TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
TRẦN HOÀNG BÍCH TRÂM
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PHÂN BÓN LÁ CaSi
LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA
HAI GIỐNG LÚA HANANOMAI VÀ AKITA
TRỒNG TRONG CHẬU VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012-2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cần Thơ - 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
TRẦN HOÀNG BÍCH TRÂM
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PHÂN BÓN LÁ CaSi
LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA
HAI GIỐNG LÚA HANANOMAI VÀ AKITA
TRỒNG TRONG CHẬU VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012-2013
Ts. Nguyễn Thành Hối
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
…… ……
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PHÂN BÓN LÁ CaSi
LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA
HAI GIỐNG LÚA HANANOMAI VÀ AKITA
TRỒNG TRONG CHẬU VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012-2013
Do sinh viên Trần Hoàng Bích Trâm thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ngày ...... tháng............năm 2013.
Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:.....................
Ý kiến hội đồng:.............................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
Cần Thơ, ngày ........ tháng ........ năm 2013
Thành viên hội đồng
...................................
......................................
Từ năm 2003-2007: học trường trung học cơ sở Cao Bá Quát.
Từ năm 2007-2010: học trường trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Vào trường Đại học Cần Thơ năm 2010, theo chuyên ngành Khoa học cây
trồng, khóa 36.
Tốt nghiệp Kỹ sư Nông Nghiệp chuyên ngành Khoa học cây trồng năm 2013.
iv
LỜI CẢM TẠ
Chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thành Hối và
cô Phan Thị Thanh Thủy những người đã hết lòng hướng dẫn, tạo điều kiện và
đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn chỉnh luận văn.
Chân thành biết ơn sâu sắc đến cố vấn học tập thầy Lê Vĩnh Thúc và cô
Võ Thị Bích Thủy người đã dẫn dắt tôi trong suốt thời gian học tại trường.
Đồng thời, gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ, khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng đã truyền đạt những kiến thức quý báu
cho tôi trong thời gian ở trường.
Thân gửi đến anh Mai Vũ Duy, các bạn Gọn, Linh, Luyến, Nho, Đông,
Thanh Tâm, Loan, Phú, Trường Giang, Kol Gian đã cùng và gắn bó với tôi
đến khi hoàn thành thí nghiệm.
Chân thành cảm ơn tất cả các bạn lớp Khoa học cây trồng K36 đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn cha, mẹ, gia đình đã tạo mọi điều kiện
tốt nhất cho chúng tôi được học tập và luôn động viên tinh thần giúp chúng tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
1.4.2 Vai trò của SiO2.................................................................................. 13
1.4.3 Những nghiên cứu phân bón lá CaSi (CaSi) ........................................ 15
Chương 2: Phương tiện và phương pháp ................................................ 16
2.1 Phương tiện thí nghiệm ......................................................................... 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm ....................................................... 16
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm ............................................................................. 16
2.2 Phương pháp ......................................................................................... 18
2.2.1 Bố trí thí nghiệm ................................................................................ 18
2.2.2 Kỹ thuật canh tác ................................................................................ 18
vi
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 19
2.2.4 Phân tích kết quả ................................................................................ 21
Chương 3: Kết quả và thảo luận .............................................................. 22
3.1 Nhận xét tổng quan ............................................................................... 22
3.2 Chỉ tiêu nông học cây lúa .................................................................................. 22
3.2.1 Chiều cao cây ..................................................................................... 22
3.2.2 Số chồi/chậu của hai giống lúa ........................................................... 24
3.3 Độ cứng của các lóng lúa....................................................................... 25
3.3.1 Độ cứng lóng 1 ................................................................................... 26
3.3.2 Độ cứng lóng 2 ................................................................................... 27
3.3.3 Độ cứng lóng 3 ................................................................................... 27
3.3.4 Độ cứng lóng 4 ................................................................................... 28
3.4 Các thành phần của năng suất và năng suất ................................................... 30
3.4.1 Trọng lượng 1000 hạt ......................................................................... 30
3.4.2 Số hạt trên bông (hạt/bông) ................................................................ 30
3.4.3 Số bông trên chậu (bông/chậu) ........................................................... 31
3.4.4 Tỷ lệ hạt chắc (%) .............................................................................. 31
3.4.5 Năng suất thực tế ................................................................................ 31
Hình thái và cấu tạo một hoa lúa
Chậu dùng để trồng lúa trong thí nghiệm
Cân điện tử (A), máy đo ẩm độ (B)
Sản phẩm phân bón lá CaSi của công ty Hợp Trí
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Đo độ cứng lúa
Cây lúa ở giai đoạn 20 ngày sau gieo (a); lúa ở giai đoạn thu hoạch (b)
trong vụ Đông Xuân 2012 - 2013
Độ cứng lóng 1 giữa hai giống Akita và Hananomai ở thời điểm thu
hoạch trồng trong chậu, vụ Đông Xuân 2012 – 2013
Độ cứng lóng 1 giữa các nồng độ xử lý CaSi ở thời điểm thu hoạch
trồng trong chậu, vụ Đông Xuân 2012 – 2013
3
4
5
16
17
17
18
20
22
viii
26
26
DANH SÁCH BẢNG
giống Akita và Hananomai theo các nồng độ phun CaSi trồng trong
chậu, vụ Đông Xuân 2012 – 2013
ix
Trang
2
6
16
23
25
27
27
29
30
32
Trần Hoàng Bích Trâm, 2013. Đề tài: “Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá
CaSi lên sinh trưởng và năng suất hai giống lúa Hananomai và Akita trồng
trong chậu vụ Đông Xuân 2012-2013”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Khoa học
cây trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần
Thơ, 38 trang.
Cán bộ hướng dẫn: Ts. Nguyễn Thành Hối.
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá CaSi lên sinh trưởng và năng
suất hai giống lúa Hananomai và Akita trồng trong chậu vụ Đông Xuân 2012
- 2013” được thực hiện nhằm tìm được nồng độ phân bón lá CaSi (CaSi) thích
hợp đến sinh trưởng và năng suất lúa để hạn chế vấn đề đổ ngã và tăng năng
thủ công, lúa bị đổ ngã trong mưa bão (Vũ Anh Pháp, 2013). Đổ ngã thường
gây ra thất thoát lớn về năng suất, gây khó khăn cho việc thu hoạch, làm giảm
lợi nhuận của nông dân do chi phí thu hoạch tăng (Phan Phi Hùng, 2010). Hơn
nữa, đổ ngã trong giai đoạn chín làm giảm chất lượng hạt hoặc giảm hương vị
(Setter et al., 1997).
Đổ ngã cho đến nay vẫn là thách thức lớn cho canh tác lúa, chưa có biện
pháp hữu hiệu để làm giảm thiệt hại, mà phải kết hợp nhiều biện pháp mới có
thể hạn chế (Vũ Anh Pháp, 2013). Có nhiều biện pháp làm hạn chế đổ ngã: sử
dụng giống kháng đổ ngã, có biện pháp canh tác hợp lý, bón phân cân đối.
Ngoài ra có nhiều thí nghiệm nghiên cứu việc sử dụng phân bón lá CaSi làm
cứng chắc vách tế bào làm giảm đổ ngã trên lúa như: Trần Thị Thu Em (2011),
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2011), Trần Thị Tuyết Phủ (2011) và Nguyễn Thành
Hối (2012) kết quả đều gia tăng độ cứng cây lúa ở nồng độ 2ml/l và 10ml/l
CaSi. Hiện nay, các giống lúa Nhật được nhiều công ty bao tiêu sản phẩm
ngay từ đầu vụ, giá lúa cao, có hiệu quả kinh tế, nên đã được sản xuất nhiều.
Tuy nhiên qua nhiều vụ sản xuất cho thấy các giống lúa Nhật hầu hết yếu cây,
dễ đổ ngã (Hoshikawa và Wang, 1990), gây ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng sản phẩm.
Do đó, đề tài: ”Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá CaSi lên sự sinh
trưởng và năng suất của hai giống lúa Hananomai và Akita trồng trong
chậu vụ Đông Xuân 2012 – 2013” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra nồng
độ phân bón lá CaSi lên sinh trưởng và năng suất lúa.
1
Chương 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm thực vật của cây lúa và các giai đoạn sinh trưởng
1.1.1 Đặc điểm thực vật của cây lúa
5–7
30
>14
1.1.1.2 Thân lúa
Lúa là loại cỏ hàng năm với thân tròn rỗng, có nhiều mắt và lóng nối tiếp
nhau (Moldenhauer và Slaton, 2004) và được ôm chặt bởi bẹ lá. Các lóng bên
dưới ngắn nên rất sát nhau, khoảng 5 – 6 lóng trên cùng vươn dài nhanh chóng
khi lúa chưa có đòng (tượng bông, tượng khối sơ khởi), đặc biệt trên những
2
lúa hoàn chỉnh gồm: bẹ lá, bản lá, tai lá, thìa lá và cổ lá. Tuy nhiên cũng có
giống không có tai lá và thìa lá. Các giống chín sớm có khoảng trung bình 10
– 18 lá, các giống dài ngày có nhiều lá hơn, có giống cảm quang mạnh có số lá
ổn định ở các thời vụ gieo cấy khác nhau. Bẹ lá cuộn tròn ôm chặt lấy thân
giúp cho cứng cây, chống đổ ngã. (Trương Đích, 2000).
Theo Jenning et al. (1979), lá lúa thẳng đứng sau khi tượng gié là đặc
tính quan trọng nhất để đạt được năng suất cao. Lá thẳng đứng cho phép ánh
sáng xâm nhập và phân bố đều trong ruộng lúa và tăng khả năng quang hợp
cho cây, lá ngắn thường đứng hơn lá dài và phân bố đều hơn trong tán lá.
Bẹ lá và thân
Phiến lá
Thìa lá
Cổ lá
Tai lá
Thìa lá
Bẹ lá
Tai lá
Hình 1.2 Hình thái cổ lá, tai lá và thìa lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.1.1.4 Bông lúa
Bông lúa được sinh ra trên các lóng trên cùng của thân, mức độ mà các
bông và một phần các lóng trên cùng mở rộng ra ngoài các bẹ lá cờ xác định
sự nhô ra của bông lúa. Các giống khác nhau về mức độ nhô ra của bông lúa
(Chang et al., 1965). Bông lúa là loại phát hoa chùm gồm cột trục chính mang
đó, Oryza sativa L. là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008).
Nhóm lúa Japonica có thời gian sinh trưởng ngắn tới trung bình (90 –
114 ngày). Thấp cây, số bông trên đơn vị diện tích cao, tỉ lệ hạt chắc cao,
trọng lượng 1.000 hạt lớn và cho năng suất trung bình từ 3,2 – 9,0 tấn/ha. Hầu
hết các giống lúa Japonica đều có chất lượng gạo cao: tỉ lệ xay xát, gạo
nguyên cao, hạt gạo trắng, ít bạc bụng và hàm lượng amylose thấp (Phạm
Quang Duy et al., 2008).
5
Bảng 1.2 Những đặc điểm của ba nhóm lúa (Barker et al., 1985)
Đặc tính
Chồi
Chiều cao
Quang chu kỳ
Nhiệt độ lạnh
Sự suy nhược
Dạng hạt
Kết cấu hạt
Nhóm lúa
Japonica
Nở bụi thấp
Trung bình
Không nhạy cảm
Chống chịu
Không dễ
Ngắn và tròn
lúa nhận được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thu dinh dưỡng, gia
tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Sự đâm chồi có thể
bắt đầu từ khi thân chính phát triển lá thứ 5 – 6 trong điều kiện đầy đủ dinh
dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi. Đối với một số giống lúa cực ngắn
ngày, thì thời gian sinh trưởng này, giai đoạn đẻ nhánh tối đa và đầu giai đoạn
sinh sản có thể chồng chéo lên nhau (Moldenhauer và Slaton, 2004).
1.1.3.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ sự kéo dài của thân và đến hết giai đoạn thụ
phấn, giai đoạn này thường kéo dài khoảng 30 ngày, tùy theo từng loại giống.
Ở giai đoạn này, số lượng hạt trên bông có ảnh hưởng đến năng suất. Giai
đoạn sinh sản xảy ra khi bông lúa phát triển và thoát ra khỏi các bẹ lá. Khi đó,
bẹ lá cờ bắt đầu phình ra. Sau đó, khoảng 10 – 20% của bông xuất hiện từ
trung tâm bẹ lá, hạt chín khoảng 30 ngày sau khi nhóm (Buehring, 2008).
6
1.1.3.3 Giai đoạn chín
Theo Yoshida (1981), trước trổ gié, một lượng tinh bột và đường tích lũy
trong thân và bẹ lá. Carbohirate tích lũy này được vận chuyển vào hạt lúc chín.
Hạt sẽ đạt chiều dài tối đa trong 12 ngày, chiều rộng tối đa của nó trong 2
ngày, độ dày tối đa trong 28 ngày và trọng lượng khô của nó trong 35 ngày
(Buehring, 2008). Sự hóa già của lá bắt đầu từ những lá thấp lên trên khi cây
trưởng thành. Ở giai đoạn sớm của sự chín, hạt màu lục chúng chuyển sang
vàng khi trưởng thành. Cơ cấu của hạt thay đổi từ trạng thái sữa, sáp sang chắc
cứng. Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này
trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới
(Grist et al., 1986). Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa
đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì gian đoạn chín sẽ kéo dài
hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
định số lượng hạt trên mỗi bông lúa. Số hạt trên bông được quyết định từ lúc
tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân
hóa hoa và giảm nhiễm tích cực (Nguyễn ngọc Đệ, 2008). Số hạt trên bông tùy
thuộc vào số gié, hoa phân hóa, hoa thoái hóa. Số gié và hoa phân hóa được
quyết định trong thời kỳ đầu của quá trình làm đòng, trong vòng 7 – 10 ngày.
Số hoa phân hóa nhiều phụ thuộc vào sinh trưởng của cây lúa và điều kiện
ngoại cảnh (Yoshida, 1981). Ngoài ra, số hạt trên bông bị ảnh hưởng từ khi
bông lúa bắt đầu xuất hiện thông qua điều kiện thời tiết, dinh dưỡng và tình
trạng của giống (Beighley, 2010).
Do đó, để tăng số hạt trên bông cần chọn giống tốt có bông to, nở bụi
sớm; bón phân đón đòng để tăng số hoa phân hóa và bón phân nuôi đòng (18 –
20 ngày trước trổ); bảo vệ lúa khỏi sâu bệnh tấn công và chọn thời vụ thích
hợp để lúa phân hóa đòng lúc thời tiết thuận lợi, không mưa bão (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
1.2.3 Tỷ lệ hạt chắc
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên
bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại
cảnh. Tỷ lệ hạt chắc được quyết định ở thời kỳ trước và sau trổ bông của bông
lúa, thời kỳ quyết định trực tiếp là giãm nhiểm, trổ bông và chín sữa (Yoshida,
1981). Ngoài ra, theo Zamani et al. (2007), tỉ lệ hạt chắc còn bị ảnh hưởng bởi
góc của lá cờ, thời gian vào hạt, chiều rộng và chiều dài của hạt.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hạt chắc do nhiều yếu tố quyết định: Do
điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, ảnh hưởng của chăm sóc không hợp lý,
đất đai, phân bón, sâu bệnh hại và một phần do đặc tính giống. Để nâng cao số
hạt chắc trên bông cần phải cấy đúng thời vụ, nhằm đảm bảo điều kiện ngoại
cảnh thuận lợi vào thời kỳ hình thành hạt chắc, tránh hạn hán, ngập úng, rét,
sâu bệnh, cấy đúng mật độ, không được bón quá nhiều đạm, tăng cường bón
kali đặc biệt vào giai đoạn cuối (Trương Đích, 1999).
8
Theo Phan Phi Hùng (2010), đổ ngã thường gây ra những thất thoát lớn
cả về năng suất lẫn chất lượng hạt. Khi lúa bị đổ ngã, chồng chất lên nhau gây
ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, hạn chế sự phát triển, lúa bị chìm trong
nước thường bị hư thối, bị nấm bệnh tấn công và nẩy mầm khi chưa thu hoạch
và làm giảm giá trị thương mại. Theo Dowling et al. (1998), năng suất lúa sẽ
giảm nếu không có biện pháp hạn chế đổ ngã. Mặt khác, đổ ngã gây không ít
khó khăn cho thu hoạch (Kono, 1995).
9
1.3.1 Các dạng đổ ngã trên lúa
Theo Nguyễn Minh Chơn (2007), đổ ngã được phân thành 2 nhóm: đổ
ngã ở rễ hoặc trên bề mặt đất và đổ ngã do nứt gãy các lóng thân trên. Trong
dạng nứt gãy rạ có 3 dạng như sau: Dạng thân gãy gấp khúc: ngay vị trí ngã
gãy của thân cây lúa gập lại; Dạng gãy tét thân: cây lúa bị gãy và tét theo
chiều dọc của lóng thân; Dạng gãy tách rời: lóng thân chỗ vị trí gãy của lúa có
một bên bị nứt rời ra.
1.3.2 Vị trí đổ ngã
Theo Nguyễn Minh Chơn (2007), lóng thân phía dưới thường bị nứt gãy,
điều này cũng phụ thuộc nhiều vào tình trạng canh tác. Vị trí đổ ngã thường
xuất hiện ở vị trí lóng thứ 4 và thứ 5 trên cây lúa và không tìm thấy trường
hợp nứt gãy lóng thân dẫn đến đổ ngã ở lóng 1 và lóng 2 (Lưu Thế Hùng,
2010).
1.3.3 Các nguyên nhân dẫn đến đổ ngã lúa
1.3.3.1 Đặc tính thực vật của cây lúa
Chiều cao cây lúa: Theo Nguyễn Minh Chơn (2007), giống kháng đổ ngã
có những đặc điểm như thân thấp, cứng và lá đứng. Các giống lúa cải tiến
thường có thân thấp nên kháng đổ ngã tốt hơn, đây là đặc điểm có thể cho
năng suất cao. Vì vậy, cây càng cao thì càng dễ đổ ngã, cần tránh dùng các
giống cao cây trong mùa mưa (Vergara, 1991).
1.3.3.3 Kỹ thuật canh tác
Mật độ gieo sạ: Nếu sạ quá dày làm cho cây lúa vươn lóng cao cạnh
tranh ánh sáng thì dễ đổ ngã (Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998).
Lượng phân bón: Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2003), đạm
là chất tạo hình của cây lúa, thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục
làm cho lá xanh tốt gia tăng số chồi và kích thước thân lá. Do vậy, nếu thừa
đạm cây lúa phát triển thân lá quá mức làm mô non mềm và dễ đổ ngã. Ngoài
đạm, cho thấy bón thêm kali cũng làm tăng khả năng chống chịu một số bệnh
đốm lá, bệnh thối thân và bệnh do vi khuẩn. Cây thiếu kali có số bông và
chiều cao cây bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt dễ ngã. Năm
1999 – 2000, người ta thử nghiệm bón thêm kali trên đất nghèo kali trên lúa có
tác dụng làm tăng năng suất và giảm đổ ngã (Huỳnh Khắc Bằng, 2010). Theo
Isa (2010), phát hiện silic có trong bẹ lá, phần ngoài của thân lúa và gân chính
phiến lá, cho thấy silic được phân phối đến các mô để duy trì độ cứng để hạn
chế đổ ngã hơn là thụ động phát triển trong mô.
1.4 Vai trò của CaO và SiO 2 trong phân bón lá CaSi (CaSi)
1.4.1 Vai trò của CaO
Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), nồng độ Ca của bề mặt trái đất khoảng
3,64% và thay đổi tùy theo loại đất, đất cát có hàm lượng Ca rất thấp. Hàm
lượng Ca tổng số trong các loại đất thay đổi trong khoảng 0,1 – 0,15% CaO
(Lê Văn Khoa et al., 2000). Ngoài ra, CaO còn là một trong những loại phân
11
chứa Calcium (Ca) nhằm cung cấp Ca cho cây trồng cho những vùng đất cát
do đất cát có hàm lượng Ca thấp. Theo Hodges (2010), Calcium là chất khó
rửa trôi từ đất, mặt dù mức độ có thể khá thấp trong đất bề mặt cát, những
phương pháp bón vôi chứa một lượng lớn calcium, vì vậy rất ít xảy ra trường
hợp thiếu Ca.
Theo Nguyễn Bảo vệ và Nguyễn Huy Tài (2003), một dưỡng chất
12
(1981), Ca2+ giúp ổn định màng tế bào bằng cách nối góc phosphate với các
nhóm Carboxylate của phospholipic và protein. Sự phát triển của ống phấn
phụ thuộc vào nồng độ canxi hiện diện trong môi trường sinh trưởng, sinh
trưởng ống phấn có tính hóa hướng động, được kiểm soát bởi chênh lệch nồng
độ canxi ở ngoại bào (Mascarenhas và Machlis, 1964).
Có rất nhiều nghiên cứu về lợi ích của Canxi như: Theo Kurtyka et al.
(2007), nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ Canxi (0,1, 1 và 10 mmol/l) và
Cadmium (0,1 mmol/l) về tăng trưởng và tích lũy Cadmium, canxi, kali và
natri lên sự phát triển của các cơ quan (rễ, các lóng sơ khởi, lá mầm) trong 4
ngày tuổi của ngô được trồng phương pháp thủy canh, có kết luận rằng tác
động tích cực của nồng độ Canxi cao nhất (10 mmol/l) lên sự phát triển trong
sự hiện diện cao nhất của Cadmium và việc duy trì sự tập trung cao của kali ở
rễ. Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2011), bón CaO liều lượng 0,5 tấn/ha cho
hiệu quả cao lên hàm lượng Ca trong gạo (tăng 18,6%), độ cứng cây (tăng
16.7%) và năng suất cao nhất so với các nghiệm thức (0, 1 và 2 tấn/ha). Theo
Phan Phi Hùng (2010), xử lý Ca không làm giảm chiều cao cây nhưng có tác
dụng trong việc gia tăng độ cứng, độ dày và đường kính lóng thân một cách
hiệu quả so với đối chứng trên hai giống lúa Hananomai và Koshihikari.
1.4.2 Vai trò của SiO 2
Silic là một chất khoáng chiếm khoảng 28% bề mặt vỏ trái đất, là một
chất đứng hàng thứ hai trong đất sau Oxi. Khối lượng đất có 50 – 70% SiO2, và
tất cả rễ thực vật trong đất đều có chứa Si trong mô (Yamamoto et al., 2012).
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2010), khoáng sét có trong đất cấu tạo chủ yếu là silic
và nhôm. Trung bình nồng độ của silic có trong dung dịch đất từ 7 – 80 mg/lít
SiO2 tùy theo loại đất. Theo Heckman (2012), Silicon hoặc Si là nguyên tố còn
được sử dụng dưới dạng SiO2, với các hợp chất như: CaSiO3, Mg SiO3, hoặc
K2SiO3….