XÁC ĐỊNH các NGUYÊN NHÂN gây TIÊU CHẢY máu THƯỜNG gặp TRÊN CHÓ BỆNH tại TRẠM THÚ y LIÊN QUẬN NINH KIỀU – BÌNH THỦY THÀNH PHỐ cần THƠ - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRẦN HOÀNG MINH

XÁC ĐỊNH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TIÊU CHẢY
MÁU THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ BỆNH TẠI TRẠM
THÚ Y LIÊN QUẬN NINH KIỀU – BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

Cần Thơ, 2010

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

Tên đề tài:

XÁC ĐỊNH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TIÊU CHẢY
MÁU THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ BỆNH TẠI TRẠM
THÚ Y LIÊN QUẬN NINH KIỀU – BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ



Lý Thị Liên Khai

Cần Thơ, ngày tháng
năm 2010
Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

ii


LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành biết ơn
Cha mẹ và gia đình đã không ngại khó khăn để cho tôi được lớn lên, được
cấp sách đến trường.
Cô Lý Thị Liên Khai đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ tôi xuyên
suốt thời gian thực hiện đề tài.
Thầy Đỗ Trung Giã đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt khóa học.
Quý Thầy Cô trong Bộ Môn Thú Y đã tận tình giảng dạy, trao cho tôi kho
kiến thức quý báu của cả đời mình.
Xin chân thành cảm ơn
Các thầy, cô chú, anh chị tại Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy,
Thành phố Cần Thơ đã hết lòng hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình thực hiện đề tài.
Cán bộ Thư Viện Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng đã nhiệt tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian tìm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu.
Các bạn lớp Thú Y khoá 32 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian
của khoá học và thực hiện đề tài.

Trần Hoàng Minh

3.1.1 Thời gian và địa điểm .......................................................................... 21

iv


3.1.2 Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 21
3.1.3 Vật liệu thí nghiệm .............................................................................. 21
3.2 Phương pháp thí nghiệm .................................................................................... 22
3.2.1 Chẩn đoán lâm sàng............................................................................. 22
3.2.2 Phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng.................................................. 24
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi .................................................................................. 28
3.2.4 Xử lý thống kê..................................................................................... 28
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN ............................................................................ 29
4.1 Tỷ lệ chó mắc bệnh tiêu chảy máu tại Trạm Thú y liên quận Ninh
Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ................................................... 29
4.2 Tỷ lệ các nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy máu phổ biến trên chó tại
Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy ........................................ 30
4.3 Tỷ lệ chó bệnh tiêu chảy máu do nhiễm ghép giữa các nguyên nhân
Parvovirus, Carré, Campylobacter và giun móc...................................... 31
4.4 Tỷ lệ nhiễm Parvovirus, Carré, Campylobacter và giun móc trên chó
bệnh tiêu chảy máu theo tháng tuổi tại Trạm Thú y liên quận Ninh
Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ................................................... 32
4.5 Tỷ lệ nhiễm Parvovirus, Carré, Campylobacter và giun móc trên chó
bệnh tiêu chảy máu theo giống tại Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều –
Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ .............................................................. 33
4.6 Kết quả khảo sát tần số xuất hiện các triệu chứng lâm sàng trên chó bị
bệnh tiêu chảy máu tại Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy,
Thành phố Cần Thơ................................................................................. 34
4.7 Khảo sát kết quả điều trị trên chó bệnh tiêu chảy máu tại Trạm Thú y
liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ........................... 35

Bảng 11. Lịch tiêm phòng cho chó ................................................................................ 61
Bảng 12. Lịch tẩy giun cho chó ..................................................................................... 62
Bảng 13. Mẫu bệnh án theo dõi chó bệnh tại Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều –
Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ .................................................................................... 63

vi


DANH SÁCH HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Danh sách hình
Hình 1. Trứng giun móc quan sát dưới kính hiển vi quang học ...................................... 24
Hình 2. Vi khuẩn Campylobacter dưới kính hiển vi quang học...................................... 26

Danh sách sơ đồ
Sơ đồ 1. Quy trình phân lập vi khuẩn Campylobacter spp ............................................. 25
Sơ đồ 2. Quy trình phân lập vi khuẩn Shigella spp........................................................ 27

vii


TÓM LƯỢC

Qua khảo sát ghi nhận được 826 chó bệnh mang đến điều trị tại Trạm Thú y
liên quận Ninh Kiều-Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ; có 388 con bệnh đường tiêu
hóa chiếm tỷ lệ 46,97%; trong đó số con bệnh tiêu chảy máu là 70 con chiếm tỷ lệ
18,04%. Có 60/70 con tiêu chảy máu xác định được nguyên nhân, Parvovirus là
20 con chiếm tỷ lệ 28,57%, virus gây bệnh Carré là 19 con chiếm tỷ lệ 27,14%,
giun móc là 19 con chiếm tỷ lệ 27,14% và vi khuẩn Campylobacter là 2 con chiếm
tỷ lệ 2,86%. Kết quả khảo sát cho thấy có sự nhiễm ghép giữa giun móc với

nặng nề, thiệt hại cho người nuôi. Tiêu chảy máu do rất nhiều nguyên nhân như
bệnh Carré chiếm 68,48% (Nguyễn Thị Thúy An, 2009), Parvovirus chiếm 46,58%
(Lê Minh Thành, 2009), do các vi khuẩn Campylobacter, Leptospira, Clostridium
chiếm 26,51% (Phạm Mỹ Hạnh, 2009), do ký sinh trùng: giun móc chiếm 39,4%
(Trương Minh Nhã, 2004), do các tác nhân cơ học, do thời tiết, do dinh dưỡng.
Nhưng để phân biệt các nguyên nhân gây tiêu chảy máu do bệnh nào gây ra để có
hướng điều trị thích hợp và kịp thời là một vấn đề nan giải. Cho đến nay, chưa có
nghiên cứu xác định tổng hợp nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy máu mà chỉ dừng
lại ở việc xác định một trong số những nguyên nhân gây tiêu chảy máu trên chó tại
Thành phố Cần Thơ.
Do đó, để có biện pháp phòng trị tốt hơn, cũng như để bảo vệ sức khỏe chó
và người nuôi, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định các nguyên nhân gây tiêu
chảy máu thường gặp trên chó bệnh tại Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều –
Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ”

1


Mục tiêu của đề tài
Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy máu trên chó tại Trạm Thú y liên quận
Ninh Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.
Xác định các nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy máu thường gặp trên chó tại
Trạm Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.
Khảo sát kết quả điều trị chó bệnh tiêu chảy máu đến điều trị tại Trạm Thú y
liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.

2


CHƯƠNG 2


3


cánh chim hải âu. Tuy nhiên, phải thận trọng vì phát hiện vi khuẩn Campylobacter
spp. ở chó khỏe nhưng thường không biểu hiện triệu chứng bệnh.
Stanley cũng cho rằng vi khuẩn Campylobacter spp. được phân lập ở 13 mẫu
phân trong tổng số 279 mẫu phân chó bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ 4,7% nhưng khi phết
lên kính để chứng minh có vi khuẩn Campylobacter spp. chỉ có 4/227 chó, chiếm tỷ
lệ 1,4%.
Wedy (2006) cho rằng vi khuẩn gây tiêu chảy ở chó thường gây bệnh cho
động vật trưởng thành nhưng có thể gây bệnh cho chó con, mèo hoặc trẻ em. Hầu
hết những vấn đề đó đều bắt nguồn từ thức ăn nhiễm bẩn hoặc phân nhiễm mầm
bệnh và môi trường.
Năm 2007, Tatiana, et al. bằng phản ứng HA/HI để xác định chó nhiễm
Canine Parvovirus và phương pháp phù nổi sa lắng để xác định ký sinh trùng
đường ruột, chỉ ra rằng chó con bị viêm đường ruột dẫn đến tiêu chảy có hoặc
không có máu chủ yếu là do Parvovirus và ký sinh trùng đường ruột.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hồ Văn Nam (1997) đã chỉ ra rằng một trong những bệnh phổ biến gây nhiều
thiệt hại cho đàn chó nuôi là bệnh đường tiêu hóa do nhiều nguyên nhân gây ra,
trong đó nguyên nhân do vi khuẩn khá phổ biến ở chó, diễn tiến nhanh, có thể làm
chết 70-100% chó bệnh.
Theo Trương Minh Nhã (2004) thì trong tổng số 272 ca chó có biểu hiện
bệnh ở đường tiêu hóa thì có tới 104 ca có biểu hiện tiêu chảy, phân có máu. Căn
cứ vào triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu và kết quả mổ khám thì trong đó bệnh
Carré là 48/104 ca chiếm 46,2%, bệnh do Parvovirus là 15/104 ca chiếm 14,4%,
bệnh do giun móc 41/104 ca, chiếm 39,4% trên tổng số ca bệnh tiêu chảy máu.
Báo cáo của Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Tuyết Thu (2008) cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy ở chó nghiệp vụ tại Hà Nội chiếm tỷ lệ khá cao

- Qua phản ứng sốt xác định được nguyên nhân gây bệnh như do viêm
(nhiễm trùng)
- Tính chất và mức độ bệnh: bệnh nặng, cấp tính (sốt cao); bệnh nhẹ, mãn
tính (sốt vừa hoặc nhẹ).
Xác định tiên lượng
- Xác định tiên lượng tốt: là sốt nhẹ hoặc sốt cao nhưng giảm dần đến phạm vi sinh
lý bình thường.
- Xác định tiên lượng xấu: bệnh nặng, sốt cao điều trị không giảm, sốt cao liên
miên, sốt cao rồi hạ đột ngột xuống dưới mức bình thường.
Tần số hô hấp (nhịp thở)
Tần số hô hấp là số lần thở ra hít vào trong một phút.
Tần số hô hấp sinh lý

5


Chó con: 15 – 35 lần/ phút, chó trưởng thành: 10 – 30 lần/ phút. Mùa đông
giảm 5 nhịp/ phút, mùa hè tăng 5 nhịp/ phút, khi hoạt động tăng 10 – 15 nhịp/ phút.
Ý nghĩa chẩn đoán
Tần số hô hấp tăng (thở nhanh) trong các trường hợp chó bị sốt, bị bệnh
truyền nhiễm cấp tính, bị thiếu máu nặng, cơ năng tuần hoàn bị trở ngại, các bệnh
làm hẹp thể tích của phổi, chó bị đau đớn.
Tần số hô hấp giảm xảy ra trong những bệnh làm hẹp thanh quản, khí quản,
phế quản, trúng độc, bệnh gan nặng, chức năng thận bị rối loạn, liệt sau khi sinh, gia
súc bị suy kiệt (gần chết).
Nhịp tim
Nhịp tim
Là chu kỳ hoạt động của tim, là toàn bộ hoạt động của tim kể từ lúc tim co
lần trước đến lúc bắt đầu co lần sau. Ở đa số động vật, nhìn chung số lần co bóp
của tim tỷ lệ nghịch với khối lượng cơ thể.

Ngọc Thạch, 1997).
Tuổi thành thục Chó đực: 14 – 16 tháng tuổi, Chó cái: 8 – 10 tháng tuổi
Thời gian mang thai
Từ 56 – 65 ngày (trung bình 63 ngày). Ở chó thường có hiện tượng mang
thai giả (Nguyễn Thị Tuyết Nhung, 2000).
Chu kỳ lên giống
Mỗi 2 lần/ năm. Từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau và từ tháng 7 đến tháng 8
(Nguyễn Thị Tuyết Nhung, 2000).
Ở chó cũng có hiện tượng hành kinh giả. Số con trung bình/ lứa: 2 – 12 con
(tùy theo giống lớn hay nhỏ con).
Tuổi cai sữa: 8 – 9 tuần tuổi, để đảm bảo sức khỏe cho chó mẹ nên cai sữa
chó con ở 30 – 35 ngày tuổi (Nguyễn Đức Hiền, 2000).
2.3 Một số biểu hiện ở chó bị bệnh đường tiêu hóa
2.3.1 Sốt
Sốt là hiện tượng rất phổ biến khi chó bị bệnh đường tiêu hóa. Các dấu hiệu
đi kèm với sốt là nhịp tim – mạch gia tăng, nhịp tim và nhịp thở tăng do mức biến
dưỡng trong cơ thể chó tăng. Con vật có thể bỏ ăn, buồn nôn, khát nước, táo bón,
nước tiểu ít và mất nước. Sốt gây rối loạn chuyển hóa do các chất gây sốt làm gia
tăng sự oxy hóa các chất đạm, chất bột đường và mỡ. Rối loạn biến dưỡng đạm làm
gia tăng urê thải ra. Sự oxy hóa mỡ không hoàn toàn làm cho nước tiểu có aceton
nên con vật phải gia tăng nhịp thở để thải bớt CO2, lượng acid HCl trong cơ thể gia
tăng do nước tiểu ít được thành lập và việc bay hơi quá mức bị giảm. Kém ăn có
thể gây ra biến chứng thiếu sinh tố (Đỗ Trung Giã, 2005).

7


Sốt giúp cơ thể tăng cường sức phòng thủ, sự tăng nhiệt độ sẽ làm gia tăng
sự hoạt động của bạch cầu, chúng thoát mạch dễ dàng vì vậy hiện tượng thực bào
xảy ra mạnh hơn. Sốt kích thích tủy xương sản xuất ra nhiều bạch cầu nhất là bạch

8


2.3.3 Tiêu chảy
Tiêu chảy là một thuật ngữ bao gồm các hiện tượng bài tiết phân quá nhanh,
phân lỏng và nhiều lần (Nguyễn Dương Bảo, 2005).
Các dạng tiêu chảy
Dựa vào mức độ nghiêm trọng, người ta chia tiêu chảy thành 2 dạng chính
- Tiêu chảy cấp tính: Tiêu chảy cấp tính thường do nhiễm trùng, kích thích
của hóa chất, độc tố của động thực vật.
Triệu chứng của tiêu chảy cấp tính gồm: phân lỏng hoặc toàn nước, tiêu
nhiều lần trong một ngày, thể trọng giảm nhanh, da, niêm mạc khô, hơi vàng hoặc
xanh tím. Nhịp tim và nhịp thở nhanh, yếu, huyết áp hạ. Da lạnh, rét run, thân
nhiệt hạ. Tiểu ít hoặc không tiểu (Nguyễn Dương Bảo, 2005).
- Tiêu chảy mãn tính: Tiêu chảy mãn tính thường do hai nguyên nhân gây
ra:
+ Tiêu chảy mãn tính do thực tổn: do các tổn thương thành dạ dày, ruột non,
đại tràng, do các tổn thương viêm, do ký sinh trùng đường ruột.
+ Tiêu chảy mãn tính do rối loạn chức năng, thường có 2 dạng sau:
• Tiêu chảy nguồn gốc dạ dày và ruột non: thường gây rối loạn tiêu hóa, hấp
thu và ảnh hưởng đến toàn bộ thể trạng. Có nhiều nguyên nhân và khó phân loại
như tổn thương niêm mạc làm giảm tiết enzyme, gây khó khăn cho việc hấp thu,
một số loại vi khuẩn ruột non gây rối loạn tiêu hóa, tiết dịch, hấp thu.
• Tiêu chảy nguồn gốc đại tràng: là do rối loạn chức năng đại tràng, lạm
dụng thuốc kháng sinh hoặc thuốc nhuận tràng.
Triệu chứng: Tiêu chảy mãn tính thường không biểu hiện rõ rệt như tiêu
chảy cấp tính, chỉ có một số các biểu hiện thường thấy: phân sệt hoặc hơi lỏng,
thường thì tiêu chảy xen kẽ với táo bón. Thể trạng gầy mòn dần (Nguyễn Dương
Bảo, 2005).
- Tiêu chảy có máu

- Các tuyến tiêu hóa tăng tiết đưa vào lòng ống một khối lượng quá nhiều
dịch mà ruột không tái hấp thu hết được, ngược lại nếu giảm tiết sẽ làm giảm việc
cung cấp enzyme tiêu hóa. Các thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn có thể do ăn
quá nhiều các thức ăn khó tiêu (mỡ, đạm), thiếu enzyme cả về số và chất hoặc do
khối thức ăn đi quá nhanh. Các rối loạn hấp thu xảy ra do phân vận chuyển quá
nhanh, thiếu enzyme, tổn thương các tế bào niêm mạc ruột, do nghẽn mạch bạch
huyết làm cản trở vận chuyển các chất mỡ (Nguyễn Dương Bảo, 2004).
Ở loài chó và mèo khó phát hiện các triệu chứng sớm (như đau bụng, tiêu
chảy và ói mửa) ở giai đoạn đầu của bệnh. Đó là do cơ thể của gia súc chủ động
trong thời gian bị tiêu chảy bằng cách đẩy dịch về phía vùng bụng và tống nhanh
chất thải ra khỏi cơ thể qua hậu môn, đau bụng kết hợp với tiêu chảy có thể do ruột

10


giãn nở đột ngột cơ trơn của ruột co bóp, giảm độ pH bên trong ruột hoặc chất hóa
học kích thích màng nhầy niêm mạc gây nên hiện tượng nôn. Điều quan trọng là
phải theo dõi được khối lượng cũng như số lần phân được bài thải ra ngoài và nên
quan sát trực tiếp một mẫu phân xem mật độ, máu, tính chất nhờn, và mùi. Khám
sờ nắn vùng bụng có thể phát hiện nhu động ruột tăng do sự viêm sưng tấy ở ruột
non và đó là kết quả dẫn đến tiêu chảy đôi khi xuất hiện ói mửa (Stephen, et al.,
1989).
Việc gia tăng thể tích bên trong ruột là do thẩm thấu tích nước lại bởi những
tiểu phần không được hấp thu trong ruột bởi cơ chế tiết chủ động vào trong lòng
ruột. Việc suy yếu tụy hoặc thiếu các enzyme tế bào màng nhầy niêm mạc, rối loạn
tính thấm của ruột do sự tổn thương lớp màng nhầy niêm mạc, hoặc quá trình gắn
kết giữa lớp mô liên kết mỏng ở ngoài cùng tiếp giáp với các lớp màng trong xoang
cơ thể với những tế bào viêm có thể gây suy giảm hấp thu, chủ động giải phóng một
số lượng lớn những tiểu phần, các khí hydrocacbon và CO 2. Sự kích thích cục bộ
do các vi khuẩn hoặc những độc tố của vi khuẩn và những thức ăn khó tiêu có thể

- Mất nước đẳng trương: như mất dịch đẳng trương và Na+, sự mất nước chỉ
ở độ trung bình và giảm Na+ trong máu.
- Mất nước nhược trương: mất dịch và Na+ nặng, dẫn đến mất máu nặng và
giảm Na+ trong máu trầm trọng.
Ở con vật khỏe mạnh, nước chiếm khoảng 75% thể trọng, được giữ ở dịch
nội bào (50% thể trọng) và dịch ngoại bào, gồm huyết tương (8% thể trọng) và dịch
ruột (17% thể trọng). Tất cả loại dịch này đều bị giảm ở vật bị tiêu chảy. Vì vậy,
tuần hoàn bị trở ngại và trao đổi ở mô giảm.
Ở vật bị tiêu chảy, lượng nước mất tùy theo nguyên nhân và mức độ trầm
trọng của bệnh. Mất nước là hiện tượng bệnh lý trung tâm và nguyên nhân trực tiếp
gây tử vong.
Mất các chất điện giải
Khi con vật bị tiêu chảy, chẳng những mất một lượng lớn nước làm rối loạn
hoạt động của các quá trình trong cơ thể, mà một số chất điện giải quan trọng như
HCO3-, K+, Na+, Cl– cũng bị hao hụt, góp phần gây nên những quá trình bệnh lý,
làm tổn hại sức khỏe của con vật.
Mất ion Na+ gây tác hại lớn với cơ thể, nó giữ vị trí quan trọng việc duy trì áp
lực thẩm thấu và hoạt động thần kinh của con vật. Trong cơ thể, muối NaCl được
phân ly hầu như hoàn toàn thành Na+ và Cl-. Ở thành ruột, có áp lực thẩm thấu ưu
trương, gia súc duy trì nồng độ đẳng trương bằng cách lấy nước từ hệ tuần hoàn hay
dịch từ các bộ phận khác. Tuy nhiên, lấy nước từ hệ tuần hoàn xảy ra nhanh chóng.
Ion K+ cũng bị hao hụt do tiêu chảy, tuy nhiên do huy động K+ từ tế bào ra,
nên hàm lượng K+ trong máu có chiều hướng tăng (nhất là trong trường hợp
acidosis), làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của hệ tim mạch (tim đập chậm, loạn
nhịp).
Một trong những hậu quả lớn nhất của mất nước và chất điện giải là hiện
tượng acidosis. Trong hiện tượng acidosis: pH của máu giảm, làm vật tăng hô hấp,

12


Virus xâm nhập trực tiếp qua hô hấp dưới dạng những giọt khí dung hay giọt
nước nhỏ hoặc gián tiếp qua thức ăn, nước uống. Bệnh cũng có thể truyền qua nhau
thai (Trần Thanh Phong, 1996).

13


Virus bệnh Carré lây lan trực tiếp từ chó bệnh sang chó khỏe qua đường hô
hấp, qua dịch tiết từ mắt, mũi, miệng. Virus lẫn vào các hạt bụi trong không khí và
có thể gây nhiễm cho chó trong suốt từ 2 – 3 tuần hoặc có thể lâu hơn, sự lây lan
qua không khí thường trong một vùng ngắn. Sự lây nhiễm nhanh hay chậm phụ
thuộc vào mật độ chó nuôi tại một vùng và tỉ lệ chó được tiêm phòng (Thompson,
1998).
Trong phòng thí nghiệm: tiêm, uống, bôi niêm mạc mũi đều gây được bệnh.
- Triệu chứng
Thời gian nung bệnh kéo dài từ 3 – 8 ngày và sau đó bệnh có thể xuất hiện
các triệu chứng: viêm kết mạc mắt, viêm xoang mũi lúc đầu chảy nhiều dịch lỏng,
rồi dần dần đặc lại đục và xanh.
+ Thể cấp tính: Trải qua hai đợt sốt gọi là sốt hai thì: đợt một thường xuất
hiện trong khoảng 3 – 6 ngày khi chó bị cảm nhiễm, thời gian sốt kéo dài trong 2
ngày, sau đó giảm sốt. Vài ngày sau lại xuất hiện đợt sốt thứ hai kéo dài cho đến
lúc chết, hoặc khi cơ thể suy kiệt. Virus xâm nhập vào cơ thể làm giảm bạch cầu,
đặc biệt là lympho bào và gây ra những triệu chứng trên đường hô hấp như viêm
đường hô hấp từ mũi đến phế nang với biểu hiện hắt hơi, ho, chảy mũi, thở khò khè,
âm ran ướt. Trên hệ hệ tiêu hóa gây xáo trộn tiêu hóa với các triệu chứng đi phân
lỏng, tanh, có thể lẫn máu (phân có máu màu cà phê) hoặc niêm mạc ruột bị bong
tróc (phân màu nâu nhầy). Đối với hệ thần kinh, virus tác động lên não gây viêm
não làm chó biểu hiện triệu chứng thần kinh như đi xiêu vẹo, mất định hướng, co
giật, chảy nước bọt, bại liệt, hôn mê rồi chết. Ngoài ra, virus tác động lên da làm
cho da vùng bụng xuất hiện mụn mủ (nốt sài).

Phương pháp ELISA
- Chẩn đoán dịch tễ học: Về mặt dịch tễ học, loài nhiễm bệnh là các loài họ chó.
Chó nhạy cảm tùy vào độ tuổi. Virus rất dễ chết, sống được 20 phút trong môi
trường chất nhầy lỗ mũi ở 200C. Bệnh truyền nhiễm trực tiếp, virus thâm nhập qua
đường mũi hay mô liên kết.
- Điều Trị
Đối với bệnh thì không có thuốc đặc hiệu để điều trị, phương pháp điều trị
chủ yếu phụ thuộc vào chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc sử dụng kháng sinh chỉ có tác
dụng chống phụ nhiễm, kết hợp với biện pháp truyền dịch bằng dung dịch sinh lý
mặn, ngọt và dung dịch Lactate Ringer’s nhằm duy trì cân bằng điện giải cơ thể.
Ngoài ra cần bổ sung dinh dưỡng cho con vật trong lúc bệnh (Lobertti, 2003).

15


Các nhà khoa học đã thành công trong việc tạo ra kháng huyết thanh chống
bệnh Carré nhưng chỉ đạt hiệu quả khi mới chớm bệnh (sau 2 – 3 ngày nhiễm
bệnh). Nên tiêm kháng huyết thanh cho những con khỏe nhưng đã tiếp xúc với chó
bệnh (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004).
Bệnh do Parvovirus trên chó (Canine Parvovirus- CPV)
Bệnh tiêu chảy có máu do Parvovirus trên chó là một bệnh truyền nhiễm cấp
tính nguy hiểm của chó, gây chết hàng loạt ở chó con. Đặc điểm của bệnh là con
vật tiêu ra máu tươi, phân lỏng có lẫn niêm mạc, có mùi tanh đặc trưng, con vật suy
kiệt nhanh. Bệnh có mặt khắp nơi trên thế giới. Ở nước ta, bệnh thường xảy ra ở
những nơi nuôi nhiều chó tập trung và khả năng lây lan của bệnh rất cao, gây thiệt
hại cho đàn chó và thiệt hại cho người nuôi (Nguyễn Văn Biện, 2001).
- Nguyên nhân
Bệnh do Parvovirus gây ra thuộc họ Parvoviridae (Breathnach, 1997). Là
một loại virus nhỏ, tròn và không có màng bao bên ngoài khi quan sát dưới kính
hiển vi điện tử ở những mẫu phân của chó nhiễm bệnh viêm ruột (Zeki, 2004).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status