Nghiên cứu đặc tính nông sinh hoc của một số giống hoa lily nhập nội và ảnh hưởng của phân bón lá đến giống hoa lily concador tại tỉnh lai châu vụ đông xuân năm 2013 2014 - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGÔ VĂN KỲ

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ
GIỐNG HOA LILY NHẬP NỘI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN
BÓN LÁ ĐẾN GIỐNG HOA LILY CONCAD’OR TẠI TỈNH
LAI CHÂU VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2013 - 2014 LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày …. tháng….năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Văn Kỳ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn
nhận được sự quan tâm của, cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giới thiệu chung về cây hoa 4
2.2.1 Nguồn gốc, phân bố lily 4
2.1.2 Phân loại 5
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học 7
2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh 7
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam 8
2.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lily trên thế giới 8
2.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lily ở Việt Nam 20
2.3 Giới thiệu về Lai Châu nơi triển khai đề tài 23
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 23
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
2.3.3 Thực trạng sản xuất hoa lily tại Lai Châu 25
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng phát triển thân lá
giống hoa lily ConcaD’or 61
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ nhiễm một số loại bệnh hại
chủ yếu trên giống hoa lily ConcaD’or. 63
4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng hoa giống hoa lily
ConcaD’or 64
4.2.5 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất hoa lily giống ConcaD’or khi sử
dụng các loại phân bón lá 67
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CT Công thức
ĐK Đường kính
TB Trung bình

4.5 Kích thước và chất lượng hoa của các giồng thí nghiệm 48

4.6 Tỷ lệ nhiễm một số bệnh sinh lý trên các giống nghiên cứu 52

4.7 Tỷ lệ nhiễm một số loại bệnh hại chủ yếu 54

4.8 Hiệu quả kinh tế của các giồng tham gia thí nghiệm 56

4.9 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự tăng trưởng chiều cao cây
giống hoa lily ConcaD’or qua các thời kỳ 59

4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng phát triển thân lá của
giống hoa lily ConcaD’or 61

4.11 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ nhiễm một số loại bệnh hại
chủ yếu 63

4.12 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng hoa giống
ConcaD’or 65

4.13 Hiệu quả đầu tư sản xuất hoa lily giống ConcaD’or sử dụng các
loại phân bón lá 68Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

nhập về trồng ở nước ta, sang đến năm 2011 con số củ giống nhập về đã tăng
hơn gấp đôi (khoảng 37 triệu củ).
Tuy nhiên, hiện tại bộ giống hoa lily thích hợp để trồng tại miền Bắc
nước ta nói chung và tỉnh Lai Châu nói riêng vẫn còn hạn chế (chủ yếu vẫn là
giống hoa lily Sorbonne, giống đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận
chính thức năm 2009, số lượng củ giống Sorbonne chiếm đến 75% tổng số củ
giống hoa lily hiện nay), trong khi nhu cầu của thị trường luôn đòi hỏi cần
những giống hoa lily mới, đẹp, màu sắc hấp dẫn và đa dạng. Ngoài ra, tại một
số vùng sản xuất hoa lily với số lượng lớn như Tây Tựu, Bắc Ninh, Hải
Phòng, Sơn La, người trồng hoa đã tự nhập giống từ nước ngoài về để bổ
sung vào bộ giống cũ, song việc nhập giống tự phát gây ra nhiều bất cập như:
giá thành củ giống cao, nhiều giống nhập về tỏ ra không thích ứng với điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

kiện môi trường nên dẫn đến tình trạng bị động về cung cấp giống, gây thiệt
hại cho người sản xuất.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu
cầu tiêu dùng các loại hoa nói chung và hoa lily nói riêng của tỉnh Lai Châu
tăng lên nhanh chóng. Người dân Lai Châu không chỉ chơi hoa lily trong
những ngày lễ, tết mà còn dùng hoa lily vào những ngày thường, hàng ngày
những người kinh doanh hoa ở Lai Châu phải xuống tận Hà Nội và 1 số tỉnh
khác mua hoa lily về để bán, trong khi ở Lai Châu hoàn toàn có thể sản xuất
được hoa lily. Vì những lý do nêu trên trong những năm qua, một số tổ chức,
cá nhân ở Lai Châu đã tự đầu tư vốn để sản xuất hoa lily. Tuy nhiên, chủng loại
hoa lily sản xuất ở đây còn hạn chế, chủ yếu vẫn là giống Sorbonne chiếm đến
90%. Ngoài ra, những nghiên cứu về hoa lily ở đây chưa có nhiều, các quy
trình chăm sóc còn hạn chế, chưa áp dụng được nhiều các tiến bộ kỹ thuật
trong sản xuất hoa lily, chưa thu thập tuyển chọn được bộ giống mới để thay
thế các giống cũ dẫn đến sản lượng hoa ở đây vẫn còn thấp, chất lượng hoa

kiện vụ đông ở miền Bắc nước ta nói chung và tỉnh Lai Châu nói riêng, đồng
thời đề xuất loại phân bón lá phù hợp góp phần xây dựng quy trình trồng hoa
lily ConcaD’or tại Lai Châu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu chung về cây hoa
2.2.1. Nguồn gốc, phân bố lily
Cây hoa lily phân bố ở rất nhiều nơi trên thế giới và đã được thần hóa
từ rất lâu để trở thành một cây hoa trang trí và thương mại.
Theo Anderson (1986), Daniels (1986), Haw (1986), Shimizu (1973),
hoa lily đã được nghiên cứu và thuần hoá gần 100 năm nay từ các loài hoang
dại phân bố ở hầu hết các châu lục từ 10
0
- 60
0
vĩ bắc, châu á có 50- 60 loài,
Bắc Mỹ có 24 loài và Châu Âu có 12 loài.
John M. Dole [30] cho rằng lily phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới và hàn
đới bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới từ 1200 m như Trung
Quốc, ấn Độ, Indonesia. Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại lily nhất và
cũng là trung tâm nguồn gốc lily trên thế giới.
Ở châu á, Trung Quốc được coi là nước có rất nhiều loài lily và là một
trong những trung tâm khởi nguyên của lily, ở đây chủng loại rất phong phú
và có rất nhiều loài đặc hữu. Trung Quốc có khoảng 47 giống và 18 biến
chủng chiếm khoảng 1/2 giống trên thế giới trong đó có 36 giống và 15 biến
chủng đặc hữu. Nhật Bản có 15 giống trong đó có 9 giống đặc hữu. Hàn Quốc
có 11 giống trong đó có 3 giống đặc hữu. Các nước châu á khác như Mông

Jong, 1974). Hầu hết các loài dại trong mỗi nhóm đều tương đối dễ lai và các
con lai hữu dục (McRae, 1990; Van Tuyl & cs, 2002). Trong đó căn cứ vào
các đặc điểm hình thái, kích thước, màu sắc và kiểu dáng hoa, người ta thấy
có 3 nhóm lily có giá trị kinh tế quan trọng nhất là Archelirion, Sinomartagon,
Leucolirion. Các con lai thuộc các nhóm này, đặc biệt là Asiatic (giống lai
Châu Á), Oriental-hybrids (giống lai Phương Đông) và Longiflorum-hybrids
(giống lai Loa kèn, còn được gọi là Trumpet lilies hoặc Easter lilies) (Beattie
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

và White, 1993) là những giống lai có giá trị kinh tế quan trọng đối với ngành
sản xuất hoa cắt.
1, Giống lai Asiatic (A-genom): có nguồn gốc từ các phép lai khác loài
giữa ít nhất là 12 loài của nhóm Sinomartagon (Leslie, 1982-2005). Khoảng
4000 giống đã được chọn lọc từ những con lai này. Các giống lai Asiatic có
phổ màu rộng (vàng cam, vàng, trắng, hồng, đỏ, màu tía và màu hồng da
cam), ra hoa từ sớm cho đến muộn (Woodcook và Stern, 1950). Một đặc điểm
quan trọng là các loài của nhóm này có khả năng kháng Fusarium và vi rút
(McRae, 1998).
2, Giống lai Oriental (O-genom): là nhóm lily quan trọng nhất hiện nay.
Chúng có nguồn gốc từ việc lai giữa 5 loài của nhóm Archelirion. Trong chọn
tạo giống lily, chúng được sử dụng vào sớm những năm của thập niên 1950.
Khoảng 2.000 giống đã đuợc công nhận từ năm 1990. Nhìn chung, giống lai
Oriental ra hoa muộn, có hoa màu hồng, trắng, hoặc màu vàng với hương
thơm nồng nàn (McRae, 1988). Hầu hết các giống lai Oriental có khả năng
kháng Botrytis elliptica (Barba-Gonzalez & cs, 2005).
3, Giống lai Longiflorum (L-genom): có nguồn gốc từ việc lai cùng loài
hoặc lai khác loài của L.longiflorum Thunb. và L.formosanum Wallace của
nhóm Leucorilion. Khoảng 150 giống đã được chọn lọc từ những con lai
này. Giống Longiflorum có hoa hình loa kèn, màu trắng tinh khiết, hương

chất lượng củ giống, điều kiện và thời gian xử lý lạnh củ giống.
Rễ: là hệ rễ chùm gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc. Rễ thân còn gọi là rễ
trên, do phần thân mọc dưới mặt đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút
nước và dinh dưỡng. Rễ gốc sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh
trưởng khoẻ, chủ yếu hút nước và dinh dưỡng.
Lá: Lily có nhiều lá mọc, mọc cách, phần dưới lá ôm lấy thân, hình
thon dài, phiến lá thẳng, đầu lá hơi nhọn.
Hoa: hoa lily có nhiều màu sắc khác nhau, mùi thơm dễ chịu, hoa mọc
đơn lẻ hoặc cụm gồm nhiều hoa thường có 1- 6 hoa. Hoa lily có 6 nhị, bao
phấn vàng dài, một nhụy chia làm 3 thuỳ, bầu hoa hình trụ.
Quả: quả lily là loại quả nang, hình tròn dài, mỗi quả có vài trăm hạt,
quả có 3 ngăn, hạt dẹt tròn (Đặng Văn Đông, 2004).
2.1.4. Yêu cầu ngoại cảnh
Nhiệt độ: cây lily là cây ưa khí hậu mát mẻ. Nhiệt độ thích hợp ban
ngày từ 20-28
0
C, ban đêm 13-17
0
C, dưới 5
0
C và trên 30
0
C cây sinh trưởng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

kém, hoa dễ bị mù. Giai đoạn đầu nhiệt độ thấp có lợi cho sinh trưởng của rễ
và sự phân hoá hoa.
Ánh sáng: cây hoa lily là cây ưa cường độ ánh sáng trung bình, khoảng
70-80% ánh sáng tự nhiên là tốt nhất, đặc biệt với cây con. Cường độ ánh

Sản xuất củ giống lily trên thế giới tập trung ở 10 nước, trong đó Hà
Lan có diện tích sản xuất lớn nhất với 4.280 ha (77%), theo sau là Pháp
(401ha; 0,8%); Chile (205ha; 0,4%); Mỹ (200ha; 0,4%); Nhật Bản (189ha;
0,3%) và New Zealand (110ha; 0,2%) (Đặng Văn Đông, 2010).
Ở Hà Lan, thương mại củ giống hoa bắt đầu có từ thế kỷ XVI và tiếp tục
phát triển cho đến ngày nay. Hà Lan là nước sản xuất củ giống hoa lily quan
trọng nhất trên thế giới. Diện tích sản xuất củ lily đã tăng một cách nhanh chóng
từ 3500ha năm 1995 lên 4500ha năm 2000 (Đặng Văn Đông, 2010).
Ngày nay, củ giống lily được sản xuất ở nhiều nước khác ngoài Hà
Lan. Sản xuất củ lily ở các nước như: Pháp, Nhật, Mỹ, Chile, Australia và
New Zealand cũng có những đóng góp đáng kể (Đặng Văn Đông, 2010).
Thương mại quốc tế hoa cắt tập trung ở các thị trường EU, Nhật Bản và
Mỹ với giá trị bán lẻ tương ứng lần lượt là 955; 6.500 và 3.800 triệu euro. Hà
Lan, Kenya, Israel, Columbia và Ecuador là những nước xuất khẩu hoa cắt
lớn. Đức cũng là nước nhập khẩu hoa cắt lớn nhất thế giới. Các nước sản xuất
mới như: Guatemala, Chile, Uganda, Tanzania, Ấn Độ và Việt Nam cũng
đang là những thị trường mới nổi lên (Đặng Văn Đông, 2010).
Ở Hà Lan, lily xếp vị trí thứ 4 trong số 10 cây hoa cắt quan trọng, chỉ
xếp sau hoa hồng, cúc và tulip. Doanh thu bán lẻ của hoa lily năm 2005 chiếm
7% (164 triệu euro) trong tổng số doanh thu bán lẻ của các loại hoa. Doanh
thu này tăng 3,7% so với năm 2004 (Đặng Văn Đông, 2010).
Ở Italia, lily là một trong những cây hoa cắt có giá trị kinh tế quan
trọng nhất, chiếm diện tích khoảng 280-300ha, với tổng giá trị sản xuất là 71
triệu đô la/năm. Lượng củ giống, ước chừng khoảng 152 triệu/năm, sử dụng
cho sản xuất hoa cắt chủ yếu nhập khẩu từ Hà Lan.
Do nhu cầu tiêu dùng hoa lily trên thế giới ngày càng tăng nên hoa lily
ngày càng trở nên phổ biến hơn. Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều nước khác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10


kiện tốt nhất cho hoa lily, cũng là nơi cung cấp 1 lượng lớn hoa lily cho nước Mỹ.
Trung Quốc là nước trồng lily lâu đời song trước đây chủ yếu là trồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

lily làm thuốc và làm thực phẩm. Hoa lily Lan châu rất nổi tiếng; ở Cam Túc
có diện tích trồng lớn, sau đó là lily dại được trồng nhiều ở Hồ Bắc, Hồ Nam.
Lily làm cảnh có các dòng lily thơm, lily Hồ Bắc, sơn đan, lily làm thuốc…
chủ yếu trồng trong vườn gia đình. Hiện nay, sản xuất hoa lily cắt cành đang
được phát triển mạnh tuy nhiên trình độ và kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu hơn
Hà Lan, Nhật Bản và nhiều nước tiên tiến khác.
Vân Nam được mệnh danh là vương quốc hoa của Trung Quốc hiện
nay về diện tích và sản lượng cành cắt đứng đầu cả nước. Đây cũng là nơi có
rất nhiều hoa lily hoang dại. Vì có ưu thế đặc biệt về thiên nhiên nên nhiều
nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đầu tư vào đây để trồng hoa. Hiện nay diện
tích hoa ly cắt cành ở đây là 9000 mẫu (450 ha), sản lượng là 2201 triệu cành.
Diện tích trồng củ giống là 1800 mẫu (120 ha), sản lượng 2 tỷ 600 triệu củ.
Hoa lily ở đây đã được xuất khẩu sang Nhật và Đông Nam á.
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan cũng rất tiên tiến.
Năm 2001 nước này đã có 490 ha trồng hoa lily, trong đó xuất khẩu hoa lily
cắt cành đạt 7,4 triệu USD.
2.2.1.2. Tình hình nghiên cứu phát triển hoa lily trên thế giới
Để đáp ứng lại nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, hiện nay trên thế giới
việc nghiên cứu phát triển hoa lily đang diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ, đứng
đầu trong công tác nghiên cứu lai tạo giống và nghiên cứu các kỹ thuật trồng
trọt là Hà Lan, các nước khác như là Pháp, Chi Lê, Niu Di Lân… cũng là
nhưng nơi trồng và sản xuất giống lily rất lớn và hiện đại. Các nước Châu Á
như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc với điều kiện sinh thái thích hợp cho
hoa lily sinh trưởng chính vì vậy việc nghiên cứu phát triển hoa lily ở các nước
này cũng phát triển rất nhanh.

Hoa lily thuộc vào nhóm cây mẫn cảm với muối vì thế nồng độ muối
trong đất cao nó hạn chế quá trình hút nước qua rễ, do đó nó làm ảnh hưởng
đến độ dài sinh trưởng các bộ phận của cây.
Nồng độ muối của đất ảnh hưởng bởi 3 nhân tố sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

- Nồng độ muối trong phân bón.
- Nồng độ muối của nước tưới.
- Nồng độ dinh dưỡng của vụ trước.
Phải lấy 1 mẫu đất trước khi trồng ít nhất là 6 tuần, để có thông tin về
pH của đất, tổng lượng muối và nồng độ Clo, số lượng dinh dưỡng có trong
đất. Tổng lượng muối không quá 1ms. nồng độ Clo không quá 50mg/l.Nếu
nồng độ muối hoặc Clo cao hơn, thì đất nên ngập nước với một lượng nước
phù hợp. Chúng ta phải chắc chắn một điều đất phải được làm ngập hoàn toàn
trước khi trồng, điều này làm ngăn ngừa (tránh) được sự hư hại tới cấu trúc
của đất.
Khi sử dụng các loại phân mới đảm bảo nồng độ muối không được quá
cao và không được sử dụng lớn số lượng phân nhân tạo cùng một lúc.
Về nước tưới, theo Zaboplant nồng độ muối (EC) của nước tưới bao
gồm tổng nồng độ muối của đất và vì thế nên phải thấp: 0.5ms/cm hoặc thấp
hơn. Với một lượng EC xấp xỉ 0.1, lượng nước mưa tương ứng với nồng độ
EC trên (0.1). Nồng độ muối của các loại nước sông, hồ (nước trên bề mặt)
khi là nguồn sử dụng chung hoặc trong suốt những tháng mùa hè có thể tăng
lên nhiều. Nồng độ Clo cho phép của nước tưới không được vượt quá 50mg.
Như vậy việc kiểm tra thường xuyên nồng độ muối và Clo trong nước
tưới là việc rất quan trọng. Nếu hàm lượng các chất này quá nhiều trong nước
tưới và trong đất trồng thì nên giữ cho đất luôn ẩm để ngăn ngừa sự tập trung
nồng độ quá cao của muối.
Ở Hà Lan công nghệ sản xuất hoa lily rất hiện đại chính vì thế hệ thống

làm ngập nước trong đất đối với thời gian cây hoa sing trưởng, điều này ảnh
hưởng xấu đến cấu trúc của cây hoa.
Về nhiệt độ, đối với hoa lily một bộ rễ khoẻ là một trong những điều
quan trọng nhất để đạt được một sản phẩm chất lượng cao. Nhiệt độ thích hợp
nhất của hoa lily trong thời gian đầu sẽ dao động trong khoảng 12-13
0
C cho 1/3
chu kỳ sinh trưởng của cây hoặc ít nhất là cho đến khi các bộ phận rễ đã trưởng
thành. Nếu nhiệt độ thấp hơn trong thời gian đầu thì nó sẽ kéo dài thời gian
sinh trưởng không cần thiết và nếu như nhiệt độ cao hơn 15
0
C thì sẽ làm cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

chất lượng sản phẩm kém hơn.
Sự mát mẻ của đất là điều rất cần thiết trong những tháng thời tiết nóng
hơn. Sự mát mẻ này sẽ giảm dần rất đều đặn sau khi 1/3 chu kỳ sinh trưởng
thì kết thúc.
Trong suốt thời kỳ nhiệt độ cao, thì nhiệt độ đất có thể được giữ ở một
mức thấp đầy đủ bởi vì sự mát mẻ của đất. Sự mát mẻ của đất có thể được sử
dụng từ lúc trồng cho đến khi hình thành các bộ phận rễ. Hệ thống làm mát
này bao gồm 4 ống dẫn dẻo cho mỗi ống dẫn nó được đặt ở một chiều sâu xấp
xỉ 45cm. Nhiệt độ đất được điều chỉnh và duy trì một nhiệt độ thích hợp bằng
sự sử dụng nước đã được làm mát hoặc nước. Điều này đem lại kết quả tốt
hơn và sự sinh trưởng đồng đều hơn, cây trồng phát triển dài hơn và cứng cáp
hơn với nhiều nụ hơn.
Đối với cây lai Asiatic, để đạt được chất lượng tốt nhất, hàng ngày
phải duy trì nhiệt độ 14-15
0

C sẽ gây rụng nụ và làm cho lá vàng.
Cây lai Longiflorum, nhiệt độ thấp nhất trong nhà kính đối với hoa lily
sau thời kỳ ra rễ là từ 14-16
0
C. Mặt trời có thể làm tăng nhiệt độ đối với hoa
lily từ 20-22
0
Cchấp nhận được.
Dưới điều kiện ánh sáng, thì nhiệt độ trong nhà kính có thể giảm 1-

Trích đoạn Ảnh hưởng của phõn bún lỏ đến sinh trưởng phỏt triển, chất lượng Ảnh hưởng của phõn bún lỏ đến tăng trưởng chiều cao cõy qua cỏc thời kỳ của giống hoa lily ConcaD’or Ảnh hưởng của phõn bún lỏ đến sinh trưởng phỏt triển thõn lỏ giống hoa lily ConcaD’or Ảnh hưởng của phõn bún lỏ đến tỷ lệ nhiễm một số loại bệnh hại chủ yếu trờn giống hoa lily ConcaD’or. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status