu về vốn hợp lý của khách hàng.
1.3.4.3.3. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Là việc các ngân hàng thương mại phát hành các chứng chỉ gửi, kỳ phiếu, trái
phiếu ngân hàng để huy động vốn. Trong hình thức này, ngân hàng chủ động phát
hành chứng từ có giá theo đợt để bổ sung nguồn vốn kinh doanh. Giấy tờ có giá phân
ra làm chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu là
loại phiếu nợ trung hạn và dài hạn. Với hình thức huy động này ngân hàng phải trả lãi
suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động và chỉ huy động trong thời gian nhất
định khi khối lượng vốn đã đủ theo dự kiến thì ngân hàng sẽ ngừng bán kỳ phiếu, trái
phiếu. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo nên những ngân hàng lớn
có uy tín hoặc trả lãi cao hơn sẽ thu hút được nhiều người mua hơn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.4.3.4. Huy động vốn trong thanh toán và vốn khác
Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán, Ngân hàng thương
mại thực hiện nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng.
Như vậy NH đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký
quỹ vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.
Khi thực hiện các dịch vụ, ngân hàng huy động được vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ
của Chính phủ hoặc bên nước ngoài. Trong thời gian chờ giải ngân, ngân hàng
thương mại có thể huy động làm nguồn vốn kinh doanh.
Nguồn vốn trong ngân hàng rất đa dạng bao gồm nhiều thành phần. Một số
thành phần có khả năng giao dịch cao và lãi suất thấp. Ngược lại một số thành phần
có tính ổn định cao nhưng lãi suất lại cao. Phân loại các hình thức huy động vốn theo
đối tượng, thời gian và nghiệp vụ huy động giúp các ngân hàng áp dụng một cách
hiệu quả các phương thức huy động theo tiêu chí và mục đích sử dụng. Phân biệt hình
thức huy động vốn theo đối tượng, tìm hiểu rõ hơn về đối tượng cần huy động, với
mỗi loại đối tượng ngân hàng sẽ huy động với mục đích khác nhau. Phân loại vốn
theo thời gian giúp ngân hàng có thể quản lý tốt nguồn tiền gửi, tiền lãi từ đó có sơ sở
nguồn ( nhóm nguồn) chi phần lớn chi phí của nó, chi phí thực hiện cho vốn và các
chi phí khác
Lãi suất bình quân : lãi suất bình quân của 1 nguồn ( nhóm nguồn) được xác
định bằng tỉ lệ bình quân của chi phí chi trả cho nó so với số dư bình quân của nguồn
( nhóm nguồn ) đó trong khoảng thời gian. Nguồn vốn của ngân hàng không chỉ đa
dạng về loại hình đối tượng gửi mà các thành phần của nó có thời hạn rất khác nhaun
vì thể phản ứng với sự thay lãi suất cũng khác nhau. Nguồn tiền gửi ít nhạy cảm với
lãi suất do khách hàng gửi tiền chủ yếu để mua dịch vụ. Ngược lại nguồn tiền tiết
kiệm lại rất nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất. Như vậy thông qua việc điều chỉnh lãi
suất ngân hàng có thể tăng quy mô huy động vốn trong cạnh tranh đồng thời điễu
chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo kế hoạch kinh doanh của mình
Một số chỉ tiêu tăng cường huy động vốn
Gia tăng quy mô: Quy mô vốn huy động có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt
động của ngân hàng. Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần có quy mô tương đối
lớn, trong đó vốn huy động là một bộ phận quan trọng. Không thể nói chất lượng huy
động vốn tốt nếu việc huy động không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng kinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
25