TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
MAI THÀNH LỘC
KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN
HỆ TIÊU HÓA CỦA GÀ TẠI
QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y
Cần Thơ, 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN
HỆ TIÊU HÓA CỦA GÀ TẠI
QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y
Giáo viên hƣớng dẫn
Sinh viên thực hiện
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài đƣợc thực hiện nghiêm túc có sự cho phép và đồng ý
của Trƣờng Đại học Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp và SHƢD, Bộ môn Thú Y.
Tác giả luận văn
Mai Thành Lộc
iv
LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành gửi lời cám ơn đến quý Thầy, Cô Trƣờng Đại học Cần Thơ và
bộ môn Thú y đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt
thời gian học tập tại trƣờng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Trần Ngọc Bích đã tận tâm
hƣớng dẫn, chỉ bảo tôi và tập thể lớp Thú y LT K37 trong suốt quá trình học
và trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin ghi nhớ và gửi lời cám ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Phúc Khánh
đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại phòng thí
nghiệm và thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cô, chú và cùng những bạn sinh viên ở trại
gà thực nghiệm Ba Hoàng đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình lấy mẫu cũng nhƣ thực hiện tại phòng thí nghiệm.
Gửi lời cám ơn đến tập thể lớp Thú y LT K37 đã ủng hộ, động viên tôi trong
suốt quá trình học tập tại Đại học Cần Thơ.
Gửi lời cảm ơn đến tất cả những ngƣời thân đã ủng hộ tôi trong quá trình học
2.2.8. Túi mật và ống mật .................................................................................... 6
2.3 Bệnh tích trên hệ tiêu hóa................................................................................... 6
2.3.1 Thực quản.................................................................................................... 6
2.3.2 Dạ dày ......................................................................................................... 7
2.3.3 Ruột ............................................................................................................. 8
2.3.4 Gan .............................................................................................................. 9
2.4 Một số bệnh thƣờng gặp ở gà ........................................................................... 10
2.4.1 Bệnh cúm gia cầm (Anvian influenza )..................................................... 10
2.4.2 Bệnh Newcastle ( Avian pseudopestis ) .................................................... 12
2.4.3 Bệnh Gumboro (Gumboro disease, Infectious bursal disease) ................. 14
2.4.4 Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis avium) .............................................. 16
2.4.5 Bệnh thƣơng hàn (Typhus avium - Avian salmonellosis)......................... 18
2.4.6 Bệnh E.coli ( Colibacillosis avium) .......................................................... 20
vi
2.4.7 Bệnh cầu trùng gà (Coccidiosis) ............................................................... 23
2.4.8 Bệnh đầu đen gà (Blackhead) ................................................................... 24
2.4.9 Bệnh giun đũa gà ....................................................................................... 26
2.4.10 Bệnh sán dây ........................................................................................... 27
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 30
3.1. Phƣơng tiện nghiên cứu .................................................................................. 30
3.1.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................... 30
3.1.2. Thời gian và địa điểm ............................................................................. 30
3.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................. 30
3.1.4. Dụng cụ ................................................................................................... 30
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 30
3.2.1. Phƣơng pháp mổ khám ............................................................................ 30
CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 33
4.1 Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh, công tác thú y trƣớc khi tiến hành mổ
4.1
Quy trình tiêm phòng
34
4.2
Tình hình bệnh tích xuất hiện trên hệ tiêu hóa theo giới tính
35
4.3
Tình hình bệnh tích xuất hiện trên hệ tiêu hóa ở gà sống và gà chết
35
4.4
Tình hình bệnh tích xuất hiện các cơ quan trên hệ tiêu hóa
36
4.5
Tần số xuất hiện các bệnh tích trên hệ tiêu hóa
38
Dạ dày xuất huyết
7
2.3
Ruột xuất huyết
8
2.4
Ruột bị viêm
9
2.5
Gan hoai tử
10
3.1
Phƣơng pháp mổ khám và dụng cụ mổ khám
32
4.1
Hậu môn xuất huyết
40
4.7
Gan nhạt màu
41
4.8
Gan bình thƣờng
41
4.9
Gan nhiễm sắc tố mật
42
4.10
Gà có triệu chứng thần kinh
44
4.11
CRD: Bệnh hô hấp mạn tính ở gia cầm
SL:Số lƣợng (con)
TL:Tỷ lệ (%)
x
TÓM LƢỢC
Đề tài “Khảo sát bệnh tích đại thể trên hệ tiêu hóa của gà tại quận Bình
Thủy Thành phố Cần Thơ” đƣợc thực hiện nhằm xác định tỷ lệ những bệnh
tích xuất hiện trên đàn gà nghi mắc bệnh với các triệu chứng nhƣ ủ rũ, bỏ ăn,
xù lông, xã cánh, phân lỏng. Đồng thời, xác định tình hình dịch bệnh trên
đƣờng tiêu hóa ở đàn gà đƣợc nuôi tại trại thực nghiệm Ba Hoàng bằng
phƣơng pháp mổ khám và chẩn đoán dựa trên những triệu chứng và bệnh tích
đƣợc công bố trƣớc đó.
Qua mổ khảo sát 88 con gà nghi mắc bệnh ở các nhóm tuổi (nhỏ hơn 1
tháng tuổi, từ 1 đến 2 tháng tuổi và lớn hơn 2 tháng tuổi) giới tính và trạng thái
sống chết khác nhau, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
Tỷ lệ gà trống có bệnh tích trên hệ tiêu hóa cao hơn ở gà mái (55,68% so
với 39,77%).
Tỷ lệ gà chết và gà sống thể hiện bệnh tích trên hệ tiêu hóa hầu nhƣ
tƣơng đƣơng nhau (45,45% và 48,86%).
Gà ở mọi lứa tuổi nghi nhiễm bệnh sau mổ khám thể hiện bệnh tích ở
hầu hết các cơ quan của hệ tiêu hóa. Trong đó tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở ruột,
dạ dày, gan là rất cao với tỷ lệ lần lƣợt là 81,82%, 43,18% và 34,09%.
Gà ở các nhóm tuổi khác nhau, tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở các cơ quan
cũng khác nhau. Gà lớn hơn 2 tháng tuổi tỷ lệ bệnh tích xuất hiện cao hơn so
với 2 nhóm kia. Gà nhỏ hơn 1 tháng tuổi tỷ lệ bệnh tích xuất hiện thấp, ngoại
trừ bệnh tích ở dạ dày và gan. Gà từ 1 đến 2 tháng tuổi tỷ lệ bệnh tích xuất
hiện ở ruột là cao nhất.
hại do bệnh gây ra. Có rất nhiều phƣơng pháp để chẩn đoán bệnh nhƣ phƣơng
pháp lâm sàng, phƣơng pháp mổ khám, phƣơng pháp cận lâm sàng (ELISA,
RT-PCR, nuôi cấy phân lập xác định mầm bệnh,…). Mỗi phƣơng pháp đều có
ƣu và nhƣợc điểm riêng. Trong đó, phƣơng pháp mổ khám xác định bệnh tích
kết hợp với phƣơng pháp chẩn đoán triệu chứng lâm sàng mang lại hiệu quả
tƣơng đối cao, không cần nhiều trang thiết bị hiện đại, ít tốn chi phí, dễ thực
hiện,… Tuy nhiên, thực tế khi gia cầm mắc bệnh thể hiện nhiều dạng bệnh tích
khác nhau với tần xuất xuất hiện khác nhau ở từng cơ quan. Vì vậy, giả thiết
đặt ra ở đây là bệnh tích nào phổ biến nhất, điển hình nhất trong chẩn đoán gà
mắc bệnh. Từ giả thuyết trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát
bệnh tích đại thể trên hệ tiêu hóa của gà tại quận Bình Thủy Thành phố
Cần Thơ”.
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà tại quận Bình Thủy Thành
Phố Cần Thơ.
- Xác định những bệnh tích xuất hiện trên đàn gà nghi bệnh ở các nhóm
tuổi khác nhau.
Từ đó có những nhận định về tình hình dịch bệnh trên đàn gà để có
hƣớng giải quyết và biện pháp khắc phục.
1
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.1.1 Nghiên cứu trong nƣớc
Theo nghiên cứu của Lê Văn Năm, 1996 về bệnh Gumboro ở thể không
có biểu hiện lâm sàng (thể ẩn), bệnh tích có thể quan sát đƣợc là teo tuyến ức
và Fabricius.
Năm 2003, nghiên cứu về bệnh Escherichia Coli trên gà cho rằng gà
Beaudette và Black, (1946) mô tả bệnh Newcastle là bệnh cấp tính xảy ra
với bệnh tích xuất hiện ở đƣờng hô hấp và thần kinh, xảy ra chủ yếu ở gà con,
ở gà lớn có tỷ lệ chết thấp, do chủng mesogenic gây ra.
Năm 1948, Hitchner và Johnson mô tả bệnh Newcastle xảy ra ở thể nhẹ
với triệu chứng hô hấp, có tỷ lệ chết thấp. Bệnh do chủng lentogenic gây ra.
2
Gà bị bệnh tụ huyết trùng thể hiện những bệnh tích đặc thù sau: tích gà bị
sƣng (Shane, 2005), chảy nhiều nƣớc nhớt ở miệng, hoại tử hình đinh ghim
trên bề mặt gan, viêm và xuất huyết ở phổi (Barnes và ctv, 2003).
Gà bị bệnh Escherichia Coli thể hiện viêm mắt, lòng đỏ không tiêu ở gia
cầm con, khối bã đậu không đặc trong xoang bụng (Barnes và ctv, 2003).
Gà bệnh thƣơng hàn khi mổ khảo sát phát hiện viêm khớp đầu gối, gan
hoại tử, buồng trứng dị dạng (Barnes và ctv, 2013).
2.2 SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA
2.2.1 Miệng
Gia cầm lấy thức ăn vào xoang miệng thông qua mỏ. Trong xoang
miệng, nhờ sự di động của lƣỡi thức ăn đƣợc đƣa nhanh xuống hầu. Tuyến
miệng tiết rất ít nƣớc bọt, chủ yếu là dịch nhầy và chúng có tác dụng thấm ƣớt
làm trơn thức ăn khi nuốt. Một gà mái khi đói có thể tiết ra 7-25ml nƣớc bọt
(bình quân khoảng 12ml).
2.2.2 Thực quản
Thực quản của gia cầm rộng, có độ co giãn rất tốt. Do đó dễ nuốt thức ăn
dạng hạt (Lã Thị Thu Minh, 2000).
2.2.3 Diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa đƣợc 100-120g thức ăn. Giữa các cơ
thắt lại có ống diều để gà khi đói thức ăn vào thẳng phần dƣới thực quản mà
không phải qua túi diều. Ở diều thức ăn đƣợc làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa
từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn
điều kiện sẽ xuất hiện khi dùng thức ăn khiêu gợi hoặc khi để cho thấy con
khác mổ thức ăn. Mức độ chế tiết của các tuyến dạ dày phụ thuộc vào loài,
tuổi trạng thái sinh lý của gia cầm, số lƣợng và chất lƣợng thức ăn thu nhận
đƣợc.
Hệ thần kinh trung ƣơng cũng ảnh hƣởng đến động thái của chế tiết dịch
dạ dày ở gia cầm. Thức ăn không đƣợc giữ lại lâu trong dạ dày tuyến. Ở đây
nó chỉ đƣợc dịch làm ƣớt đi và chuyển vào dạ dày cơ. Bƣớc chuyển của thức
ăn chứa trong dạ dày tuyến sang dạ dày cơ xảy ra nhờ nhịp điệu co bóp điều
hòa của dạ dày cơ (co bóp đều đều), ở gà thƣờng là nhịp điệu co bóp không
quá 1 lần trong 1 phút.
Dạ dày cơ là một túi lớn có thành dày, mặt trong có lớp sừng cứng màu
vàng và nhiều nếp nhăn để nghiền thức ăn. Dạ dày cơ nằm giữa và sau thùy
gan (Lê Hồng Mận và Bùi Lan Hƣơng Minh, 1989).
Thức ăn trong dạ dày đƣợc dịch thấm vào và nhờ sự co bóp của dạ dày
trở thành dịch nhão để chuyển đến ruột (Trịnh Quang Khê và Nguyễn Văn
Vinh, 2007).
Dịch dạ dày thừa chảy tự nhiên vào dạ dày cơ. Dạ dày cơ có dạng hình
đĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh. Nó nằm phía sau thùy trái gan và chuyển nhiều
hơn về nửa trái khoang bụng. Ở những loại gia cầm ăn hạt (gà, gà tây, gà phi),
dạ dày cơ lớn hơn một cách đáng kể so với loại gia cầm biết bơi dƣới nƣớc.
Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ, đƣợc nối liền và nằm ở phần trên của dạ dày,
nhờ vậy, khối lƣợng thức ăn có thể có điều kiện để giữ lại tạm thời trong
khoang của dạ dày. Chính nơi đây xảy ra quá trình nghiền nát thức ăn bằng cơ
học, sự trộn lẫn và tiêu hóa nó dƣới tác dụng của men dịch dạ dày, cũng nhƣ
enzim thức ăn và vi khuẩn. Dịch tiêu hóa không đƣợc tiết ra ở dạ dày cơ.
Chức năng cơ học khá rõ của dạ dày quy định sự đặc hiệu về cấu tạo của
nó. Màng nhầy dạ dày cơ dày và cấu tạo từ hai lớp: biểu bì cùng với lớp màng
chất sừng và một lớp nhầy đặc chắc từ mô liên kết chặt. Trong việc tạo thành
vỏ chất sừng cứng có các tuyến của màng nhầy, biểu bì của những chỗ trũng ở
dạ dày và biểu bì vỏ tham gia. Các tuyến hình ống không tạo thành nhánh của
Ruột là ống tiêu hóa thức ăn, đƣợc chia làm 2 phần:
Ruột non tiêu hóa thức ăn nhờ men dịch ruột tiết ra. Manh tràng chia 2 nhánh
cuối ruột non, là nơi hấp thụ nƣớc và tiêu hóa chất xơ.
Ruột già hấp thụ chất dinh dƣỡng còn lại và loại thả chất cặn bã cùng nƣớc
tiểu ra ngoài (Trịnh Quang Khê và Nguyễn Văn Vinh, 2007).
Thức ăn đƣợc nghiền nát sẽ đi vào ruột non nhƣ vậy phần đầu của ruột
non tiếp xúc với dạy dày cơ, phần cuối của ruột non tiếp xúc với ruột già,
manh tràng. Màng nhày trong ruột non có nhiều nếp ngang dọc có tác dụng
kéo dài thời gian thức ăn đi qua ruột và tăng diện tích hấp thụ. Sự hấp thụ các
chất dinh dƣỡng chủ yếu tiến hành thông qua nhung mao ruột non. Ruột già
của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ
vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Toàn bộ vách ruột đều có phân bố tuyến
ruột nhƣng ở gà và gà tây không có tuyến tá tràng. Ruột ở gia cầm tƣơng đối
ngắn. Thời gian thức ăn dừng lại trong ống tiêu hóa không quá một ngày đêm.
Qúa trình tiến hóa trong ruột gia cầm tiến hành rất mạnh. Tuyến tụy của gia
cầm rất lớn. Trong ruột của gia cầm có quá trình hoạt động của vi khuẩn bao
gồm quá trình thối rữa của protit và sự lên men đƣờng. Sự phân giải vi sinh
vật đối với xơ đƣợc thực hiện chủ yếu của manh tràng. Manh tràng của gia
cầm tiêu thụ nhiều xơ thô rất phát triển. Thí nghiệm cho thấy, khi dùng thức ăn
thực vật đơn thuần cho gia cầm ăn thì manh tràng của nó lớn hơn nhiều so với
cho ăn thức ăn động vật.
5
Manh tràng có thể hấp thụ nhiều nƣớc, muối và các chất chứa nitơ. Sự
vận động của ruột gia cầm chủ yếu là nhu động thƣờng và nhu động ngƣợc,
nhu động ngƣợc của nó tƣơng đối mạnh nên vật chứa trong ruột rất dễ trở về
dạ dày cơ.
Đầu cuối trực tràng đổ vào xoang tiết niệu sinh dục. Xoang tiết niệu sinh
của gan dẫn lƣu dịch mật từ thùy trái nằm dấu bên trong đến ống dẫn mật. Ống
dẫn mật đi dọc vào theo tá tràng cùng ống dẫn của tụy. Dịch mật đƣợc đƣa vào
tá tràng bởi sự co bóp mạnh của túi mật (Nguyễn Khắc Thị, 2005).
2.3 Bệnh tích trên hệ tiêu hóa
2.3.1 Thực quản
Thực quản xuất huyết: Xuất huyết là sự thoát ra khỏi mạch máu tất cả
các thành phần của máu. Khi máu chảy vào mô bào, tùy mức độ nặng nhẹ và
6
trạng thái thể hiện bề mặt da, niêm mạc hay cơ quan mà có mấy loại sau: Xuất
huyết điểm hay lấm tấm, ban xuất huyết, bầm huyết, bọc huyết.
Thực quản sung huyết: Thực quản sung huyết là sự tăng lƣợng máu trên
bề mặt thực quản. Có 2 loại sung huyết: Sung huyết động mạch và sung huyết
tĩnh mạch.
- Sung huyết động mạch là sự tăng lƣợng máu ở bên phần động mạch
của hệ thống huyết quản, thƣờng do viêm gây nên ở trong mô hay các cơ
quan. Tất cả các sung huyết động mạch đều ở dạng cấp tính, là cách để có thể
cung cấp thêm các chất dinh dƣỡng và dƣỡng khí cho mô bào khi cần có độ
biến dƣỡng cao. Sự cung cấp thêm dƣỡng khí và các chất dinh dƣỡng rồi lấy đi
các chất cặn bã đều có lợi cho cơ thể.
- Sung huyết tĩnh mạch là sự tăng lƣợng máu trong phần tĩnh mạch gây
ra bởi sự cản trở lƣu thông huyết từ một cơ quan hay một vùng.
Hình 2.1 Thực quản sung huyết
2.3.2 Dạ dày
Dạ dày xuất huyết: Dạ dày xuất huyết thì phải có hồng cầu nằm ngoài
mạch máu và những hồng cầu này phải chiếm một khoảng mô. Nếu xuất mới
xảy ra các hồng cầu còn nguyên vẹn và bắt màu rất rõ. Nếu xuất huyết đã lâu
thì hình dạng các hồng cầu không rõ ràng, có thể có các đại thực bào ăn các tế
Chảy máu trong: Khi máu chảy vào các mô hay chứa trong các xoang cơ
thể.
Khi máu chảy vào các mô, tùy mức độ nặng nhẹ và trạng thái thể hiện bề
mặt niêm mạc có mấy loại sau:
- Xuất huyết điểm hay lấm tấm xuất huyết: là vùng chảy máu nhỏ gọn,
lấm tấm nhƣ nốt muỗi đốt trong tổ chức hay dƣới da, dƣới niêm mạc.
- Ban xuất huyết, sần máu: là các điểm chảy máu tập chung thành đám
hoặc màng nhỏ, nông dƣới da
- Bầm huyết hay mảng máu: là những đám chảy máu dƣới da dƣới, niêm
mạc hay màng bọc cơ quan, lan sâu vào tổ chức, không có giới hạn và không
lồi lên mặt cơ quan
- Bọc huyết-u máu: là khi máu chảy ra tụ lại và tạo thành bọc, ổ gọn, có
ranh giới rõ với mô xung quanh, có khi lồi lên mặt da hoặc niêm mạc nhƣ một
bọng nƣớc.
(Đỗ Trung Giã, 2011)
Hình 2.3 Ruột xuất huyết
8
Ruột sung huyết: Các tĩnh mạch trên ruột có màu đỏ xanh hay xanh tím.
Vì chứa một lƣợng máu lớn thiếu dƣỡng khí. Các tĩnh mạch nhất là tĩnh mạch
lớn căng đầy máu. Các cơ quan nặng và lớn hơn bình thƣờng, khi cắt máu
chảy ra dễ dàng.
Ruột viêm: Viêm là hiện tƣợng chung nhất bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau, phụ thuộc vào nhau và nối tiếp theo một thứ tự ổn định. Tuy nhiên, tùy
theo bản chất của yếu tố gây bệnh, tùy theo loại mô, tùy trạng thái miễn dịch
của cơ thể mà một trong các giai đoạn có thể tạo bệnh tích đại thể nổi bật
trong thời gian có viêm. Chính từ điều này đã tạo ra rất nhiều phản ứng viêm
với hình thái và bệnh tích đại thể khác nhau. Nguyên nhân gây viêm do mô
vùng xơ không để lại vết lõm, vùng xơ khó cắt và rít dao, trên mặt cắt thấy có
các sợi liên kết màu trắng chạy dọc không theo thứ tự.
Gan có đốm trắng
Gan có màu đỏ sậm hoặc màu vàng, trên gan có những đốm trắng cơ
màu trắng đục hoặc trắng ngà, dai chắc nằm rải rác khắp gan. Trung tâm có
màu trắng đậm và nhạt dần ngoài rìa tạo cho bề mặt gan lốm đốm.
Gan vàng
Gan có màu vàng từng vùng hay toàn bộ gan. Khi sờ thấy thể chất gan
gần nhƣ bình thƣờng. Cắt thấy bở, nhu mô gan cũng có màu vàng.
Gan hoại tử
Vùng gan hoại tử đồng nhất, đục, màu trắng, gan cứng, bề mặt gan nhám.
Hình 2.5 Gan hoại tử
2.4 MỘT SỐ BỆNH THƢỜNG GẶP Ở GÀ
2.4.1 Bệnh cúm gia cầm (Anvian influenza )
2.4.1.1 Nguyên nhân gây bệnh
Do virus cúm thuộc type A thuộc họ Orthomyxovidae có kích thƣớc trung
bình 80-120 nm, vỏ bọc bên ngoài là glycoprotein.
Virus này gây bệnh cho nhiều loại gia cầm, có khi trên động vật (hải cẩu,
chó...), cũng có thể gây bệnh cho ngƣời.
Virus có sức đề kháng yếu do virus có vỏ lipid nên mẫn cảm với thuốc
sát trùng.
Virus phát triển tốt ở phôi gà. Tiêm vào xoang niệu mô sẽ gây chết phôi
nhanh (khoảng nửa ngày).
2.4.1.2 Loài vật mắc bệnh
Gà, gà tây và vịt là mẫn cảm nhất, ngan, ngỗng, cút, chim công, trĩ, các
loài gia cầm khác và chim hoang dã ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm virus.
Ngƣời, heo, ngựa, … cũng có thể bị nhiễm bệnh.
10
huyết ở da chân, có triệu chứng thần kinh.
Chẩn đoán phân biệt với bệnh Newcastle, dịch tả vịt.
Chẩn đoán huyết thanh học tiêm qua trứng gây chết nhanh. Chẩn đoán
bằng phản ứng Haemaglutination inhibition (HI) , Enzyme - Linked Immuno
Sorbent Assay (ELISA), Real time Polymerase Chain Reaction (RT-PCR).
2.4.1.7 Phòng bệnh
Phƣơng pháp phòng bệnh chủ yếu là các biện pháp an toàn sinh học,
ngăn ngừa sự xâm nhập của virus từ bên ngoài.
Vệ sinh phòng bệnh
Chọn mua gia cầm ở cơ sở giống tốt, bảo đảm không có bệnh.
Ngăn ngừa gia cầm tiếp xúc với chim hoang và các chất tiết của chúng.
11
Phải có hố sát trùng trƣớc khu vực chăn nuôi, hạn chế ngƣời ra vào khu
vực chăn nuôi, ngăn không cho gia cầm tiếp xúc với các động vật khác.
Sau mỗi đợt chăn nuôi phải thu dọn phân, rửa các dụng cụ chăn nuôi, rắc
vôi bột hoặc quét nƣớc vôi xung quanh, bên trong chuồng nuôi, nền chuồng và
sân chơi. Để trống chuồng nuôi từ 10-15 ngày trƣớc khi nhập đàn gia cầm
mới.
Phòng bằng vaccine
Hiện nay trên thị trƣờng thế giới đã có các loại vaccine vô hoạt đƣợc sản
xuất từ các chủng virus cúm A subtype H5 và H7. Tuy nhiên, việc sử dụng
vaccine phòng bệnh tùy thuộc vào tình hình từng nƣớc.
Ở nƣớc ta gần đây, chúng ta đã sử dụng vaccine để tiêm phòng cho đàn
gà khỏe với subtype H5 đƣợc sản xuất bởi công ty Weike, Trung Quốc.
Đối với gà: sử dụng vaccine từ subtype H5N2.
Gà 2-5 tuần tuổi: tiêm dƣới da cổ, liều 0,3ml/con.
Gà 5 tuần tuổi trở lên: tiêm cơ ức, liều 0,5ml/con.
Sau khi tiêm khoảng 14 ngày gà có miễn dịch, thời gian miễn dịch
thần kinh nhƣ đầu nghẹo, cổ cong, quay vòng tròn.
Đối với gà đẻ thì sức đẻ giảm, trứng non nhiều.
Tỷ lệ chết có thể rất cao 40-80 %.
(Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lƣu, 2001)
2.4.2.5 Bệnh tích
Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết, lấm tấm màu đỏ tròn bằng đầu đinh
ghim, điểm xuất huyết tƣơng ứng với các lỗ đổ ra của tuyến tiêu hóa, các điểm
xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt. Dạ dày cơ xuất huyết và thâm
nhiễm dịch xuất kiểu gelatin. Ruột non xuất huyết, viêm, trong trƣờng hợp
bệnh kéo dài,có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo. Trƣờng
hợp nặng, nốt loét có thể lan xuống ruột già, hậu môn. Hạch mang tràng viêm,
xuất huyết, hoại tử. Gan có một số đám thoái hóa mỡ nhẹ, màu vàng. Lách có
những nốt hoại tử màu vàng xám. Thận phù nhẹ, có màu nâu xám. Dịch hoàn,
buồng trứng xuất huyết thành từng vệt, từng đám. Trứng non vỡ trong xoang
bụng. Bao tim, mỡ vành tim xuất huyết, xoang ngực, bề mặt xƣơng ức xuất
huyết (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012).
2.4.2.6 Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào các đặc điểm về dịch tể, triệu chứng, bệnh
tích cụ thể nhƣ bệnh Newcaslte xảy ra mọi giống, mọi lứa tuổi gà, mọi hình
thức chăn nuôi, tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết cao. Triệu chứng là tiêu chảy phân
trắng xanh, thức ăn không tiêu. Bệnh tích xuất huyết và viêm loét đƣờng tiêu
hóa, xuất huyết ở nhiều cơ quan phủ tạng.
Chẩn đoán phân biệt với bệnh thƣơng hàn, bệnh tụ huyết trùng.
Chẩn đoán virus học: Gây bệnh thí nghiệm cho gà con: tiêm 0,5 ml
huyễn dịch bệnh phẩm cho gà con. Sau 7-8 ngày gà chết. Khảo sát triệu
chứng, sau đó mổ khám và ghi nhận bệnh tích.
2.4.2.7 Phòng bệnh
Vệ sinh phòng bệnh
Ở những vùng chƣa xảy ra dịch: Áp dụng nghiêm ngặt qui trình vệ sinh
phòng bệnh nhƣ hạn chế ngƣời đi lại tham quan, trƣớc khi ra vào trại phải tắm
2.4.3.2 Loài mắc bệnh
Gà đƣợc coi là ký chủ tự nhiên của virus Gumboro. Ngoài ra virus này
cũng đƣợc phân lập từ chim trĩ, gà gô, chim cánh cụt, cút, gà sao, gà lôi, đà
điểu. Tuy nhiên trên các loài vật này không có những biến đổi bệnh lý. Trong
nhiều năm gà đƣợc coi nhƣ là động vật nhiễm bệnh duy nhất. Tất cả giống gà
đều mắc bệnh, gà mắc bệnh cao nhất ở 3-6 tuần tuổi, gà nhỏ tuổi hơn có thể
mắc bệnh ở thể ẩn tính, không có biểu hiện triệu chứng nhƣng ảnh hƣởng rất
quan trọng. Vì ở lứa tuổi này virus làm tổn thƣơng nặng hệ miễn dịch làm
giảm khả năng miễn dịch của gà.
2.4.3.3 Đƣờng lây lan
Bệnh lây chủ yếu qua đƣờng tiêu hóa do thức ăn nƣớc uống có nhiễm
virus từ phân hoặc có dịch tiết của gia cầm mắc bệnh và gia cầm mang trùng,
hoặc do ăn phải thức ăn có chứa những con mọt hoặc ấu trùng mọt nhiễm
virus.
(Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012)
14