BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
TRẦN VĂN SƠN
HIỆU QUẢ SÁU LOẠI DINH DƯỠNG THỦY CANH
TRÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÀ CHUA
TẠI HỢP TÁC XÃ RAU AN TOÀN QUẬN
BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần
Thơ
@ Tài
liệu
học tập và nghiên cứu
ĐÔNG
XUÂN
2005
- 2006
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Cần Thơ - 2007
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
TRẦN VĂN SƠN
HIỆU QUẢ SÁU LOẠI DINH DƯỠNG THỦY CANH TRÊN SỰ SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÀ CHUA TẠI HỢP TÁC XÃ
RAU AN TOÀN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ,
ĐÔNG XUÂN 2005 – 2006
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sinh viên TRẦN VĂN SƠN thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày …. tháng….. năm 2007
Cán bộ hướng dẫn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Trồng trọt với đề tài:
HIỆU QUẢ SÁU LOẠI DINH DƯỠNG THỦY CANH TRÊN SỰ SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÀ CHUA TẠI HỢP TÁC XÃ
RAU AN TOÀN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ,
ĐÔNG XUÂN 2005 – 2006
Do sinh viên TRẦN VĂN SƠN thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp……………………………………..
LỜI CẢM TẠ
Tuy trong quá trình làm đề tài gặp rất nhiều khó khăn nhưng với sự hướng
dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô và các bạn Trồng Trọt 28 đã giúp tôi hoàn
thành đề tài này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Trần Thị Ba, thầy Bùi Văn
Tùng và chị Võ Thị Bích Thủy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong
suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành biết ơn Quý Thầy Cô và anh chị Bộ môn khoa học cây
trồng, chị Kiều, chị Bình và chị Bích Vân đã giúp đỡ tôi thực hiện các chỉ tiêu
trong phòng thí nghiệm.
Tôi xin chân thành biết ơn chú Triệu Công Đỉnh đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi thực hiện thí nghiệm trên nền đất của chú tại quận Bình Thủy, thành
phố Cần Thơ.
Tôi cũng xin chân thành biết ơn thầy cố vấn học tập Phạm Văn Phượng, tập
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thể lớp trồng trọt 28 đã giúp đỡ tôi trong suốt những năm học đại học và hoàn
thành đề tài tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin ghi nhớ công ơn của cha mẹ đã sinh ra và nuôi dạy tôi nên
người.
TRẦN VĂN SƠN
v
TRẦN VĂN SƠN, 2007 “Hiệu quả sáu loại dinh dưỡng thuỷ canh trên sự sinh
trưởng và năng suất của cà chua tại hợp tác xã rau an toàn quận Bình Thủy,
thành phố Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006”. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng
trọt, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ. Cán
lã); 8/ Đối chứng 2 (trồng dưới đất và bón phân như nông dân). Diện tích thí
nghiệm là 80 m2 trong nhà lưới, mỗi cây được trồng trong một bầu ni lông đường
kính 30 cm và cao 35 cm, khoảng cách giữa hai tâm bọc là 35 cm, mỗi bầu ni lông
có một vòi tưới nhỏ giọt. Giá thể trồng cây là mụn xơ dừa sạch, mật độ trồng là
28.575 cây/ha.
Kết quả thí nghiệm đã cho thấy:
- Năng suất: trồng cà chua trên giá thể sạch, sử dụng dinh dưỡng thủy canh
MU cho năng suất trái thương phẩm cao nhất (26,43 tấn/ha), khác biệt qua phân
tích thống kê so với các dinh dưỡng HO, HN, ÚC, CC và ME nhưng không khác
biệt so với nghiệm thức đối chứng trồng dưới đất (24,40 tấn/ha).
- Phẩm chất: dinh dưỡng MU, HN cho trái có chất lượng (độ cứng trái, độ
Brix, nitrate và hàm lượng vật chất khô của trái) tốt nhất và trồng dưới đất cho chất
lượng kém nhất.
vi
MỤC LỤC
Trang
Lược sử cá nhân
iv
Cảm tạ
v
Tóm lược
vi
1.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây cà chua
4
1.2.1 Nhiệt độ
4
1.2.2 Ánh sáng
5
1.2.3 Ẩm độ
5
1.2.4 Đất
5
1.2.5 Nước
6
1.2.6 Chất dinh dưỡng
6
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
13
13
vii
1.5.2 Lịch sử phát triển
14
1.5.3 Tình hình sản xuất và một số kết quả nghiên cứu
về trồng thủy canh
14
1.5.4 Tác dụng của giá thể (chất nền)
1.6 Hệ thống tưới nhỏ giọt
15
15
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
17
17
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Cần LUẬN
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
Chương
3 KẾT
26 cứu
3.1 Ghi nhận tổng quát
26
3.2 Môi trường canh tác
27
3.2.1 Cường độ ánh sáng
27
3.2.2 Nhiệt độ
28
3.2.3 Môi trường rễ
30
3.3 Tình hình trổ hoa và thiếu canxi
32
3.3.1 Ngày trổ hoa đầu tiên
viii
3.5 Thành phần năng suất
39
3.5.1 Số trái thương phẩm
39
3.5.2 Tổng số trái trên cây
40
3.5.3 Tỷ lệ số trái thương phẩm/tổng số trái
41
3.5.4 Trọng lượng trung bình trái thương phẩm
42
3.5.5 Trọng lượng trái thương phẩm trên cây
43
3.5.6 Tổng trọng lượng trái trên cây
3.6.3ĐH
Tỉ lệCần
năng suất
phẩm/tổng
năng suất
47 cứu
3.7 Một số chỉ tiêu về phẩm chất trái
48
3.7.1 Độ cứng trái
48
3.7.2 Độ Brix thịt trái
49
3.7.3 Hàm lượng nitrate trong thịt trái
49
3.7.4 Hàm lượng vật chất khô của trái
50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
51
2.3
Lượng dinh dưỡng bón cho cà chua tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân
2005-2006
23
3.1
pH của dinh dưỡng và giá thể trồng cà chua tại TP. Cần Thơ,
Xuân Hè 2006
31
3.2
EC (mS/cm) của dinh dưỡng và giá thể trồng cà chua tại TP. Cần
Thơ, Xuân Hè 2006
32
3.3
Ngày trổ bông cà chua, thối trái do thiếu canxi trồng trên các loại
dinh dưỡng thủy canh khác nhau tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân
2005 - 2006
32
3.4
39
3.7
Số trái của 7 nghiệm thức cà chua trồng trên các loại dinh dưỡng
thủy canh khác nhau tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006
40
3.8
Trọng lượng trái cà chua trồng trên các loại dinh dưỡng thủy
canh khác nhau tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006
42
3.9
Trọng lượng toàn cây và tỉ lệ trọng lượng trái cà chua trồng trên
các loại dinh dưỡng thủy canh khác nhau tại TP. Cần Thơ, Đông
Xuân 2005-2006
44
3.10
Năng suất cà chua trồng trên các loại dinh dưỡng thủy canh khác
nhau tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006
48
22
3.1
Diễn biến cường độ ánh sáng trong ngày 20/02/2006 ở thí
nghiệm cà chua tại TP. Cần Thơ
27
3.2
Diễn biến nhiệt độ trong ngày 20/02/2006 ở thí nghiệm cà chua
tại TP. Cần Thơ
29
3.3
Nhiệt độ dung dịch dinh dưỡng và trên mặt đất trong ngày
11/3/2006 ở thí nghiệm cà chua tại TP. Cần Thơ
Thối trái do thiếu canxi được ghi nhận ở dinh dưỡng Úc tại TP.
Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006
Chiều cao cây cà chua trồng trên các loại dinh dưỡng thủy canh
khác nhau tại TP. Cần Thơ, Đông Xuân 2005-2006
30
3.4
3.5
So sánh sáu loại dinh dưỡng thủy canh với đối chứng nước lã và
đất trên cà chua, ngày 22/01/2006
44
3.9
xi
46
1
MỞ ĐẦU
Cà chua là một loại rau ăn trái rất quen thuộc và không thể thiếu trong bữa
ăn hàng ngày của mỗi người bởi giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin và khoáng
chất đồng thời nó còn là nguồn dược liệu ngăn ngừa một số bệnh như ung thư, tim
mạch... Chính vì vậy cà chua bán rất chạy và được giá không chỉ ở thị trường trong
nước mà còn xuất khẩu. Tuy nhiên, cà chua thuộc loại cây trồng khó tính đặc biệt
ở các nước nhiệt đới như nước ta bởi nó mang tính thời vụ cao và sâu bệnh gây hại
khá quan trọng (Chu Thị Thơm và ctv., 2005). Chính vì vậy để đạt năng suất cao,
đảm bảo lợi nhuận của mình người nông dân đã không ngần ngại lạm dụng phân
hóa học và thuốc bảo vệ thực vật làm cho dư lượng hóa chất trong sản phẩm cao
gây ngộ độc cho người sử dụng.
Trước tình hình đó một đòi hỏi cấp thiết đặt ra là phải sản xuất được những
trái cà chua sạch cả về sâu bệnh lẫn dư lượng hóa chất để đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng. Do đó công nghệ trồng rau trên giá thể bắt đầu xuất hiện, ở
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quần đảo Tây Ấn Độ và Philipine.
Thành phần cà chua ăn được trong 100 g như sau: nước 94 g, chất đạm
1,0 g,Học
chất béo
g, chất
bột Thơ
đường 3,6
Ca 10mg,
Fe 0,6tập
mg, và
Mg 10
mg, P 16cứu
Trung tâm
liệu0,2ĐH
Cần
@ g,Tài
liệu học
nghiên
mg, vitamin A 1700 IU, vitamin B1 0,1 mg, vitamin B1 0,02 mg, vitamin C 21 mg,
giá trị tương đương 80 KJ/100 g (Prosea, 1994).
1.1.2 Đặc tính thực vật của cây cà chua
- Rễ: cà chua có rễ chùm ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển
của rễ phụ rất lớn (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Hệ rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất
0 - 30 cm, ở độ sâu dưới 1 m rễ ít, khả năng hút nước và chất dinh dưỡng ở tầng
đất 0,5 m yếu (Tạ Thu Cúc, 2004). Cà chua trồng thẳng, rễ ăn sâu xuống lớp đất
phía dưới nên cây có khả năng chịu hạn trong thời gian dài. Trường hợp trồng
bằng cây con, rễ chính bị đứt sẽ kích thích rễ bên phát triển mạnh, rễ ăn nông nên
khả năng chịu hạn kém, tuy nhiên vì phân bố rộng nên cây vẫn phát triển ở điều
kiện thuận lợi (Chu Thị Thơm và ctv., 2005). Trồng cây con thường được chuộng
hơn và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc làm cỏ (Barry, 1997).
tiết. Màu sắc của trái là do tỷ lệ hàm lượng sắc tố lycopene và carotene trong trái.
Nếu tỉ lệ lycopene/carotene cao, trái có màu đỏ thẫm, nếu hàm lượng carotene gia
tăng hơn, trái có màu cam (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Trái có cấu tạo từ 2 đến nhiều ngăn, hầu hết có từ 3 ngăn trở lên. Trọng
lượng trái thay đổi từ 20 g ở cà chua cherry đến 300 g ở cà chua trái lớn (Phạm
4
Hồng Cúc, 2002). Số lượng trái trên cây là đặc tính di truyền của giống, nhưng
cũng chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Số trái trên
cây của loài cà chua trồng thay đổi rất lớn từ 4 - 5 trái đến vài chục trái, những
giống có tỷ lệ đậu trái cao có thể đạt tới hàng trăm trái (Tạ Thu Cúc, 2004).
- Hạt: hạt nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối, một trái chứa
từ 50-350 hạt, hạt vẫn có thể nảy mầm sau 3 - 4 năm tồn trữ. Trọng lượng ngàn hạt
từ 2,5-3,5 g (Mai Thị Phương Anh, 1996). Hạt chín sớm hơn thịt quả, khi quả chưa
chín hoàn toàn thì hạt đã có thể nảy mầm (Chu Thị Thơm và ctv., 2005). Sức nảy
mầm của hạt có thể giữ 4 - 5 năm (Chu Thị Thơm và ctv., 2005; Nguyễn Văn Viên
và Đỗ Tấn Dũng, 2003).
1.2 YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH
CỦA CÂY CÀ CHUA
1.2.1 Nhiệt độ
Cà chua sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khô.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng giúp cây có được sản lượng cao và chín sớm.
Nhiệt độ tối hảo cho sự sinh trưởng và phát triển tốt là 21 - 240C (Phạm Hồng Cúc,
1999). Nhiệt độ lớn hơn 300C kéo dài, kết hợp với hạn đất, hạn không khí sẽ dẫn
đến rối loạn quá trình đồng hóa, làm giảm hàm lượng vật chất khô trong trái và
làm năng suất giảm sút nghiêm trọng (Chu Thị Thơm và ctv., 2005). Trên 350C cây
CầnCThơ
@ Tài liệu học tập và nghiên cứu
làm giảm
lượng
trong trái.
1.2.3 Ẩm độ
Ẩm độ cao trên 70% thường được chuộng vì nó thúc đẩy cây tăng trưởng
đầy nhựa và mềm nhưng nó cũng tạo điều kiện lý tưởng để nhiều nấm bệnh phát
triển (Barry, 1997). Do đó ẩm độ từ 45 - 60% là thích hợp nhất (Phạm Hồng Cúc,
2002).
Ngoài ra, Phạm Hồng Cúc (2002) cho biết thêm trong điều kiện nhiệt độ
cao và ẩm độ cao của vùng nhiệt đới sẽ gây trở ngại cho việc thụ tinh, thụ phấn
nên cà chua khó đậu trái. Còn trong điều kiện ẩm và lạnh, hàm lượng vitamin trong
trái tích lũy nhiều hơn trong điều kiện nóng ẩm.
1.2.4 Đất
Cà chua đòi hỏi đất màu mỡ và rỏ nước tốt. Đất nhiều cát hoặc quá nhiều
sét đều không thích hợp. Đất sét dễ bị dẽ đất và rễ không ăn sâu được. Đất cát kém
về khả năng giữ nước và những chất dinh dưỡng dễ thấm qua khỏi vùng rễ. Đất tốt
6
nhất để trồng cà chua là đất cát pha (Barry, 1997). Ngoài ra đất phù sa, đất bồi giữ
ẩm và thoát nước tốt cũng thích hợp (Phạm Hồng Cúc, 2002).
Barry (1997) cũng cho biết thêm cà chua có thể phát triển trên đất có độ pH
từ 5,0 - 8,0, nhưng thích hợp nhất trong khoảng 6,0 - 7,0. Cà chua tương đối chịu
độ pH thấp, nhưng với độ pH quá 8,0 thường đưa đến tình trạng thiếu những
nguyên tố phụ cho cây.
1.2.5 Nước
Theo Tạ Thu Cúc (2004), nước đóng vai trò quan trọng quyết định năng
quả kém đậu trái. Căng nước thời kỳ cây con là một trong những cách tốt nhất để
giới hạn tình trạng mập bợp và thúc đẩy cho cây trổ bông và kết trái (Barry, 1997).
1.2.6 Chất dinh dưỡng
+ Đạm: đóng góp nhiều trong sự tạo sinh khối thực vật (lá và thân). Tỷ lệ
đạm cao làm cho cây tăng trưởng mạnh và làm hạn chế sự sinh sản. Dưới điều kiện
nóng và có ánh sáng, mức độ đạm phải được gia tăng để cho cây tăng trưởng tiếp
tục và biểu hiện tiềm năng năng suất trái tối đa (Paradopoulos, 1991).
7
+ Lân: lân giữ vai trò quan trọng trong đời sống cây cà chua, xúc tiến sự
tăng trưởng của hệ rễ, hình thành chùm hoa sớm, hoa nở sớm và chín sớm, rút
ngắn thời gian sinh trưởng. Cà chua mẫn cảm mạnh với nền phân bón có lân, lân
làm tăng chất lượng quả đặc biệt là đường sacaroza. Các dạng lân đều làm tăng
hàm lượng chất khô và đường trong quả. Ở giai đoạn nở hoa lân làm tăng sức sống
của hạt phấn. Một số nhà khoa học Mỹ và Bungari cho rằng năng suất quả đạt cao
nhất khi hàm lượng lân trong 1 kg đất khô là 40 - 60 mg (Tạ Thu Cúc, 2004).
Thiếu lân hệ thống rễ kém phát triển, cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, hẹp, gân mặt
dưới lá có màu tím, trái chín chậm (Phạm Hồng Cúc, 2002).
+ Kali: có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trái và sự cứng chắc cho cây.
Tỷ lệ giữa kali và đạm cũng quan trọng trong việc kiểm soát sự tăng trưởng, tỷ lệ
này cao thì sự tăng trưởng chậm. Một số triệu chứng thiếu kali như trái bị dị dạng,
chín rợp (Paradopoulos, 1991). Rối loạn tiến trình chín “greenback” ở trái cà chua
(Lune và Goor, 1997). Việc cung cấp đủ kali làm quả nhẵn, bóng thịt, quả chắc,
làm tăng
năngĐH
bảo quản
vận chuyển.
Kaliliệu
Hòa và ctv., 1999).
+ Sắt: cây thiếu Fe được đặc trưng bởi sự phát triển của một sự vàng úa
vùng giữa gân lá, thường xuất hiện đầu tiên trên những lá non. Sự thiếu Fe thường
xuất hiện trong điều kiện pH cao và có sự hiện diện của bicarbonates, đất acid thì
nhôm hòa tan phong phú hơn và hạn chế sự hấp thu Fe (Lê Văn Hòa và ctv., 1999).
+ Mangan: triệu chứng thiếu Mn thường do sự đối kháng của các chất khác
như Fe, Mg và Ca. Hiện tượng thiếu Mn của cây thể hiện ở việc xuất hiện trên lá
những đốm úa vàng nhỏ, rải rác giữa những gân lá còn xanh. Trong tường hợp này
thì trên lá xuất hiện những đốm chết khô của mô chết, bộ rễ của cây phát triển yếu
đi. Thừa Mn xuất hiện các đốm nâu có viền vàng trên lá già (Nguyễn Bảo Vệ và
Nguyễn Huy Tài, 2004).
+ Đồng:
vai trò
quan Thơ
trọng trong
sự hình
thành
hạt tập
phấn và
thụ tinh docứu
Trung tâm Học
liệucóĐH
Cần
@ Tài
liệu
học
vàsựnghiên
tính bất thụ của hạt phấn ở cây thiếu đồng (Graham, 1975). Ở lá cây thiếu Cu thì
thường có màu xanh sậm (do hàm lượng diệp lục tố và protein cao), tuy nhiên hiệu
suất quang hợp thấp hơn nhiều tương ứng với việc có ít carbohydrate, lá non bị
1.3.2 Bệnh hại
+ Bệnh vi khuẩn Pseudomonas solanacearum: vi khuẩn gây hại mạnh trong
điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, đặc biệt trên nền đất trồng cà liên tục nhiều năm
và pH thấp. Thường cây bệnh héo chết rất nhanh nên lá không kịp vàng nên còn
gọi là bệnh héo tươi, hệ thống mạch dẫn hóa nâu và sự phát triển rễ bất định dọc
theo thân có thể gia tăng trên cây bệnh. Cắt ngang thân cây bệnh dịch nhớt có thể
tiết ra từ bó mạch và nhúng mạch cắt ngang vào trong nước vài phút dòng vi khuẩn
màu trắng sữa chảy ra từ mạch cắt. Phương pháp phòng trừ hiệu quả nhất là trồng
giống kháng, cải tạo đất bằng cách bón vôi, xử lý đất bằng thuốc trừ vi khuẩn (Lê
Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999).
+ Bệnh héo do nấm Fusarium oxysporum f.sp lycolcopersic: lá cây trở nên
vàng, cây héo từ từ, bắt đầu từ các lá bên dưới hay một nhánh của cây. Bó mạch
cây cũng hóa nâu đậm, hệ thống rễ cũng bị nhiễm nhưng không bị thối rửa. Hai
10
dòng sinh lý (race 1 và race 2) của nấm được phân biệt tùy theo cách gây bệnh trên
cây. Sử dụng giống kháng là phương pháp phòng trừ có ý nghĩa thực tiễn (Phạm
Hoàng Oanh, 2000).
+ Bệnh úa sớm (early blight) do nấm Alternaria solani: nấm bệnh tạo thành
những đốm bệnh tròn với viền màu nâu đậm, trung tâm có màu nâu hay đen, nấm
sản xuất độc tố làm lá trở nên vàng, mau rụng. Nấm cũng tấn công trái và gây các
vết cháy trên thân, cành hoặc tấn công trên cây con tiếp xúc với mặt đất làm chết
cây. Có thể dùng giống kháng hay xịt định kỳ Manozeb 80 WP hoặc thuốc Copper
Zinc 85WP, Copper-B 75WP để phòng trị (Nguyễn Thị Nghiêm, 1996).
+ Bệnh Virus: có khoảng 25 loài virus gây hại trên cà được tìm thấy. Trong
đó phải kể đến là TMV (tomato mosaic virus). Có nhiều dòng gây bệnh hại trên cà
chua và làm thiệt hại năng suất trên 20 - 30% đôi khi đến 50%. Bệnh làm mất màu
lá, lá xanh vàng loang lỗ (Mosaic) lá méo mó (leafbunckering). Giống kháng mang
11
vụ cho một bộ phận dân cư có thu nhập cao trong xã hội (Ngô Quang Vinh, 2006).
Năm 1995, viện nghiên cứu rau quả thuộc công ty rau quả Việt Nam (Vegetexco)
đã hợp tác với công ty GINO xây dựng một số mô hình nhà lưới chống côn trùng,
mưa gió, sương lạnh, với quy mô 5 ha tại Trâu Quỳ-Gia Lâm-Hà Nội và tiến hành
trồng thử nhiều chủng loại rau quả trong mùa hè từ tháng 6 - 9 năm 1995. Đây là
quy mô nhà lưới lớn nhất ở nước ta (GINO Co. Ltd và viện nghiên cứu Rau quả
Việt Nam, 1996).
Theo thời báo nông nghiệp Việt Nam tháng 12 năm 2005, từ số liệu thống
kê chưa đầy đủ, tính đến thời điểm hiện nay, 13 tỉnh thành phố phía Nam có trồng
rau trong nhà lưới đã xây dựng được 23,9 ha nhà lưới. Trong đó, nhiều nhất là
Biên Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An với năng suất tăng
từ 15-20% so với trồng ngoài nhà lưới.
Đà Lạt có 8 hợp tác xã chủ yếu hoạt động nghề rau. Ngoài ra còn có hàng
chục hộ gia đình đầu tư nhà kính, nhà lưới sản xuất rau theo quy trình hoàn toàn
mới,Học
ít sử dụng
vệ thực
vật và
hóahọc
học. Trong
9 tháng
đầu nămcứu
Trung tâm
liệuthuốc
ĐHbảo
Cần
Thơ
@phân
huyện đã có 250 nhà lưới, với diện tích mỗi nhà từ 1.000 - 25.000 m2. Cần Giuộc
đang trở thành vùng rau chuyên canh rộng lớn cung cấp cho TP. HCM (Trung Tâm
Thông Tin Nông Nghiệp và PTNT, 2004).
1.4.3 Các mô hình nhà lưới
Ở nước ta, với điều kiện khí hậu ôn hòa, không có bão lớn, một số mô hình
nhà lưới thích hợp đã được thiết kế với phương châm đơn giản, giá thành thấp, mà
Trung tâm
liệukém
ĐHhơnCần
Thơ
@Hiện
Tàinayliệu
học
và nghiên
hiệu Học
quả không
các kiểu
khác.
có các
loạitập
nhà lưới,
loại kính cócứu
lưới ngăn hoàn toàn ở phía trên mái và xung quanh, loại hở lưới không che hoàn
toàn và hở toàn phần hay bán phần xung quanh. Tùy theo mục đích và điều kiện cụ
thể mà chọn lựa phù hợp (Trung Tâm Thông Tin Nông Nghiệp và PTNT, 2004).
* Ưu điểm của nhà lưới
Nhờ các loại thiết kế khác nhau cây trồng trong nhà lưới được bảo vệ chống
lại mọi thời tiết bất lợi như nắng, gió, mưa, bão, sương, lạnh. Vì vậy có thể tổ chức
quanh năm, trái vụ theo kế hoạch và nhu cầu của thị trường. Trong nhà lưới cây
học tập và nghiên cứu
1.5ĐH
SẢNCần
XUẤT
TRÊN
(SUBSTRATE)
1.5.1 Thủy canh là gì
Thủy canh (hydroponics) là kỹ thuật trồng cây với dinh dưỡng, nước và
không có đất. Nước phải được phân phối đến hệ thống rễ. Hệ thống rễ có thể treo
trực tiếp trong dung dịch dinh dưỡng hoặc có giá thể thay thế đất, giá thể được
chứa trong chậu hoặc máng, giá thể gồm nhiều loại khác nhau như cát, mạc cưa,
đá, xơ dừa, than bùn,... tất cả các loại giá thể phải có khả năng giữ nước tốt
(Dickson, 2004).
1.5.2 Lịch sử phát triển
Ngay từ những năm trước công nguyên người cổ xưa đã biết trồng cây trong
dung dịch dinh dưỡng (dung dịch phân compost) đầu tiên ở Ai Cập, Trung Quốc
và Ấn Độ.
Vào thế kỷ XVII các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm trồng cây trong
nước. Jonh (1699) đã so sánh quá trình sinh trưởng của cây trồng trong nước tự