Buôn lậu và gian lận thương mại ở Việt Nam - Pdf 31

phần mở đầu
Trong quá trình học tập của sinh viên, đề án môn học là một trong những
phần có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Làm đề án môn học sinh viên sẽ hiểu sâu
hơn về môn học đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tìm hiểu, mở rộng
kiến thức lí thuyết và thực tế, giúp cho việc học tập tốt hơn. Trong chơng trình
môn học "kinh tế thơng mại" phần làm đề án của sinh viên giúp sinh viên đạt kết
quả tốt về môn học.
Đề tài: Buôn lậu và gian lận thơng mại ở Việt Nam. Thực trạng và giải
pháp chống buôn lậu và gian lận thơng mại" là đề tài mà em chọn làm trong
phần làm đề án này.
Buôn lậu và gian lận thơng mại là một trong những mặt trái của kinh tế thị tr-
ờng, tác động và ảnh hởng lớn đến kinh tế -xã hội. Nó là vấn đề nóng bỏng, bức
xúc và diễn biến ngày càng phức tạp ở nớc ta hiện nay, gây ra khó khăn cho sản
xuất trong nớc, làm thất thu ngân sách Nhà nớc làm mất kỉ cơng hoạt động thơng
mại, tăng thêm tình trạng vi phạm pháp luật, gây ra nhiều tiêu cực trong xã hội. Vì
vậy cần phải tích cực phòng chống tình trạng này bằng sự đoàn kết phối hợp chặt
chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa Nhà nớc và nhân dân. Trong khuôn khổ bài viết
này em xin trình bày một số vấn đề về thực trạng và giải pháp chống buôn lậu và
gian lận thơng mại ở Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Đặng Đình Đào - PGS. TS đã hớng dẫn và
giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
1
phần nội dung
Chơng I
những vấn đề chung về buôn lậu
và gian lận thơng mại
I-/ kinh tế thị trờng và vấn đề buôn lậu và gian lận thơng mại.
Kinh tế thị trờng là một kiểu tổ chức kinh tế -xã hội trong đó sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng đều gắn chặt với thị trờng. Sản xuất ra hàng hoá- dịch vụ
gì, khối lợng bao nhiêu? sản xuất bằng cách nào? Ai sẽ nhận hàng hoá- dịch vụ
sau khi sản xuất ra? Tất cả đều xuất phát từ nhu cầu của thị trờng và thông qua thị

lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy phân công xã hội, tổ chức lại sản
xuất, hình thành nên các vùng chuyên môn hoá sản xuất. Thơng mại kích thích sự
phát triển lực lợng sản xuất. Lợi nhuận là mục đích của hoạt động thơng mại. Ngời
sản xuất sẽ tìm mọi cách để cải tiến công tác, áp dụng khoa học và công nghệ mới,
hạ chi phí để thu nhiều lợi nhuận. Đồng thời cạnh tranh trong thơng mại bắt buộc
ngời sản xuất phải năng động, không ngừng nâng cao tay nghề, chuyên môn và
tính toán thực chất hoạt động kinh doanh, tiết kiệm các nguồn lực nâng cao năng
suất lao động. Đó là những nhân tố tác động làm cho lực lợng sản xuất phát triển.
Thơng mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới. Ngời tiêu dùng mua bán
không xuất phát từ tình cảm mà bằng lí trí. Lợi ích của sản phẩm hay mức độ thoả
mãn nhu cầu của sản phẩm sẽ tạo ra khả năng tái tạo nhu cầu. Thơng mại một mặt,
làm cho nhu cầu trên thị trờng trung thực với nhu cầu, mặt khác nó làm bộc lộ tính
đa dạng, phong phú của nhu cầu. Thơng mại buộc các nhà sản xuất phải đa dạng
về loại hình, kiểu dáng, mẫu mã chất lợng sản phẩm. Điều này tác động ngợc lại
với ngời tiêu dùng, làm bật dậy các nhu cầu tiềm năng. Tóm lại thơng mại làm
tăng trởng nhu cầu và là nguồn gốc rễ cho sự phát triển của sản xuất kinh doanh.
Thơng mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho quan hệ th-
ơng mại giữa nớc ta với các nớc khác không ngừng phát triển. Điều đó giúp chúng
ta tận dụng đợc u thế của thời đại, phát huy đợc lợi thế so sánh, từng bớc đa thị tr-
ờng nớc ta hội nhập với thị trờng thế giới, biến nớc ta thành bộ phận của phân
công lao động quốc tế.
Ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nớc là xoá bỏ cơ chế
quản lý kinh tế tập trung chuyển sang cơ chế thị trờng, chế độ cung cấp đợc thay
bằng thơng mại. Thơng mại thể hiện sự tự do mua bán theo giá cả thị trờng, ngời mua
và ngời bán đợc tự do lựa chọn bạn hàng. Gắn giữa sản xuất với thơng mại, thơng mại
cũng là một chức năng của sản xuất hàng hoá, giữa các doanh nghiệp, các vùng và
quốc gia thực hiện cơ chế mở trong mua bán hàng hoá.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị tr-
ờng, thơng mại phát triển có những mặt tích cực nhng bên cạnh nó có những mặt
tiêu cực. Trong kinh tế thị trờng, đồng tiền trở thành phơng tiện có giá trị, làm phát

không đợc quy định. Mặc dù vậy "Quốc triều Hình luật" đã quy định "những trang
trại ven bờ biển mà đón tiếp thuyền buôn, ngầm dỡ hộ hàng hoá lên bờ thì bị xử
biếm (cách chức), phạt gấp 3 tang vật để sung công... "Những ngời bán ruộng đất
ở bờ cõi, binh khí; các thứ chất nổ có thể chế hoả tiễn, hoả pháo cho ngời nớc
ngoài đều phải tội chém", " bán mắm muối ra nớc ngoài... thì bị xử đi Châu Xa".
Các mặt hàng cấm xuất khẩu lúc đó đợc quy định gồn: ruộng đất, thuốc nổ, vũ khí,
4
sắt, đồng, vàng da trâu, gỗ lim, vỏ quế, trân châu, ngà voi... Những hành vi cụ thể,
tách biệt nói trên trong tiềm thức xã hội đều đợc gộp chung lại là hiện tợng buôn
lậu chứ không có tội danh buôn lậu.
Trớc năm 1985, thuật ngữ "tội buôn lậu" đã đợc đề cập trong một số văn bản
pháp luật nớc ta nh Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lợng cảnh sát nhân
dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép (10/6/1982). Song về cơ bản tội danh "buôn lậu" lúc đó cha đợc h-
ớng dẫn nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu thành và dấu hiệu pháp lý đặc trng.
Phần lớn ngời ta vẫn chịu ảnh hởng của các quan niệm truyền thống, cho rằng
buôn lậu bao gồm các hành vi kinh doanh trái phép, trốn thuế, đầu cơ tích trữ,
buôn bán hàng cấm.
Từ năm 1985 Bộ luật Hình sự của nớc CHXHCN Việt Nam ra đời đã chính thức
ghi nhận tội danh buôn lậu: "Ngời nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép
qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm
thuộc di tích lịch sử, văn hoá thì bị phạt...". Bắt đầu từ đây, tội danh buôn lậu đã đợc
xác định với 4 yếu tố cấu thành tội phạm và những dấu hiệu pháp lý đặc trng, nên đã
có tác dụng hớng dẫn nhận thức cũng nh chỉ đạo thực thi pháp luật.
2-/ Khái niệm về gian lận thơng mại.
Một thuật ngữ nữa luôn gắn liền với buôn lậu là "gian lận thơng mại ". Gian
lận thơng mại theo Từ điển tiếng Việt là "dối trá, lừa lọc" trong hoạt động thơng
mại. Ngời có hành vi gian lận thơng mại gọi là "gian thơng" tức là "ngời có nhiều
mu mô lừa lọc"'; "kẻ buôn bán gian lận và trái phép". Gian lận đợc coi là hành vi
của con ngời cụ thể có lời nói nói hoặc cử chỉ, hành động không đúng với bản chất

Trong định nghĩa này, về cơ bản đã khái quá đợc hành vi gian lận thơng mại
trong lĩnh vực Hải Quan. Hành vi đó đợc thể hiện bằng sự lừa dối thông qua hành
động lẩn tránh việc nộp thuế và việc tuân thủ pháp luật Hải Quan nhằm mục đích
thu đợc một khoản lợi nào đó. Tuy nhiên định nghĩa trên cha nêu đợc một cách đầy
đủ, chính xác hành vi gian lận thơng mại trong lĩnh vực Hải Quan, khi bối cảnh hoạt
động thơng mại Thế giới ngày nay đã có những thay đổi lớn. Vì vậy tại Hội nghị
quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thơng mại trong lĩnh vực Hải Quan do tổ chức
Hải Quan thế giới triệu tập tại Brussels (Bỉ) từ ngày 9/10/1995 đến ngày 13/10/1995
đã xem xét lại định nghĩa về gian lận thơng mại trong lĩnh vực Hải Quan và thống
nhất đa ra một định nghĩa mới nh sau:
"Gian lận thơng mại trong lĩnh vực Hải Quan là hành vi vi phạm các điều
khoản pháp quy hoặc Pháp luật Hải quan nhằm:
- Trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh việc nộp thuễ Hải Quan, phí và các khoản
thu khác đối với việc di chuyển hàng hoá thơng mại và /hoặc:
- Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá
không thuộc đối tợng đó và/hoặc:
- Đạt đợc hoặc cố ý đạt đợc lợi thế thơng mại bất hợp pháp gây hại cho các
nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thơng mại chân chính".
6
Tại Hội nghị của tổ chức Hải quan quốc tế về chống gian lận thơng mại đợc
tổ chức từ ngày 9 đến 13/10/1995 ở Brúcxen (Bỉ) cũng đã thống nhất phân chia
các hình thức gian lận thơng mại thành 16 loại.
1. Buôn bán hàng cấm qua biên giới hoặc ra khỏi sự kiểm soát của Hải quan
(thí dụ: Buôn bán động vật quý hiếm, sản phẩm văn hoá...).
2. Khai báo sai chủng loại hàng hoá.
3. Khai tăng, giảm giá trị hàng hoá.
4. Lợi dung chế độ u đãi xuất xứ hàng hoá (thí dụ: Nhà nớc ta có chính sách -
u đãi về thuế đối với hàng hoá của các nớc ASEAN).
5. Lợi dụng chế độ u đãi đối với hàng hoá gia công.
6. Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập (đây là hàng hoá đợc

3. Trờng hợp thứ ba: Tất cả hành vi có tính chất nghiêm trọng hậu quả lớn
đều bị xử lý dới một tội danh chung của điều 97 là buôn lậu.
* Một vấn đề mới trong gian lận thơng mại mà tổ chức Hải Quan thế giới cũng đang
rất quan tâm đó là gian lận thơng mại trong chuyển tải hàng hoá xuất nhập khẩu.
Chuyển tải là một khâu tự nhiên cần thiết trong quá trình thực hiện hoạt động
thơng mại, nhằm đa hàng hoá từ nơi này đến nơi khác nhng phải đi qu một số địa
điểm nhất định nào đó. Tuy nhiên, đôi khi chủ hàng sử dụng chuyển tải để che dấu
xuất xứ thực sự của hàng hoá và đó là gian lận thơng mại trong chuyển tải.
Gian lận thơng mại trong chuyển tải đợc định nghĩa nh sau: Gian lận trong
chuyển tải là việc sử dụng một nớc thứ 3 để dấu nguồn gốc thực sự của hàng hoá,
che mắt Hải quan của nớc nhập khẩu.
Tại nớc thứ 3, ngời ta cung cấp các tài liệu giả hoặc có hoạt động gian trá
nhằm thay đổi nguồn gốc hàng từ xuất khẩu sang nớc quá cảnh (hay nớc thứ 3).
Nh vậy đến khi nhập vào, họ tránh đợc hạn chế đặt ra của nớc nhập nh: hạn ngạch,
li xăng, chế độ u đãi.
Một số dạng gian lận thơng mại qua chuyển tải.
- Hàng hoá đa vào một cảng hoặc một kho ở nớc chuyển tải ở đây chúng ta
có thể thay thế đợc nhãn rồi lại bốc lên tàu và xem nh sản phẩm của nớc chuyển
tải hoặc một số nớc nào đó.
- Hàng đa vào nớc chuyển tải là hàng hoàn chỉnh hoặc bán sản phẩm nhng đ-
ợc khai là nguyên nhiên phụ kiện đợc coi là nguyên liệu để sản xuất hoặc để chế
biến và nghiễm nhiên trở thành sản phẩm của nớc chuyển tải.
- Hàng mang giấy tờ giả để chứng minh là hàng của nớc thứ 3 trên đờng đi từ
nớc xuất hàng đến nớc nhập hàng.
8
3-/ Mối quan hệ giữa buôn lậu và gian lận thơng mại.
Gian lận thơng mại dù không phải là một tội danh trong luật hình sự, nhng
các dấu hiệu đặc trng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu và buôn lậu cũng bao
gồm gian lận thơng mại.
Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống gian lận thơng mại của tổ chức Hải

9
bán ra với giá thị trờng chấp nhận, nhằm quay vòng vốn nhanh, thu lợi nhuận cao.
Để làm đợc những điều này không phải là việc dễ dàng và lại nhất là trong điều
kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay. Một trong những hiện tợng cạnh tranh, kinh
doanh để kiếm lợi nhuận lớn nhng trái pháp luật là lao vào "buôn lậu và gian lận
thơng mại ". Một số nhà kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, dù ở mức độ
khác nhau đã tìm đủ mọi cách luồn lách để thắng trong cuộc chạy đua "một vốn
bốn lời". Cho chạy theo lối sống giàu sang và quá sùng bái đồng tiền nhng lại
không đủ khả năng làm giàu hợp pháp mà gian thơng đã kinh doanh một cách bất
hợp pháp để kiếm lời nhanh và dễ dàng. Lợi ích cá nhân của họ đặt lên quá cao mà
không nghĩ đễn lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia mà trong đó họ có phần. Từ đó mà
buôn lậu và gian lận thơng mại ngày càng nảy sinh và phát triển. Hành vi buôn lậu
và gian lận thơng mại ngày càng tinh vi, diễn biến ngày càng phức tạp là điều bức
xúc đối với xã hội hiện nay.
Nhu cầu sử dụng hàng hoá ở các vùng địa lý khác nhau và hàng hoá có chất
lợng cao, giá thấp hơn ở nơi này sẽ có xu hớng chuyển sang nơi khác có hàng hoá
với chất lợng thấp hơn, giá cao hơn. Đây cũng là quy luật cạnh tranh trong lu
thông hàng hoá. Tuy nhiên trong một số trờng hợp để bảo vệ sản xuất nội địa Nhà
nớc phải dùng đến hàng rào thuế quan. Trong điều kiện đó gian thơng tìm mọi thủ
đoạn để tàng trữ buôn bán, vận chuyển hàng hoá qua biên giới, cũng nh lợi dụng
mọi khe hở để gian lận số lợng, chủng loại, đánh lẫn hàng hoá ... để trốn thuế
kiếm lời bất chính. Một số hàng hoá Nhà nớc cấm buôn bán vì những lí do không
bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội... và những hàng hoá buôn bán
phải có giấy phép vẫn bị gian thơng tìm mọi cách để buôn bán kiếm lời. Là những
hàng cấm nhng nhu cầu vẫn có nên giá của chúng rất cao, lợi nhuận từ việc buôn
bán trái phép những hàng hoá này mang lại rất cao lại càng thúc đẩy gian thơng
buôn bán để kiếm lời bất chính. Mặt khác vì âm mu phản động phá hoại chính trị
bọn buôn lậu hàng cấm cũng xuất hiện.
Đối với mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, chính sách đối ngoại,
chính sách kinh tế, yêu cầu bảo hộ nền sản xuất nội địa, quy định của pháp luật và

nguy hiểm này vẫn cha đến hồi ngng nghỉ, trận chiến này ngày càng gay go, phức
tạp. Theo nhận định của Cục điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan): Hoạt
động buôn lậu trên các tuyến biên giới lẫn tuyến trên biển đã xuất hiện nhiều thủ
đoạn mới, tinh quái hơn rất khó nắm bắt. Nếu tình trạng vi phạm pháp luật về hải
quan qua tuyến hàng không vẫn chủ yếu là: vận chuyển tài liệu phản động văn hoá
đồi trụy, xuất và nhập khẩu ngoại tệ có giá trị lớn nhng không khai báo hoặc khai
báo không trung thực thì tình trạng này ở tuyến đờng bộ diễn ra đa dạng và phức
tạp gấp nhiều lần, tập trung ở những điểm nóng là Quảng Ninh, Lạng Sơn. Ngoài
việc xuất lậu động vật hoang dã, nông lâm sản, đồ cổ, nhập lậu hàng tiêu dùng của
Trung Quốc nh đã từng xảy ra. Thời gian gần đây tại khu vực này nổi lên việc
11
nhập lậu đờng, vải, trứng, gia cầm, gạch men, thịt lợn v.v..".
- Khu vực biên giới phía Bắc (Biên giới Việt - Trung), khu vực đờng biển và
tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng lợi dụng địa hình hiểm trở, bọn đầu nâu th-
ờng sử dụng phơng thức xé lẻ hàng sau đó tổ chức cho đội ngũ cửu vạn vận
chuyển qua biên giới vào ban đêm, đồng thời thuê bọn đầu gấu, bọn nghiện hút áp
tải bảo vệ. Khu vực biên giới phía Tây Miền Trung (biên giới Việt- Lào) hoạt động
buôn lậu tập trung tại các khu vực Lao Bảo- Quảng Trị, Cầu treo- Hà Tĩnh. Mặt
hàng chủ yếu nhập lậu qua các khu vực này là thuốc lá ngoại, mỹ phẩm, vật liệu
xây dựng, nôi cơm điện. Theo báo cáo cua địa phơng và qua nắm tình hình cho
thấy lợng hàng rất lớn tập kết trên đất Laò tại các kho rộng hang nghìn m
2
, nằm
trên sông SêPôn cách cửa khẩu Lao Bảo 11km hoặc trên dọc đờng 8, sát cửa khẩu
cầu treo chờ thời cơ là xuất hàng lậu sang Việt Nam. Phơng thức vận chuyển hàng
lậu ở đây là sử dụng lực lợng cửu vạn đông đảo là ngời địa phơng cỡ 200- 300 ng-
ời mỗi cửa khẩu. Tại cửa khẩu của tỉnh Nghệ An và Lai Châu các vụ buôn lậu qua
biên giới bị bắt giữ chủ yếu là các chất ma tuý.
- Khu vực biên giới Tây Nam (biên giới Việt Nam- Campuchia ) có 4 trạm
kiểm soát liên hợp, đều do lực lợng Hải quan là nòng cốt thuộc 3 tỉnh Tây Ninh,

nhiều trờng hợp lái xe và chủ hàng lậu tìm cách mua chuộc cảnh sát giao thông.
Hàng lậu ngang nhiên, lén lút đợc vận chuyển đi các tỉnh để tiêu thụ.
Tình hình gian lận thơng mại ở Việt Nam thời gian qua theo đánh giá của
Tổng cục Hải quan là hết sức nghiêm trọng. Hàng ngoại thông qua buôn lalạu và
gian lận thơng mại tràn ngập thị trờng nội địa Việt Nam, bao gồm đủ loại từ hàng
cao cấp đắt tiền đến hàng tiêu dùng bình dân, hàng giả. Từ xe hơi du lịch, xe máy,
ti vi, đầu video, tủ lạnh, đồ điện tử gia dụng đến mỹ phẩm, hoá chất, rợu bia, thuốc
lá, quần áo... và nghiêm trọng hơn là văn hoá phẩm độc hại. Buôn lậu và gian lận
thơng mại xuất hiện ở khăp mọi nơi, Hải quan nào, cửa khẩu nào cũng phát hiện
thấy buôn lậu và gian lận thơng mại. Gian lận thơng mại khi tăng khi giảm nổi
cộm ở khu vực này, khi lại sôi động ở cửa khẩu kia.
1-/ Những mánh khoé và thủ đoạn trong buôn lậu.
Thủ đoạn của bọn buôn lậu ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn nh quay vòng
hoá đơn chứng từ, quay vòng tem hàng XK, tờ khai hải quan, chuyển đổi phơng
thức từ thuê "cửu vạn " sang cho "cửu vạn" vay vốn rồi thu mua lại hàng nhập lậu
để ràng buộc "cửu vạn" với hàng. Mặt khác nếu hàng hoá qua biên giới bị thu giữ
thì hàng hoá của dân "cửu vạn" bị mất. Mà những ngời tham gia đội quân "cửu
vạn" chủ yếu lại là những ngời nghèo, thất nghiệp, những ngời thuộc diện chính
sách, ngời già, trẻ em, ngời tàn tật.
Bọn buôn lậu còn lợi dụng vận chuyển hàng hoá vào thời gian lực lợng tuần
tra, kiểm tra ít hoạt động. Từ hoạt động theo đoàn nhóm, bọn buôn lậu lại chuyển
sang ban ngày nhỏ lẻ nên rất khó cho lực lợng chóng buôn lậu. Bọn buôn lậu còn
lợi dụng những hôm trời có gió mạnh, đêm tối hoặc ma to, ddeer ráo riết hoạt
động. Hàng nhẹ, ít tiền vận chuyển vào chập tối, giữa đêm là hàng kồng kềnh,
nhiều tiền.
13
Bọn buôn lậu còn dùng nhiều hình thức chẻ nhỏ hàng hoá từ xa để vận
chuyển sâu vào nội địa băng mọi phơng tiện, sử dụng các thông tin liên lạc hiện
đại để chỉ đạo, điều hành các hoạt động buôn bán và vận chuyển hàng nhập lậu.
Hàng lậu đợc chuyển về thành phố cũng bằng sổ sách. Nếu nh cán bộ kiểm tra

nhập khẩu ở Việt Nam bao gồm nhiều sắc thuế gộp lại là thuế quan, thuế doanh
thu, thuế phụ thu, thuế thu điều chỉnh bình ổn giá (thuế tiêu thụ đặc biệt vừa mới
bóc tách ra khỏi thuế xuất nhập khẩu từ 1/1/1996), nên thuế xuất nhập khẩu của ta
thờng cao, nhiều mặt hàng xuất khẩu có thuế suất cao nh: ô tô du lịch, rợu bia,
hàng điện tử... do thuế suất cao nên sự chênh lệch giữa giá phải trả cho việc khai
báo đầy đủ, chính xác và xuất trình trung thực cho các cơ quan kiểm tra, kiểm soát
Nhà nớc với lợi nhuận kiếm đợc do gian lận thơng mại là rất lớn. Thuế suất là một
trong những nguyên nhân hấp dẫn gian thơng, buôn lậu và gian lận thơng mại.
Điển hình là trong thời gian gần đây là việc khai thác sự sơ hở của luật thuế xuất
nhập khẩu, các gian thơng đã tìm mọi cách để biến tớng, để nhầm lẫn trong khai báo
mã hàng để gian lận thơng mại trốn thuế. Ví dụ:
Năm 1998 mấy chục doanh nghiệp nhập xe tải loại dới 5 tấn. Sau đó đa vào
xởng "hoán cải" thành xe du lịch 4 hoặc 12 chỗ ngồi. Vì xe ôtô du lịch 12 chỗ
ngồi có thuế suất 160% nhng vẫn chiếc xe đó, nếu thay đổi đi một vài chi tiết phụ
nh tháo hết ghế thành xe tải nhẹ thì thuế suất lúc này chỉ còn 60% nh vậy là giảm
đợc 100% thuế. Còn đối với các loại xe thiết kế chuyên dụng nh xe đông lạnh
không quy định trong Quyết định số 254 /1998/QĐ-TTg về việc điều hành XNK
hàng hoá năm 1999 thì đợc coi nh nhập khẩu không hạn chế, thuế suất 10%. Phát
hiện ra cái "khe' hở chênh lệch tới 50% thuế nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp, mà
phần lớn là các Công ty TNHH, các DN t nhân đã móc nối, thông đồng với phía
bán hàng ở nớc ngoài "hoán cải" loại xe tải dới 5 tấn thành xe chuyên dụng đông
lạnh để nhập khẩu vào Việt Nam với thuế suất 10% thay vì nhập khẩu cũng loại xe
này không "hoán cải", phải xin phép Bộ Thơng mại và phải chịu thuế suất 60%.
Xe đạp đua có thuế suất nhập khẩu là 5% trong khi các loại xe khác có thuế nhập
khẩu là 60%. Việc chênh lệch 55% thuế suất từ xe đạp thờng sang xe đạp đua là
bài toán để các gian thơng nghiên cứu "vận dụng linh hoạt" thế là hàng chục nghìn
xe đạp kiểu dáng xe đua đợc sản xuất ở nớc ngoài theo đơn đặt hàng ở trong nớc
nh tay lái phải uốn cong, đĩa líp phải có nhiều tầng, lốp đặc... đã tràn vào Việt
Nam với giá nhập khẩu khoảng từ 50 đến 100USD/chiếc. Những chiếc xe này đợc
khai là xe đạp đua và đợc tính thuế là 5% nhng thực chất đây hoàn toàn không

giám sát và kiểm tra Hải quan để gian lận thơng mại bằng các thủ đoạn nh hàng
nhiều nhng chỉ khai một phần, hàng có giá trị cao khai hàng có phẩm cấp thấp.
- Gian lận th ơng mại qua việc cố ý xác định sai xuất xứ hàng hoá. Xác đinh
xuất xứ hàng hoá là vấn đề kỹ thuật phức tạp, rất quan trọng. liên quan đến lợi ích
chủ quyền quốc gia. Đây là vấn đề rất mới mẻ đối với Việt Nam ta. Xuất xứ hàng
hoá liên quan đến hai vấn đề chính là: Thuế xuất nhập khẩu và chính sách u đãi
thuế giữa các nớc thành viên có quan hệ giành cho nhau hởng quy chế tối huệ
quốc. Từ mối liên quan giữa xác định xuất xứ hoặc xuất trình giấy chứng nhận
xuất xứ giả, khai không đúng xuất xứ hàng hoá XNK để trốn thuế.
- Gian lận th ơng mại thông qua hải quan cho hàng chuyển tiếp. Nghị định số
171/HĐBT ngày 27/05/1991 của Hội Đồng Bộ Trởng (nay là Chính phủ) ban hành
bảng quy hoạch cụ thể thủ tục hải quan rất rõ là đối với hàng hoá kinh doanh XNK
có thể làm thủ tục hải quan tại nơi nào chủ hàng thấy tiện nhất. Tổng cục hải quan
16
cũng đã có nhiều văn bản, quy chế quy định về địa điểm kiểm tra ngoài khu vực cửa
khẩu, thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu đợc phép chuyển tiếp. Điều này
có nghĩa là Hải quan chấp nhận để các doanh nghiệp đa hàng hoá nhập khẩu từ nớc
ngoài về khu vực kho bãi của doanh nghiệp làm thủ tục kiểm tra, kiểm hoá và hoàn
tất thủ tục Hải quan tại doanh nghiệp mà không cần phải kiểm tra lại các cửa khẩu.
Thực tế vấn đề này còn có nhiều sơ hở nên gian lận thơng mại còn có nhiều môi tr-
ờng hoạt động. Hoạt động gian lận thơng mại qua hàng chuyển tiếp là một đặc thù
của Việt Nam. Trị giá hàng hoá gian lận thơng mại qua hình thức này là rất lớn. Vì
vậy Tổng cục Hải quan coi đây là vấn đề nhức nhối hiện nay trong công cuộc đấu
tranh chống gian lận thơng mại.
- Gian lận thơng mại trong lĩnh vực liên doanh đầu t.
Theo quy định của luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam va Nghị định số 18/CP
ngày 14/04/1993 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành luật đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam thì các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc miễn thuế nhập
khẩu đối với thiết bị, máy móc phụ tùng và các phơng tiện sản xuất kinh doanh và
các vật t nhập khẩu vào Việt Nam để đầu t xây dựng cơ bản hình thành xí nghiệp

phẩm thì thanh khoản trừ lùi vào phần nguyên phụ liệu đã nhập cho đến khi kết
thúc hợp đồng, phần thừa không xuất hết mới phải nộp thuế. Song trong thực tế có
những hợp đồng gia công kéo dài từ 5 đến 10 năm, nguyên phụ liệu nộp vào và sản
phẩm gia công hoàn chỉnh đợc xuất ra khỏi Việt Nam phải thực hiện trong một
thời gian dài, bằng nhiều chuyến hàng, qua nhiều bộ tờ khai hải quan. Hơn nữa,
theo Nghị định số 171/HĐBT, chủ hàng có thể làm thủ tục Hải Quan nơi nào cảm
thấy thuận tiện cho mình nhất, nên cùng một hợp đồng cùng một giấy phép nhng
khi chủ hàng làm thủ tục tại hải quan địa phơng này, khi thì chủ hàng làm ở địa
phơng khác. Do đó, việc theo dõi các thanh khoản các hợp đồng gia công là hết
sức phức tạp khó khăn, đó là cha kể đến quan niệm một số các bộ Hải Quan cho
rằng hàng gia công đợc miễn thuế. Đây là những sơ hở mà các chủ hàng gia công
triệt để lợi dụng. Thủ đoạn của họ là nhập nguyên phụ liệu nhiều nhng khi sản
xuất ra thành phẩm không hết mà một phần đợc tiêu thụ trong nội địa để trốn thuế
nhập khẩu. Hoặc bằng cách khi ký hợp đồng gia công, bên gia và công nhận gia
công đã thông đồng với nhau để xác định sai định mức tiêu hao nguyên phụ liệu,
số dôi thừa do xác định sai này họ sẽ đem bán trong nớc một cách công khai mà
vẫn trốn đợc thuế nhập khẩu.
- Gian lận th ơng mại qua lợi dụng hàng hoá gửi kho ngoại quan. Theo quy
định của quy chế kho ngoại quan ban hành kèm theo Quyết định số 104-TTg ngày
16/03/1994 của Thủ tớng Chính phủ: "Tất cả các loại hàng hoá chờ xuất hoặc chờ
nhập khẩu đều đợc chấp nhận đa vào lu giữ trong kho ngoại quan trừ trờng hợp
hàng hoá mang nhãn hiệu giả mạo xuất xứ Việt Nam, cấm nhập đối với nớc nhập
hàng từ kho ngoại quan". Cũng theo quy chế kho ngoại quan, hàng hoá từ nớc
ngoài đa vào kho ngoại quan cha nộp thuế nhập khẩu... Từ quy định trên chủ hàng
lợi dụng để đa vào kho ngoại quan những lô hàng "có vấn đề" nh chủ hàng nhập
một lô hàng cấm sau khi đã móc ngoặc đợc với một số cán bộ Nhà nớc có chức
năng quản lý, kiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nhng khi hàng đến Việt Nam, vì một
lý do nào đó đã bị trục trặc không làm thủ tục nhận hàng đợc. Nếu cứ cố tình làm
thủ tục nhận hàng sẽ bị phát hiện và xử lý phạt tịch thu hàng có khi còn phải chịu
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status