TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN HỮU THIỆN
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN
ĐƢỜNG HÔ HẤP VÀ TIẾT NIỆU SINH DỤC
Ở ĐÀN GÀ TẠI QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH THÚ Y
Cần Thơ,12/2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN HỮU THIỆN
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN
ĐƢỜNG HÔ HẤP VÀ TIẾT NIỆU SINH DỤC
Ở ĐÀN GÀ TẠI QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH THÚ Y
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày
tháng
năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
iii
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn đến
Quý thầy cô Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi Thú y của khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Cần Thơ đã cung cấp những kiến thức
quý báu trong quá trình tôi học tập. Đặc biệt là thầy Nguyễn Phúc Khánh đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi làm đề tài.
Thầy Trần Ngọc Bích đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có điều
kiện thực tập tại trại.
Chủ trại-chú Nguyễn Văn Hoàng đã nhiệt tình hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài.
Bạn Mai Thành Lộc, bạn Lưu Thị Hồng Loan và bạn Đường Thị Hồng Vân đã
cùng tôi gắn bó trong suốt thời gian qua.
Các thành viên của tập thể lớp Thú Y Liên Thông K37, đã giúp đỡ và chia sẽ với
tôi trong quá trình học tập.
Ba mẹ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập theo con đường mà tôi đã
chọn.
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.
Nguyễn Hữu Thiện
2.3. Một số bệnh thường gặp ở gà ................................................................ 7
2.3.1. Bệnh cúm gia cầm .......................................................................... 7
2.3.2. Bệnh Newcastle .............................................................................. 8
2.3.3. Bệnh Gumboro ............................................................................. 10
2.3.4. Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm................................................ 11
2.3.5. Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm ....................................... 12
2.3.6. Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ....................................................... 14
2.3.7. Bệnh tụ huyết trùng (toi gà) .......................................................... 15
2.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .......................................... 17
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .................................................. 17
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ................................................. 17
Chƣơng 3: Phƣơng tiện - Phƣơng pháp nghiên cứu .................................. 19
3.1. Phương tiện nghiên cứu ...................................................................... 19
3.1.1. Nội dung nghiên cứu ...................................................................... 19
3.1.2. Địa điểm - Thời gian..................................................................... 19
3.1.3. Dụng cụ - Đối tượng ..................................................................... 19
3.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 20
3.2.1. Phương pháp mổ khám ................................................................. 20
3.2.2. Phương pháp khảo sát bệnh tích của gà ........................................ 21
v
Chƣơng 4: Kết quả - Thảo luận .................................................................. 22
4.1. Tổng quát về địa điểm điều tra ............................................................ 22
4.1.1. Tình hình chuồng trại ................................................................... 22
4.1.2. Chăm sóc nuôi dưỡng ................................................................... 22
4.1.3. Công tác thú y .............................................................................. 24
4.2. Kết quả khảo sát bệnh tích trên các cơ quan ........................................ 25
4.2.1. Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện trên hệ hô hấp và tiết niệu sinh dục ....... 25
Ctv
Cộng tác viên
CT
Cầu trùng
CO2
Cacbondioxide
CRD
Chronic respiratory disease (Bệnh hô hấp mãn
tính)
ELISA
Enzyme - Linked ImmunoSorbent Assay (xét
nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với
enzyme)
Gum
Gumboro
GS
Giun sán
Tỷ lệ
IBD
Infections bursal disease (Bệnh Gumboro)
SL
Số lượng
VPQTN
Viêm phế quản truyền nhiễm
vii
DANH SÁCH HÌNH
Tên hình
Trang
Hình 1
Khí quản xuất huyết lấm tấm và thành vệt
5
Hình 2
Thận bình thường
6
Hình 8
Bộ dụng cụ mổ khám
20
Hình 9
20
Hình 10
Gà nghi bệnh chuẩn bị mổ khám biểu hiện bệnh tích ủ
rũ, xù lông, xã cánh, mắt sưng
Mô hình chuồng trại
Hình 11
Máng ăn, máng uống
22
Hình 12
Khí quản xuất huyết thành vệt
31
Hình 18
Thận sưng
31
Hình 19
Thận sưng và hoại tử
31
viii
22
DANH SÁCH BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 1
Quy trình tiêm phòng
Bảng 7
Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở thận
31
ix
26
TÓM LƢỢC
Hiện nay, trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà công
nghiệp nói riêng. Có rất nhiều bệnh hết sức phức tạp trên đường hô hấp, tiêu
hóa, tiết niệu sinh dục, tuần hoàn, gây nhiều thiệt hại đáng kể đến nền kinh tế
của nhà chăn nuôi. Các bệnh này làm cho gà còi cọc, chậm lớn và tỷ lệ chết rất
cao. Để tìm hiểu về tình hình nhiễm các bệnh trên đường hô hấp và tiết niệu
sinh dục ở gà công nghiệp chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh
tích đại thể trên đường hô hấp và tiết niệu sinh dục ở đàn gà tại quận Bình
Thủy thành phố Cần Thơ”.
Qua quá trình khảo sát trên 88 mẫu gà nghi là mắc bệnh ở ba nhóm tuổi:
dưới 1 tháng tuổi, từ 1-2 tháng tuổi và trên 2 tháng tuổi. Bằng phương pháp
chẩn đoán lâm sàng và mổ khám thì chúng tôi xác định được tỷ lệ bệnh tích
trên đường hô hấp và tiết niệu sinh dục của gà ở trại với kết quả như sau:
Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện trên đường hô hấp cao hơn so với đường tiết
niệu và sinh dục như bệnh tích xuất hiện trên phổi chiếm tỷ lệ 57,95%, trên
khí quản chiếm tỷ lệ 53,41%. Bệnh tích xuất hiện trên thận chiếm tỷ lệ rất thấp
6,82%.
Tỷ lệ gà trống có bệnh tích xuất hiện trên hệ hô hấp và tiết niệu sinh dục
cao hơn so với gà mái (gà trống là 38,64%, gà mái là 31,82%).
"Khảo sát bệnh tích đại thể trên đƣờng hô hấp và tiết niệu sinh dục ở đàn
gà tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ", với mục tiêu:
Xác định những triệu chứng bệnh tích thường gặp trên đàn gà qua các
giai đoạn phát triển.
Xác định tỷ lệ bệnh tích trên đường hô hấp, tiết niệu và sinh dục tại cơ
sở chăn nuôi.
Từ đó có thể chẩn đoán được một số bệnh xảy ra trên gà.
1
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Giải phẫu hệ thống hô hấp và tiết niệu sinh dục
2.1.1. Phổi
Có màu hồng tươi, kích thước không lớn, tính đàn hồi kém, không phân
thùy như những vật nuôi khác.
Thể tích hai lá phổi chiếm 1/4 xoang ngực, nằm hai phía cột sống và phần
trên xương sườn. Phổi gia cầm không có màng phổi, giữa hai lá phổi mặt trong
xương ngực có vách ngăn chứa tim và các mạch máu lớn.
Mặt dưới mỗi lá phổi có phế quản phía bụng và phế quản phía lưng. Phế
quản lưng có 6-8 túi khí là hệ thống ống hít vào. Phế quản bụng có 4-6 túi khí
là hệ thống ống thở ra. Các phế quản có hệ thống ống nhỏ gọi là tiểu phế quản
(Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007).
2.1.2. Các túi khí
Là phần lồi ra ngoài có màng mỏng của thành phế quản chính và phế
quản thứ. Dựa vào chức năng người ta chia túi khí: túi khí hít vào và túi khí
thở ra. Gia cầm có 9 túi khí. Ngoài chức năng hít vào và thở ra, túi khí còn có
chức năng giảm khối lượng khi bay. Loài thủy cầm túi khí giúp con vật lặn
ngụp lâu dưới nước. Ví dụ: Vịt có thể lặn dưới nước 10-15 phút (Trịnh Quang
Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007).
Phễu (loa kèn): Nằm phía dưới buồng trứng và được giữ ở vị trí cố định
nhờ hai nếp màng treo ruột. Phễu có nhiệm vụ hứng trứng và là nơi trứng thụ
tinh. Tế bào trứng dừng ở phễu từ 5-25 phút. Trên thành phễu có những nếp
nhăn và có chất dinh dưỡng nuôi tinh trùng. Tinh trùng sống ở phễu từ 1-30
ngày, nhưng hoạt lực mạnh nhất từ 1-7 ngày. Sau đó phễu nhu động đẩy trứng
xuống bộ phận tạo lòng trắng.
Bộ phận tạo lòng trắng: Chiều dài bằng 2/3 chiều dài ống dẫn trứng.
Chức năng tạo ra lòng trắng đặc, dây chằng và lòng đỏ: sau đó trứng được đẩy
xuống phần eo.
Phần eo: Tạo ra màng vỏ trứng và tạo ra một phần lòng trắng loãng. Tại
đây hình dạng quả trứng được hình thành.
Tử cung: Là đoạn cuối phần eo to ra, thành dày co dãn tốt và là đường
trứng đi qua. Tử cung có chức năng tiết ra chất vôi tạo nên vỏ trứng. Màu sắc
vỏ trứng phụ thuộc vào giống gia cầm.
Âm đạo: Là phần cuối cùng của ống dẫn trứng. Nhiệm vụ tiết chất mỡ
bao quanh trứng. Lớp mỡ này giống như màng nhầy làm trơn quả trứng, giúp
cho gia cầm dễ đẻ và ngăn không cho tạp khuẩn xâm nhập vào trong trứng.
Thời gian trứng dừng lại trong âm đạo từ 10-15 phút. Âm đạo có lỗ thông ở
phần giữa của huyệt bên trái với ống dẫn nước tiểu. Gia cầm khi đẻ âm đạo lồi
ra khõi lỗ huyệt để trứng không bẩn (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh,
2007).
3
2.1.6. Cơ quan sinh dục con trống
Tinh hoàn: Là cơ quan đôi hình ôvan hoặc hình hạt đậu, màu trắng hoặc
có rợn vàng, nằm trong xoang bụng ở vị trí trước cuối thận. Ở gà trống trưởng
thành trong thời kỳ tính dục, tinh hoàn dài tới 4,7 cm, chiều rộng 2,7 cm, dày
2,5 cm, trọng lượng 17-19g. Thời kỳ thay lông trọng lượng giảm tới 3-5g.
Hình 1. Khí quản xuất huyết
Hình 2. Khí quản xuất huyết
lấm tấm và thành vệt
có chứa dịch lẫn bọt khí
2.2.2. Bệnh tích ở phổi
Phổi xuất huyết: trên bề mặt phổi có những đốm xuất huyết màu đỏ tươi,
hay đỏ đen, máu rỉ ra ở mặt cắt khi bóp mạnh. Xuất huyết được xếp loại theo
mức độ, kích thước, hình dạng hay vị trí xuất huyết lốm đốm, phân bố có
trọng tâm, xuất huyết từng điểm nhỏ, từng đám.
Phổi ứ huyết: phổi có màu đỏ sẫm ở hầu hết các tiểu thùy, nặng, chắc hơn
bình thường và dễ cắt, mặt cắt chảy nhiều máu.
Phổi xẹp: phổi có màu hồng nhạt hoặc đỏ đục, giảm kích thước, tính chất
dai chắc, bóp không nghe tiếng lào xào như phổi bình thường. Thường phổi
xẹp ở thùy đỉnh, thùy tim, có khi xẹp hẳn một lá, lá còn lại vẫn bình thường
hoặc lớn hơn bình thường do tính bù trừ. Phổi xẹp chìm trong nước như phổi
bị gan hóa và không có dịch lỏng chảy ra từ mặt cắt khi bóp mạnh.
Phổi phù: quan sát thấy phổi sưng phù, bở, màu tái nhợt, nặng hơn bình
thường, bóp không nghe lào xào cắt ngang có dịch màu đỏ chảy ra, mặt cắt
ướt do phổi chứa nhiều chất lỏng trong những khoảng trống của mô.
Phổi viêm: viêm nhu mô của phổi bình thường, phổi viêm kéo theo viêm
các đường dẫn khí đôi khi viêm màng phổi tiếp giáp gây nóng, đỏ, sưng, đau.
Viêm phế nang: bệnh tích viêm định vị ở các phế nang. Viêm màng phổi: bệnh
tích viêm trên lá thành, lá tạng của màng phổi, làm cho màng phổi dày đục lên
(viêm tơ huyết, viêm dính sườn). Quá trình viêm tiết dịch làm sợi huyết kết
dính màng phổi vào sườn, màng phổi không trơn láng mà sần sùi. Tổ chức
Nguyên nhân
Do virus cúm thuộc type A thuộc họ Orthomyxovidae gây ra.
Loài cảm nhiễm
Gà cảm thụ nhất, kế đến là chim hoang, vịt,.... Ngoài ra, ngựa, hải cẩu,
khỉ,... có thể mắc bệnh.
Đƣờng lây lan
Đường hô hấp, tiêu hóa.
Triệu chứng
Thể nhẹ rối loạn hô hấp nhẹ. Thường gây bệnh cho gia cầm con, có triệu
chứng như: xổ mũi, hắt hơi, viêm xoang, có triệu chứng thần kinh, chết ít. Thể
nặng gà mắc bệnh trầm trọng. Tỉ lệ chết có thể đến 100%. Ngoài ra gà bị cúm
còn thể hiện các triệu chứng sau: sốt cao, đi xiêu vẹo, rung rẩy, uống nước
nhiều, mí mắt sưng, mào tích sưng, thâm tím, đầu sưng phù (do viêm xoang),
ho, chảy nước mũi, thở khó, khạt đờm nhầy đặc đôi khi có máu, tiêu chảy
phân trắng, da chân khô do mất nước, xuất huyết da chân, ngón chân, có triệu
chứng thần kinh, gà đẻ trứng giảm.
Bệnh tích
Trường hợp nặng bệnh tích sung huyết, xuất huyết rất nhiều cơ quan phủ
tạng. Đôi khi hoại tử, chảy mủ, xung quanh hậu môn có nhiều phân, xuất
huyết. Khí quản xuất huyết nhiều, thực quản đôi khi có xuất huyết, dạ dày
tuyến xuất huyết nặng, có trường hợp viêm loét sâu.
Giống nhau giữa Cúm gia cầm và Newcastle: mắt sưng, hậu môn xuất
huyết, có triệu chứng thần kinh, dạ dày tuyến xuất huyết, viêm xuất huyết ở tá
tràng (giống Newcastle và dịch tả). Khác nhau giữa Cúm gia cầm và
Newcastle: xuất huyết mỡ bụng, màng treo ruột, mỡ bao tim, xuất huyết cơ
đùi, xuất huyết và viêm buồng trứng, trứng vở trong xoang bụng. Phổi viêm,
sung huyết, túi khí có những tơ huyết. Thận, lách sưng, xuất huyết, một số
trường hợp túi Fabricius sưng. Hiện tượng phù nề, xuất huyết tế bào lâm ba
cầu đơn nhân.
ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, uống nhiều nước, khi dốc ngược gà
xuống thấy chảy nước nhớt mùi chua khắm. Vài ngày sau gà tiêu chảy, phân
có màu nâu sẫm, trắng xám hoặc trắng xanh có nhiều urat. Niêm mạc hậu môn
xuất huyết thành những tia máu đỏ. Thể mãn tính xảy ra ở cuối ổ dịch. Do tổn
thương tiểu não, cơ năng vận động biến loạn nặng, con vật bị vặn đầu ra sau,
đi giật lùi, đi vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường
xảy ra khi có những kích thích. Bệnh kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nếu được
8
chăm sóc tốt gà có thể khỏi nhưng mắc di chứng thần kinh trong thời gian dài.
Gà lành bệnh cho miễn dịch suốt đời.
Bệnh tích
Thể quá cấp bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở nội
tâm mạc, màng ngực, cơ quan hô hấp. Thể cấp tính xoang mũi và miệng có
nhiều dịch nhớt màu đục. Niêm mac miệng, hầu họng, khí quản xuất huyết,
viêm phủ màng giả có fibrin. Tổ chức vùng đầu, hầu, cổ bị thủy thủng, thấm
dịch xuất vàng (một số con). Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết, lấm tấm màu
đỏ tròn bằng đầu đinh ghim, điểm xuất huyết tương ứng với các lổ đổ ra của
tuyến tiêu hóa, các điểm xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt. Dạ
dày cơ xuất huyết và thâm nhiễm dịch xuất kiểu gelatin. Ruột non xuất huyết,
viêm, trong trường hợp bệnh kéo dài, có thể có những nốt loét hình tròn, hình
bầu dục, cúc áo. Trường hợp nặng, nốt loét có thể lan xuống ruột già, hậu
môn. Hạch manh tràng viêm, xuất huyết, hoại tử. Gan có một số đám thoái hóa
mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ, có màu nâu xám. Dịch hoàn, buồng trứng
xuất huyết thành từng vệt, từng đám. Trứng non vỡ trong xoang bụng. Bao
tim, xoang ngực, bề mặt xương ức xuất huyết. Thể mãn tính thoái hóa và viêm
tế bào nơron thần kinh với sự thâm nhiễm tế bào lâm ba quanh mạch (thường
thấy nhất ở tiểu não, cũng có thể thấy ở tủy sống).
những gà khác xúm lại mổ, có thể tự nó mổ nó, hậu môn bết đầy phân, gà bỏ
ăn, run rẩy, suy nhược trầm trọng và có thể chết. Tỉ lệ gà mắc bệnh cao có thể
lên đến 100%. Gà chết bắt đầu từ ngày thứ 3 sau khi nhiễm bệnh và sau đó
tăng nhanh và giảm nhanh sau 5-7 ngày thì chấm dứt. Tỉ lệ chết thường thấp,
nhưng nếu điều kiện chăn nuôi kém tỉ lệ chết có thể lên đến 20-30% hoặc cao
hơn.
Bệnh tích
Thể ẩn tính tuyến ức và túi Fabricius teo. Thể cấp tính cơ sậm màu, cơ
ngực, đùi xuất huyết thành từng vệt dài. Nơi tiếp xúc giữa dạ dày tuyến và dạ
dày cơ xuất huyết. Niêm mạc ruột tăng tiết dịch, thận có thể sưng, ống dẫn tiểu
chứa nhiều urat. Lách có thể hơi sưng, có những chấm xám nhỏ trên bề mặt.
Bệnh tích điển hình nhất là túi Fabricius, ở ngày thứ ba sau khi nhiễm trùng túi
Fabricius bắt đầu tăng kích thước và trọng lượng, thủy thủng, có màu đỏ, bề
mặt phủ một lớp gelatin, có thể có xuất huyết, đến ngày thứ tư, trọng lượng
gấp đôi so với bình thường và bắt đầu teo lại, ngày thứ 5 trở lại kích thước
bình thường và tiếp tục teo, đến ngày thứ 8 có kích thước bằng 1/3 so với bình
thường.
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng bệnh xảy ra thình lình, tỉ lệ chết lúc đầu cao sau đó
giảm mạnh, bệnh tích điển hình ở túi Fabricius.
Chẩn đoán virus học tiêm truyền qua phôi, tế bào một lớp. Chẩn đoán
huyết thanh học phản ứng trung hòa, phản ứng ELISA.
10
Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh viêm phế quản truyền
nhiễm.
Điều trị
Không có thuốc điều trị đặc hiệu, tăng cường sức đề kháng gà bằng việc
nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc, cung cấp đầy đủ chất điện giải có thể làm
11
sưng, nhạt màu, ống dẫn tiểu trương to chứa nhiều urat. Ở gà đẻ, buồng trứng
teo, ống dẫn trứng ngắn lại không phát triển, trứng non vỡ trong xoang bụng.
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào đặc điểm của bệnh là hiện tượng rối loạn hô
hấp nặng ở gà con, giảm sản lượng trứng trầm trọng ở gà lớn, lòng trắng trứng
loãng, buồng trứng teo, ống dẫn trứng ngắn lại.
Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh hô hấp mãn tính, viêm thanh
khí quản truyền nhiễm.
Chẩn đoán virus học, có thể định danh virus từ bệnh phẩm bằng các phản
ứng trung hòa virus, phản ứng miễn dịch huỳnh quang, phản ứng miễn dịch
peroxydase hoặc phản ứng ELISA phát hiện kháng nguyên. Chẩn đoán huyết
thanh học là phản ứng HI, phản ứng trung hòa virus, phản ừng ELISA, phản
ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (nhưng kháng thể kết tủa khuếch tán trên
thạch thường chỉ hiện diện trong thời gian ngắn sau khi nhiễm virus. Do đó,
đối với những gà dương tính với xét nghiệm kết tủa khuếch tán trên thạch
được xem là vừa mới nhiễm bệnh).
Phòng bệnh
Phòng bằng vacccine, vaccine trên thế giới hiện nay được sản xuất chủ
yếu từ chủng Massachusetts. Vaccine chết thường được sử dụng trên các đàn
gà giống. Vệ sinh phòng bệnh.
Điều trị
Không có phương pháp điều trị đặc hiệu nào đối với bệnh này (Hồ Thị
Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012).
2.3.5. Bệnh viêm
laryngotracheitis)
thanh
ra mệt mỏi, kém ăn. Từ khóe mắt, hốc mũi có dịch nhớt chảy ra, có khi khô
quánh lại. Gia cầm vươn cổ để thở, ho khan, nghe tiếng rít khi gia cầm thở.
Con vật ngày càng thở khó, ho và hắt hơi bắn ra ngoài niêm dịch đặc có lẫn
fibrin và máu đông. Ở thể cấp tính bệnh tiến triển từ 1-4 ngày, tỷ lệ chết rất
cao. Nếu căn bệnh có độc lực thấp hoặc sức đề kháng của gia cầm cao, bệnh
chỉ xảy ra ở thể nhẹ, với triệu chứng hô hấp âm ỉ, kéo dài, tỷ lệ chết không
đáng kể.
Bệnh tích
Trên xác chết có dịch nhớt, có fibrin, có mủ ở khóe mắt, mũi. Niêm mạc
thanh quản, khí quản xuất huyết nặng, có thể viêm lan lên hóc mắt, mũi.
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng có thể tiến hành ở gà 100 ngày tuổi với đạc điểm
thành khí quản có màng giả. Có thể nhỏ mắt, mũi cho gà con, tiêm màng
nhung niệu.
Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh tụ huyết trùng, Newcastle,
đậu gà, viêm phế quản.
Chẩn đoán virus học. Ngoài ra cũng có thể sử dụng phương pháp nhuộm
kháng thể huỳnh quang, phương pháp miễn dịch men peroxydase, phương
pháp PCR để phát hiện virus từ trong các tổ chức bệnh phẩm. Chẩn đoán
huyết thanh học: phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch, phản ứng miễn dịch
huỳnh quang, phản ứng trung hòa virus, phản ứng ELISA.
Phòng bệnh
Bằng vaccine như nhỏ mắt, nhỏ mũi, tiêm kiểm tra kỉ nguồn trứng (phân
có nhiều virus có thể xâm nhập vào trứng).
Điều trị
Không có thuốc điều trị hoặc làm giảm triệu chứng của bệnh. Khi phát
hiện trong đàn có gà biểu hiện bệnh lý cần tiêm ngừa ngay cho những con còn
lại trong đàn (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012).
13
như keo dính chặt vào niêm mạc. Phổi phù thủng, bề mặt phủ fibrin, có những
vùng viêm hoại tử (trong tường hợp này người ta phân lập được Escherichia
coli). Các túi khí dầy, đục, bên trong có chứa dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài,
các chất này sẽ khô lại và có màu vàng, bỡ. Bệnh tích này thường xảy ra ở túi
khí vùng ngực và vùng bụng. Viêm ngoại tâm mạc, viêm quanh gan, viêm
phúc mạc, lách có thể hơi sưng.
14