TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Khảo sát bệnh đường tiêu hoá trên chó và theo dõi kết quả điều trị
tại Phòng mạch Trạm Thú Y liên quận Ninh Kiều – Bình Thuỷ, Thành Phố
Cần Thơ”, do sinh viên Đỗ Thị Thuỳ Dương MSSV: LT11648 thực hiện tại
Phòng mạch Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thuỷ, Thành phố Cần Thơ
từ ngày 29/08/2013 đến ngày 03/10/2013.
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
Duyệt Bộ môn
CầnThơ, ngày….tháng….năm 2013
Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Châu Thị Huyền Trang
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
----------
ĐỖ THỊ THUỲ DƯƠNG
KHẢO SÁT BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HOÁ TRÊN
CHÓ VÀ THEO DÕI KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI
Đỗ Thị Thuỳ Dương
MSSV: LT11648
Lớp: Thú Y K37
Cần Thơ, tháng 12/ 2013
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội hiện nay, nhu cầu nuôi chó ngày cũng trở nên phổ biến với
nhiều mục đích đa dạng hơn: ngoài vai trò giữ nhà, chó còn được nuôi như thú
cảnh, giải trí hay đóng vai trò trong công tác bảo vệ an ninh quốc phòng...góp
phần làm cho số lượng chó nuôi ngày càng tăng đồng thời kéo theo sự gia tăng về
bệnh tật trên chó.
Bệnh ở chó rất đa dạng bao gồm bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, bệnh
đường hô hấp, bệnh ký sinh trùng, bệnh đường sinh dục,...Trong đó, bệnh về
đường tiêu hoá chiếm phổ biến nhất. Tại một số cơ sở thú y thuộc Thành phố Cần
Thơ tỷ lệ bệnh đường tiêu hoá trên chó chiếm 38,09%. Theo Trần Hoàng Minh
(2010) trong số 826 ca chó mang đến điều trị tại trạm thú y liên quận Ninh Kiều –
Bình Thuỷ từ tháng 8 đến tháng 9/2010 thì số con bệnh về đường tiêu hoá là
nhiều nhất (388 con) chiếm tỷ lệ 46,97%. Nguyên nhân gây bệnh đường tiêu hoá
rất đa dạng bao gồm: do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, trúng độc…do vậy việc
thu thập triệu chứng lâm sàng để có hướng điều trị thích hợp và kịp thời là một
vấn đề cần thiết. Với mục đích điều trị bệnh hiệu quả, con vật khỏi bệnh nhanh,
mau phục hồi sức khỏe, chi phí điều trị thấp thì công tác chẩn đoán bệnh là vô
cùng quan trọng, giúp người điều trị xác định được nguyên nhân bệnh, đánh giá
mức độ bệnh từ đó đưa ra phác đồ điều trị thích hợp cho con vật bệnh.
Do vậy, xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Bộ Môn Thú Y,
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, dưới sự
hướng dẫn của Thạc sỹ Châu Thị Huyền Trang và sự giúp đỡ của Trạm Thú Y
tỉ lệ mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy ở chó nghiệp vụ tại Hà Nội chiếm tỷ lệ khác
cao 38,64%.
Theo Lê Minh Thành (2009) trên chó từ 1 đến 6 tháng tuổi cho thấy trong
tổng số 812 ca khảo sát có 310 ca mắc bệnh tiêu chảy máu, nôn chiếm tỷ lệ
38,18%. Trong tổng số 310 ca bệnh tiêu chảy máu, nôn thì có tới 146 ca cho kết
quả dương tính với Parvovirus.
Phạm Thị Mỹ Hạnh (2009) khi khảo sát 3358 ca bệnh thì có 1279 ca bệnh
đường tiêu hoá trong đó bệnh tiêu chảy nghi do vi khuẩn là 339 mẫu chiếm tỷ lệ
26,51%.
Trần Hoàng Minh (2010) qua khảo sát 826 chó bệnh mang đến điều trị tại
Phòng mạch Trạm thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thuỷ, Thành phố Cần Thơ
từ tháng 8-9/2013 thì có 388 con bệnh đường tiêu hoá chiếm tỷ lệ 46,97%, trong
đó số con bệnh tiêu chảy máu là 70 con chiếm tỷ lệ 18,04%.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1979, Markpol và ctv., tiến hành cuộc thí nghiệm tại trung tâm huấn
luyện chó thuộc quân đội Hoàng gia Thái Lan bằng kính hiển vi điện tử và định
nồng độ kháng thể trong huyết thanh nhằm mô tả tác nhân dịch tể gây ra tình
trạng chó chết hàng loạt ở Thái Lan do bệnh viêm ruột và đồng thời qua đó phân
lập virus gây bệnh cấy vào chó khoẻ để mô tả bệnh tích.
2
Kết quả của Bruce (1993) tại Mỹ chỉ ra rằng bệnh tiêu chảy do vi khuẩn,
chó mang mầm bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Vi khuẩn
Salmonella và Campylobacter là nguyên nhân gây đau bụng, tiêu chảy ở chó và
người. Cả chó và người điều nhiễm bệnh từ những nguồn giống nhau, như sữa
nhiễm vi khuẩn.
McCanlish (1998) lý giải cho việc bệnh viêm ruột do Parvovirus ở chó con
là bệnh phổ biến nhất do ở môi trường nhiệt độ phòng Canine Parvovirus có thể
2.2 Các giống chó nuôi phổ biến ở Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ
2.2.1 Giống chó nội
Chó ta
Có rất nhiều màu sắc: vàng, trắng, đen, đốm…Chó có tầm vóc trung bình,
cao 50-55 cm, nặng 12-15 kg, chó được nuôi chủ yếu để giữ nhà và làm thực
phẩm.
Chó đực thành thục sinh dục ở 15-18 tháng tuổi, chó cái 12-14 tháng tuổi.
Trung bình chó cái đẻ khoảng 4-7 con/ổ.
Chó Phú Quốc
Đây là loại chó có tầm vóc cao 60-65 cm, nặng 20-25 kg. Chó Phú Quốc
có đặc điểm ngoại hình rất dễ nhận biết do chân có màng gần giống như màng
chân vịt, bụng thon, phần lớn trên lưng lông mọc có hình xoắn, hay lật theo kiểu
“rẻ ngôi”, có các đường kẻ nhạt chạy dọc theo thân.
Chó đực phối giống ở 15-18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở 12-15 tháng
tuổi, mỗi lứa đẻ 4-6 con.
2.2.2 Giống chó ngoại
Chó Nhật
Theo Việt Chương và Phan Thi (2005). Pediree – Cẩm nang nuôi dạy chó,
(số 3), chó Nhật có thân hình nhỏ nhắn, mảnh mai xinh xắn, bộ lông dài và mượt
không xoăn và trông có vẻ sạch sẻ nên được nhiều người thích nuôi. Chó Nhật có
chân nhỏ, tai hình tam giác hơi nghiêng ra phía trước và rủ xuống, mũi gãy nhưng
mõm dài tương đối nên mặt trông xinh xắn dễ nhìn.
Chó Nhật có chiều cao thân khoảng 8-11 cm, cân nặng của nó khoảng 4-7
kg tuỳ theo chiều cao của nó. Giống chó này rất nhanh nhẹn và dễ dạy, sinh sản
khá tốt và nuôi con giỏi.
Chó Fox
Theo Việt Chương (2005) giống chó này có chiều cao khoảng 25-30 cm,
cân nặng 4-5 kg. Có đặc điểm đầu nhỏ, tai vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ và
nâu hoặc đen tạo nên cho chó một vẻ đẹp rất riêng, ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Giống chó này rất hiền, dễ dạy và mến chủ, tuy nhiên chúng có nhược điểm là
nuôi con kém.
Chó Berger
Giống chó này có tầm vóc to con, cao lớn, chiều dài khoảng 110-112 cm,
cao khoảng 56-65 cm, trọng lượng trưởng thành khoảng 50-70 kg. Chó rất thông
minh, đánh hơi giỏi, dũng cảm và trung thành.
Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm, mõm dài thẳng, lông có
màu nâu vàng, đầu, ngực và 4 chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân
thuỳ, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen răng to, khớp răng cắn khít. Ngực nở
hình ôvan, u vai lồi đến vạch lưng, lưng chắc và rộng, có độ dốc về phía trước,
bụng thon hẳn, đuôi dài hình lưỡi kiếm, chân trước thẳng đứng, chân sau hơi
choãi về phía sau.
Trong điều kiện ở nước ta chó đực có thể phối giống khi 24 tháng tuổi, chó
cái có thể sinh sản khi được 18-20 tháng tuổi. Chó cái sinh sản mỗi năm 2 lứa,
mỗi lứa 4-8 con.
5
Chó Pug
Đây là giống chó nhỏ, ngộ nghĩnh, rất thông minh, hiền lành lại yêu mến
trẻ con. Người ta nuôi chó này để làm cảnh vì chúng và thân thiện, dễ thích nghi
với nơi ở mới, dễ dạy và là con vật cưng lý tưởng cho mọi người ở mọi lứa tuổi.
Giống chó này có bộ lông ngắn và không cần chải nhiều, màu hung, đen
hoặc đen láng toàn thân hoặc nâu nhạt, vàng sẫm, mũi, mõm có màu đen.
Loài chó Pug khoẻ mạnh, đầu to thô, mõm ngắn và thô, mũi chia thuỳ, tai
cụp, ngực sâu, thân chắc chắn, đuôi ngắn và cuộn. Chó cao khoảng 30-33 cm, dài
50-55 cm, nặng khoảng 5-8 kg.
2.3 Cấu tạo hệ tiêu hoá của chó
Các tuyến nước bọt
Là những tuyến ngoại tiết, nước bọt được tiết ra đổ thẳng vào xoang
miệng, có tác dụng tẩm ướt làm mềm thức ăn. Ngoài ra nước bọt còn chứa men
tiêu hoá biến tinh bột thành đường. Nước bọt còn có chức năng bảo vệ, chống lại
sự hoạt động của các vi sinh vật có nhiều trong xoang miệng.
Ở chó có ba đôi tuyến nước bọt, tuỳ theo vị trí sắp xếp người ta chia ra:
+ Đôi tuyến dưới tai: là đôi tuyến lớn nhất nằm bên mang tai, mỗi tuyến có
một ống dẫn (stenon) để đổ vào khoang miệng.
+ Đôi tuyến dưới hàm: là đôi tuyến nằm ở hõm dưới hàm, mỗi tuyến đều
có ống dẫn để đổ ra nền miệng phía dưới lưỡi.
+ Đôi tuyến dưới lưỡi: là đôi tuyến bé nhất nằm ở trên cơ hoành, mỗi
tuyến có nhiều ống dẫn đổ ra nền miệng.
2.3.2 Yết hầu
Nằm kế tiếp xoang miệng. Đó là một ống ngắn, thông với hốc mũi, miệng,
thanh quản, thực quản.
Nhiệm vụ của yết hầu là dẫn thức ăn vào thực quản và đưa không khí vào
khí quản.
2.3.3 Thực quản
Thực quản là ống cơ dài, tiếp theo hầu có nhiệm vụ là dồn thức ăn từ
miệng vào dạ dày.
Cấu tạo của thực quản gồm có 3 lớp: lớp niêm mạc, ở giữa là lớp cơ, ngoài
cùng là lớp liên kết đàn hồi. Lớp dưới niêm mạc có chứa các tuyến nhỏ và mạch
máu.
2.3.4 Dạ dày
Dạ dày là phần phình lớn nhất của ống tiêu hoá và là nơi chứa thức ăn,
nằm trong khoang bụng. Ở chó có trung bình dung tích khoảng 2,5 lít. Niêm mạc
mặt trong dạ dày chó chia làm 3 vùng.
+ Vùng tuyến thượng vị: nằm xung quanh thượng vị.
+ Vùng tuyến đái: vùng thân vị.
+ Vùng tuyến hạ vị: nằm ở gần hạ vị.
cơ rút hậu môn (kìm hãm hậu môn khỏi lộn ra ngoài lúc đại tiện).
2.4 Sinh lý tiêu hoá của chó
2.4.1 Tiêu hoá ở miệng
Chó dùng mồm và lưỡi để lấy thức ăn, nếu là thức ăn thịt khối thì chó
dùng răng nanh để xé. Các loại thức ăn vào xoang miệng được nhai sơ bộ, có
nước bọt làm ướt, chuyển xuống dạ dày theo thực quản. Nước bọt có các muối vô
cơ, chất hữu cơ, các men tiêu hoá (enzyme) như amylase thuỷ phân tinh bột
(Phạm Ngọc Thạch, 2006).
8
2.4.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Ở dạ dày thức ăn được tiêu hoá bằng hai quá trình: cơ học và hoá học.
Tiêu hoá hoá học chủ yếu bằng tác động của dịch vị. Dịch vị có các chất vô cơ
HCl (axit chlohydric), các chất hữu cơ, chất nhày mucine, nguyên men
Pepsinogen, men Chymosin (hay Prezura, Rennin), men Lipase.
Pepsinogen nhờ có HCl xúc tác biến thành Pepsin hoạt động, phân huỷ các
chất protid của thức ăn thành polipeptid. Prezura thường thấy ở dạ dày con vật
còn đang bú sữa, có tác dụng tiêu hoá đạm của sữa.
Lipase phân huỷ những hạt mỡ đã nhũ tương hoá thành Glycerol và axit
béo. HCl có tác dụng biến pepsinogen thành pepsin hoạt động, ngăn thức ăn khỏi
lên men thối trong dạ dày, điều khiển sự đóng mở van hạ vị, gián tiếp kích thích
tuỵ tạng tiết dịch tuỵ
Kết quả thức ăn vào dạ dày chó biến thành chất nhuyễn gọi là dưỡng chất.
Dưỡng chất gồm có những chất bột đã chín, tiêu hoá một phần tiếp tục được tiêu
hoá ở dạ dày thành đường Maltose. Chất Protid vào dạ dày được thuỷ phân thành
Polypeptid và một số acid amin. Cũng ở dạ dày một số rất ít Lipid được tiêu hoá
(Phạm Ngọc Thạch, 2006).
2.4.3 Tiêu hoá ở ruột non
lên men thối và sinh ra chất độc, ở đây còn có quá trình tái hấp thu nước và muối
khoáng nên phân thường rắn và tạo khuôn thải ra ngoài.
Phân gồm những chất cặn bã của quá trình tiêu hoá thức ăn, các biểu mô
của niêm mạc bong ra, các muối và vi sinh vật,…(Phạm Ngọc Thạch, 2006).
2.5 Một số đặc điểm sinh lý của chó và ý nghĩa chẩn đoán
2.5.1 Thân nhiệt
Gia súc có thân nhiệt ổn định, mỗi loài gia súc khác nhau có thân nhiệt
khác nhau (Nguyễn Dương Bảo, 2005).
Thân nhiệt được đo ở trực tràng, thân nhiệt bình thường của chó là 380
39 C. Thân nhiệt của chó trưởng thành bình thường là 38-38,50C, chó con là
38,5-390C, mùa hè có thể tăng lên 0,2 0C, mùa đông giảm 0,2 0C (Hồ Văn Nam,
1982).
Chó con mới sinh, trong 2 tuần đầu không điều hoà được thân nhiệt, dao
động từ 35,6-36,10C. Sau đó sẽ tăng lên 37,80C trong vòng một tuần (Bunch và
Nelson, 1982).
Theo Trần Cừ (1975). Chó là loài động vật đẳng nhiệt, tuy vậy trong
những giới hạn hẹp thì nhiệt độ cơ thể vẫn có những biến đổi trong giới hạn do
nhiều nguyên nhân:
+ Biến đổi theo chu kỳ ngày và đêm: thân nhiệt có thể lên xuống 10C,
cao nhất vào lúc xế chiều, thấp nhất vào lúc nữa đêm.
+ Biến đổi do hoạt động: Vận động nhiều nhiệt độ cơ thể tăng.
+ Biến đổi do tiêu hoá: Chó nhịn ăn 4 ngày 38,40C, chó đang tiêu hoá
41,30C.
10
Ý nghĩa chẩn đoán
Xác định phản ứng sốt hay không sốt.
Sốt là hiện tượng bệnh lý rất phổ biến, vì là một phản ứng của cơ thể đối
11
2.5.4 Màu sắc niêm mạc
Niêm mạc là nơi những mạch máu nhỏ bộc lộ khá rõ.
Màu sắc niêm mạc sinh lý: rất dễ thay đổi lúc bị kích thích. Bình thường
cơ thể khoẻ mạnh, niêm mạc có màu hồng nhạt và không thấy được các mao
quản lớn. Lúc cơ thể mắc bệnh thì niêm mạc có sự thay đổi về màu sắc, hình thái
và cấu tạo (Lê Quang Long, 1997).
Ý nghĩa chẩn đoán
Khám niêm mạc ngoài việc biết niêm mạc có bệnh gì, còn có thể định
được tình trạng chung của cơ thể, tuần hoàn và thành phần máu, trao đổi khí CO2
ở phổi qua sự thay đổi của niêm mạc.
Khi chó sốt cao, tim đập nhanh và mạnh thì niêm mạc bị sung huyết và có
màu đỏ. Khi con bệnh có chứng hoàng đản thì niêm mạc có màu vàng. Khi thiếu
máu, niêm mạc màu trắng nhạt (Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm
Ngọc Thạch, 1997).
2.5.5 Trạng thái của mũi
Cơ thể chó bình thường mũi có những hạt nước nhỏ trên chóp mũi, sờ tay
vào thấy ẩm và mát, khi mũi khô chó bị mất nước và có thể sốt.
2.5.6 Tuổi thành thục
Tuỳ thuộc vào điều kiện nuôi và tùy từng giống chó, chó ngoại nhập được
nuôi đầy đủ dinh dưỡng thì thành thục sớm hơn. Đối với chó đực khoảng 14-16
tháng tuổi, chó cái từ 8-10 tháng tuổi (Phạm Ngọc Thạch, 1997).
2.5.7 Thời gian mang thai
Thời gian mang thai của chó khoảng 56-65 ngày (trung bình 63 ngày). Ở
chó thường có hiện tượng mang thai giả (Nguyễn Thị Tuyết Nhung, 2000).
Số con trung bình mỗi lứa đẻ: giống chó lớn con thường từ 3-4 con, giống
chó nhỏ con khoảng 2-4 con, giống chó ta 6-8 con. Chó sau khi sinh khoảng 1215 ngày thì mở mắt.
kháng thể. Mức độ sốt mà cơ thể chịu đựng được cũng có thể làm ngăn cản sức
tăng trưởng của một số vi khuẩn và giảm độc lực của các độc tố cho chúng tiết ra
(Đỗ Trung Giã, 2005).
Chẩn đoán sốt không khó nhưng tìm nguyên nhân mới là quan trọng vì nó
quyết định phương hướng điều trị. Sốt kéo dài thường đặt ra nhiều vấn đề phức
tạp đôi khi khó giải quyết vì nguyên nhân rất nhiều, muốn chẩn đoán ngoài việc
thăm khám kỹ phải xét nghiệm cận lâm sàng (Hồ Văn Nam, 1982).
2.6.2 Nôn
Nôn là một phản ứng của cơ thể, là một động tác phản xạ phức tạp. Nhờ
nôn mà động vật đem chất có hại trong ống tiêu hoá thải ra ngoài (Trần Cừ,
1975).
Khi đường tiêu hoá căng quá mức, đặc biệt là ở dạ dày và tá tràng thì phản
xạ nôn xảy ra để tống thức ăn ở phần trên đường tiêu hoá ra ngoài. Xung động
được truyền vào theo dây thần kinh số X và dây giao cảm về trung tâm nôn ở
hành não. Trung tâm này nằm gần nhân lưng vận động của dây thần kinh số V,
VII, IX, X và XII đến phần trên ống tiêu hoá, theo dây thần kinh tuỷ sống đến cơ
hoành và các cơ bụng để gây ra những tác dụng như hít vào thật sâu. Nâng xương
13
móng và thanh quản để kéo cho thực quản trên mở ra. Đóng thanh môn và đóng
lỗ mũi sau, co cơ hoành và các cơ thành bụng khiến áp suất trong dạ dày tăng. Cơ
co thắt thực quản dưới giãn ra, thức ăn trong dạ dày bị đẩy qua thực quản ra
ngoài.
Như vậy, động tác nôn là do sức ép các cơ thành bụng lên dạ dày phối hợp
với sự mở ra đột ngột của các cơ co thắt thực quản làm cho thức ăn trong dạ dày
bị tống ra ngoài (Lê Quang Long, 1997).
Trong khi nôn ngoài sự hưng phấn của trung tâm nôn còn có sự hưng phấn
của các trung tâm khác: hô hấp, tim mạch, tiết nước bọt. Động vật ăn cỏ và động
vật ngặm nhấm rất ít khi nôn hoặc không nôn, còn động vật ăn thịt và động vật ăn
Bảo, 2005).
- Tiêu chảy có máu: thường do các nguyên nhân sau
Do virus: Parvovirus, Carré,…
Do vi khuẩn: Camplylobacter, Leptospira, Clostridium,…
Do ký sinh trùng: giun móc, giun đũa,…
+ Triệu chứng: mất máu, tuỳ theo thời gian và số lượng máu bị mất do
xuất huyết tiêu hoá mà có những biểu hiện của sự mất máu: da, niêm mạc trắng
nhợt nhạt. Da lạnh, vã mồ hôi. Mạch nhanh, huyết áp hạ, số lượng hồng cầu và
hàm lượng Hemoglobin giảm thấp.
+ Tính chất của máu:
Máu đỏ tươi: có thể dính vào phân, ra ngoài thành tia hoặc thành giọt sau
khi tiêu hoặc tiêu toàn máu, không có phân. Máu đỏ tươi thường do xuất huyết từ
hồi tràng, đại tràng, trực tràng, cũng có khi do xuất huyết dạ dày, tá tràng nhưng
vì máu ra nhiều và ồ ạt nên qua ống tiêu hoá chưa kịp phân huỷ.
Máu đen: do xuất huyết ở phần trước của ống tiêu hoá (thực quản, dạ dày,
tá tràng) có thời gian lưu lại trong ống tiêu hoá và vi khuẩn phân huỷ trở nên đen.
Phân đen có thể khô, sệt hoặc lỏng, có màu cà phê hoặc màu đen như nhựa
đường.
Cơ chế tiêu chảy
Tiêu chảy nhiễm trùng do 2 cơ chế chủ yếu là vi khuẩn tấn công vào lớp
màng nhầy của ruột làm phá huỷ niêm mạc ruột và gây ra tăng tiết chế dịch nhầy
ở ruột, vi khuẩn tấn công vào thành ruột dẫn tới sung huyết, phù niêm mạc, thâm
nhiễm bạch cầu eosin và gây loét ở lớp biểu mô trong lòng ruột. Các cơn đau
bụng là triệu chứng nổi bật kèm theo cảm giác mót rặn do cơ vòng hậu môn co
bóp liên tục để tống dịch ở trực tràng ra bên ngoài (Stephen và ctv., 1989).
Tiêu chảy xảy ra khi có các rối loạn sau:
- Tăng nhu động ruột làm cho phân đi quá nhanh từ ruột non tới ruột già
và ra ngoài nên phân không đủ thời gian để hấp thu nước và cô đặc lại.
- Các tuyến tiêu hoá tăng tiết đưa vào lồng ống một khối lượng quá nhiều
dịch mà ruột không tái hấp thu hết được, ngược lại nếu giảm tiết sẽ làm giảm việc
khuẩn tiếp tục lên men những chất dinh dưỡng gây chủ động thẩm thấu tích luỹ
những tiểu phần và sau đó là tiêu chảy (Philíp, 2004).
Trong bệnh viêm ruột, hệ vi sinh ở đường ruột bị rối loạn do giảm lượng
vi khuẩn kỵ khí và Lactobacilli, cùng lúc đó họ vi khuẩn đường ruột
Enterobacteriacece tăng sinh. Việc cho uống thuốc kháng sinh có thể phá vỡ sự
cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột dẫn đến tăng khả năng kháng thuốc của vi
khuẩn và nấm. Hoạt động tiêu hoá bị rối loạn trong ruột non có thể ảnh hưởng
đến sự phát triển của vi khuẩn có lợi.
Những thay đổi diễn ra trong bộ máy tiêu hoá gồm giảm hoạt động tiêu
hoá, giảm tiết dịch acid dạ dày, dịch tuỵ và dịch nhầy ở kết tràng, giảm lượng IgA
kết hợp với sự tăng sinh vi khuẩn, dẫn đến gây suy yếu miễn dịch thể dịch. Đoạn
ruột non mất sức trương hoặc giảm khả năng hoạt động, khi đó hệ vi sinh cư trú
16
bình thường ở ruột già sẽ tăng nhanh về số lượng gây tiết dịch nhiều kết hợp với
muối mật dẫn đến hậu quả là kém tiêu hoá và hấp thu mỡ (Quinn và ctv., 1997).
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có cơ chế sinh bệnh
cụ thể. Tuy nhiên, khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra cơ thể chịu một quá trình sinh
bệnh có những nét đặc trưng chung (Lê Minh Trí, 2002).
Sự mất nước
Hậu quả trực tiếp và nặng nề nhất của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước
và mất chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biển đổi bệnh lý khác.
Theo các nhà bệnh lý học, có thể phân loại sự mất nước thành 3 thể:
- Mất nước ưu trương: là sự mất nước đơn giản không mất Na+, sự mất
nước chỉ ở độ trung bình.
- Mất nước đẳng trương: như mất dịch đẳng trương và Na +, sự mất nước
chỉ ở độ trung bình và giảm Na+ trong máu.
- Mất nước nhược trương: mất dịch và Na+ nặng, dẫn đến mất máu nặng
và giảm Na + trong máu trầm trọng.
các acid hữu cơ, giảm tiết ion H+ qua thận và giảm sự tái tạo bicarbonate.
2.7 Một số nguyên nhân chủ yếu gây bệnh đường tiêu hoá
2.7.1 Nguyên nhân do virus
Bệnh Carré (Canine Distemper Virus, bệnh cứng bàn chân, bệnh chó
non, bệnh trái chó, bệnh sốt sài chó con).
Bệnh Carré là bệnh truyền nhiễm phổ biến và lây lan rất dữ dội, gây tác
hại trên nhiều hệ nhưng nặng nhất và rõ nhất là trên hệ tiêu hoá, đây là một trong
những bệnh nguy hiểm phổ biến nhất của chó, chủ yếu ở chó non với các hội
chứng sốt, viêm phổi, viêm ruột, niêm mạc và nổi các nốt sài ở chỗ da ít lông, ở
bẹn,...
.
Cuối thời kỳ bệnh chó thường có triệu chứng thần kinh. Sự kế phát của các
vi khuẩn ký sinh sẵn ở đường tiêu hoá, hô hấp thường làm bệnh trầm trọng thêm,
lúc đó bệnh thể hiện chủ yếu dưới 2 dạng: viêm phổi và viêm ruột (Nguyễn Văn
Biện, Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Thiện, 2002).
Nguyên nhân
Bệnh do virus có nhân RNA thuộc họ Paramyxoviride, giống Mobillivirus
gây ra, virus có kích thước 100-300 micron, xâm nhập vào mô bạch huyết qua
đường tiêu hoá, hô hấp, bài tiết, virus tiếp tục nhân lên ở mô bạch huyết
(McCandlish, 1991).
Tất cả các giống chó và ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Carré. Bệnh
thường xảy ra ở chó 2-12 tháng tuổi, đặc biệt chó con 3-4 tháng tuổi dễ nhiễm
bệnh hơn và tỷ lệ chết có thể lên đến 100% vì ở lứa tuổi này kháng thể chống lại
mầm bệnh nhận được từ chó mẹ bị mất đi, những con chó bị mắc bệnh còn sống
sót sẽ được miễn dịch đến khi trưởng thành (Thompson, 1998).
Tuy nhiên, chó đang bú mẹ ít gặp bệnh Carré vì chó con thu được miễn
dịch thụ động qua sữa mẹ, chó mẹ có miễn dịch do tiêm phòng hoặc tiếp xúc với
mầm bệnh trong tự nhiên.
18
gây ra những triệu chứng trên đường hô hấp như viêm đường hô hấp từ mũi đến
phế nang với biểu hiện hắt hơi, ho, chảy mũi, thở khò khè, âm ran ướt.
Nôn là triệu chứng thường gặp của bệnh Carré, có thể là một dấu hiệu
sớm. Tuy nhiên, tiêu chảy là thường gặp nhiều hơn (Thompson, 1998).
19
Trên hệ tiêu hoá gây xáo trộn tiêu hoá với các triệu chứng đi phân lỏng,
tanh, có thể lẫn máu (phân có máu màu cà phê) hoặc niêm mạc ruột bị bong tróc
(phân màu nâu nhầy), chó có thể đi phân lỏng nhiều lần trong ngày. Giai đoạn
cuối phân loãng lẫn máu tươi, kèm niêm mạc ruột bong ra tanh khẳm, hậu môn
bẩn.
Hình 2.1: Chó tiêu chảy có máu màu đỏ sẫm
Chó gầy sút nhanh chóng do không ăn và tiêu chảy, mắt trũng, bụng hóp,
đi không vững, nằm bệt, hạ nhiệt độ, loạn nhịp tim và chết trong vòng 3-7 ngày.
Đối với hệ thần kinh, virus tác động lên não gây viêm não làm chó có biểu
hiện triệu chứng thần kinh như đi xiêu vẹo, mất định hướng, co giật, chảy nước
bọt, bại liệt, hôn mê rồi chết. Ngoài ra, virus tác động lên da làm cho da vùng
bụng xuất hiện mụn mủ (nốt sài).
Khi chó mắc bệnh ở thể bán cấp tính: ban đầu bệnh biểu hiện trên hệ hô
hấp và tiêu hoá, thường ở thể thầm lặng (không rõ) kéo dài 2-3 ngày, thời gian
này chó có hiện tượng sừng hoá gan bàn chân (kelatin hoá). Sau cùng xuất hiện
triệu chứng thần kinh với các biểu hiện co giật nhóm cơ vùng chân, mặt, ngực và
đau cơ, có hiện tượng nhai giả, vùng chân sau bị liệt, chó mất thăng bằng, co giật,
hôn mê trong thời gian ngắn rồi chết (Trần Thanh Phong, 1996).
20
Ngoài ra có thể quan sát tế bào từ cặn nước tiểu, nhưng thường có thể vấp phải
trường hợp cho kết quả âm tính (Thompson, 1998).
Tìm kháng thể IgM trong máu, nhưng có vấn đề ở những con chó con có
thể nhận kháng thể từ mẹ.
Tìm virus bằng phương pháp ủ bệnh trên chồn furet, trên thú chết lấy lách
làm xét nghiệm.
- Phương pháp ELISA
Chẩn đoán dịch tể học: loài nhiễm bệnh là các loài họ chó, chó nhạy cảm
tuỳ vào độ tuổi. Virus rất dễ chết, sống được 20 phút trong môi trường chất nhầy
lỗ mũi ở 20 0C. Bệnh truyền nhiễm trực tiếp, virus thâm nhập qua đường mũi hay
mô liên kết.
Điều trị
Hiện chưa có thuốc đặc trị điều trị bệnh. Phương pháp điều trị chủ yếu phụ
thuộc vào chăm sóc, sức đề kháng của con vật.
Việc sử dụng kháng sinh chỉ có tác dụng chống phụ nhiễm, kết hợp với
biện pháp truyền dịch bằng dung dịch sinh lý mặn và dung dịch Lactate Ringer’s
nhằm duy trì cân bằng điện giải cơ thể. Ngoài ra cần bổ sung dinh dưỡng cho con
vật trong lúc bệnh (Lobertti, 2003).
Các nhà khoa học đã thành công trong việc tạo ra kháng huyết thanh
chống bệnh Carré nhưng chỉ đạt hiệu quả khi mới chớm bệnh (sau 2-3 ngày
nhiễm bệnh) nhưng đắt tiền và hiệu lực chưa cao (Vương Đức Chất và Lê Thị
Tài, 2004).
Phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vaccine
Chó từ 50-60 ngày tuổi trở lên phải tiêm vaccine phòng bệnh.
Hiện nay, một loại vaccine đa gía phòng: bệnh Carré, bệnh viêm gan virus,
bệnh do Parvovirus và bệnh Leptospira được nhập vào nước ta để tiêm phòng cho
chó.
Hai loại vaccine mới nhập là:
+ Biocan DHHi phòng 5 bệnh truyền nhiễm ở chó: bệnh Carré, bệnh viêm