Tuần 5-Bài 5 (Tiết 23-24):
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
(Trích "Hồi thứ mười bốn”)
*Ngô gia văn phái
I.VỀ TÁC PHẨM “HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ”:
(HS học kỹ phần I này để có thêm tư liệu làm những đề văn tổng hợp giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII-nửa
đầu thế kỷ XIX)
1. Ngô gia văn phái:
Một tập thể tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai), tỉnh Hà Tây.
2.Hoàng Lê nhất thống chí (Ghi chép về sự nhất thống của vương triều nhà Lê):
a. Thể loại tác phẩm:
Tác phẩm văn xuôi chữ Hán được viết theo thể chí (một thể văn cổ vừa có tính chất văn học, vừa có tính chất lòch
sử). Đây thực chất là một cuốn tiểu thuyết lòch sử, viết theo lối chương hồi (sách chia làm nhiều hồi; mỗi hồi mở
đầu bằng 2 câu thơ làm đề và kết thúc bằng câu “Chưa biết sự thể thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ”). Cụ thể, tác
phẩm gồm 17 hồi; trong đó có 2 tác giả chính là Ngô Thì Chí(1753-1788) viết 7 hồi đầu và Ngô Thì Du(17721840) viết 7 hồi tiếp theo, còn riêng 3 hồi cuối do một người khác viết (có tài liệu cho là Ngô Thì Thiến).
b. Giá trò nội dung:
Tác phẩm tái hiện chân thật bối cảnh lòch sử xã hội Việt Nam đầy biến động khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVII và
mấy năm đầu thế kỷ XIX; trong đó, tập trung vào 2 nội dung chính:
(1)Vạch trần sự thối nát, mục ruỗng dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của các tập đoàn phong kiến Lê-Trònh:
-Khởi đầu là sự sa đọa, thối nát đến cực đôï của các nhân vật đứng đầu các tập đoàn phong kiến :
+Các ông vua chẳng ra vua của thời Lê mạt: Lê Hiển Tông chỉ biết “chắp tay rũ áo”, cam phận làm bù nhìn, bạc
nhược đến mức phó mặc trách nhiệm cho nhà chúa “Trời sai nhà chúa phò ta. Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui:
mất chúa tức là cái lo về ta, ta còn vui gì”. Lê Chiêu Thống thì rước giặc vào nhà, “đê hèn, khuất phục” trước giặc
Mãn Thanh để mong cứu vãn cái ngai vàng sắp sụp đổ. Lê Duy Mật thì “chỉ là một cục thòt trong cái túi da mà
thôi”.
+Còn bên phủ chúa: Trònh Sâm hoang dâm vô độ, say mê Đặng Thò Huệ dẫn đến việc phế con trưởng là Trònh
Tông, lập con thứ là Trònh Cán lên làm thế tử. Khi Trònh Sâm chết, nhà chúa loạn, gây nên loạn từ trong nhà, anh
em đánh giết lẫn nhau.
-Rồi đến cảnh kiêu binh ỷ thế lộng hành và sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái phong kiến .
giết hại nhân dân, vơ vét của cải”, nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa, kêu gọi
quân lính “đồng tâm hiệp lực”, ra kỷ luật nghiêm,… Lời phủ dụ như một bài hòch ngắn gọn mà ý tứ thật phong phú,
sâu xa, có tác dụng kích thích lòng yêu nước và truyền thống quật cường của dân tộc .
- Trí tuệ ấy còn biểu hiện trong việc xét đoán và dùng người : Khi đến Tam Điệp, gặp Ngô Văn Sở và Phan Văn
Lân “đều mang gươm trên lưng và xin chòu tội”. Nguyễn Huệ xử trí vừa có lý, vừa có tình. Ông rất hiểu sở trường
sở đoản của các tướng só, khen chê đều đúng người đúng việc .
c.Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng:
Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành lại được một tấc đất nào, vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh
đóng cột “phương lược tiến đánh đã có sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với
một nước”lớn gấp mười nước mình” để có thể “dẹp việc binh đao”, “cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực
lượng”.
d. Tài dụng binh như thần:
Mãi đến hôm nay, kể lại, chúng ta vẫn còn kinh ngạc vì cuộc hành quân thần tốc của nghóa quân Tây Sơn do vua
Quang Trung chỉ huy. Ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân (Huế), một tuần lễ sau đã ra tới Tam
Điệp (giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa, cách Huế 250 km). Vậy mà đêm 30 tháng chạp đã “lập tức lên đường”
tiến quân ra Thăng Long. Mà tất cả đều là đi bộ. Có sách còn nói vua Quang Trung sử dụng cả biện pháp cáng,
võng, cứ hai khiêng thì một người được nằm nghỉ, luân phiên nhau đi suốt đêm ngày. Từ Tam Điệp trở ra (khoảng
hơn 150 km), vừa hành quân , vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch đònh kế hoạch là mồng 7 tháng giêng sẽ
vào ăn Tết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức hai ngày. Hành quân xa liên tục như vậy, nhưng cơ nào đội
nấy vẫn chỉnh tề, cũng nhờ tài tổ chức của người cầm quân: hơn một vạn quân mới tuyển đặt ở trung quân, còn
quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng ra thì bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu.
đ.Lẫm liệt trong chiến trận:
Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghóa. ng là một tổng chỉ huy chiến dòch
thực sự: hoạch đònh phương lược tiến đánh, tổ chức quân só, tự mình thống lónh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc
thúc, xông pha tên đạn, bày mưu tính kế… Đội quân của Quang Trung không phải toàn là lính thiện chiến, lại vừa
trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới sự lãnh đạo tài tình của vò tổng
chỉ huy này đã đánh thắng những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù (bắt sống hết quân do thám của đòch ở Phú
Xuyên, giữ được bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, “quân lính luân phiên dạ ran” làm cho lính trong
đồn “ai nấy rụng rời sợ hãi” đều xin hàng; công phá đồn Ngọc Hồi, lấy ván ghép phủ rơm dấp nước để làm mộc
che, dàn trận tiến đánh, khi giáp la cà thì “quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người
TẬP LÀM VĂN:
BÀI 8: CHỌN VÀ TRÌNH BÀY DẪN CHỨNG TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
1. Khái niệm:
-Nội dung bài văn nghò luận được tạo nên bởi lý lẽ và dẫn chứng. Cả hai cùng chung mục đích là làm sáng tỏ vấn
đề cần nghò luận. Nếu lý lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu, thì dẫn chứng thiên về việc làm cho người ta
tin. Và, một khi đã hiểu và tin thì người đọc bò thuyết phục.
-Dẫn chứng là những sự vật, sự việc, số liệu, … được rút ra từ thực tế hay từ sách vở để thuyết minh cho lý lẽ .
2.Các loại dẫn chứng: Trong bài văn nghò luận, dẫn chứng có 2 loại:
-Dẫn chứng bắt buộc: dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu.
-Dẫn chứng mở rộng: dẫn chứng do người viết viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý
đang được bàn bạc.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Bánh Trôi nước” của Hồ Xuân Hương.
+Ở đề văn này, từ ngữ, hình ảnh,… trong bài thơ được sử dụng làm dẫn chứng khi phân tích là dẫn chứng bắt buộc
+Còn những tư liệu về cuộc đời Hồ Xuân Hương, về thời đại Hồ Xuân Hương sống, một số tác phẩm khác của Hồ
Xuân Hương có đề cập đến thân phận người phụ nữ hoặc một số câu thơ, tác phẩm của người khác cùng thời,
cùng trong nước hay nước ngoài viết về thân phận người phụ nữ,… là dẫn chứng mở rộng.
3.Chọn dẫn chứng:
Yêu cầu của việc chọn dẫn chứng:
(1) Dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm và phải tiêu biểu : Đây là yêu cầu về chất của dẫn chứng.
+Phù hợp với luận điểm: phải dùng dẫn chứng thích hợp cho từng ý.
+Tiêu biểu: nếu dẫn chứng lấy từ người, sự vật, hiện tượng thì nhất thiết phải được nhiều người biết đến; nếu dẫn
chứng lấy từ tác phẩm văn học phải có tính nghệ thuật cao.
(2) Dẫn chứng phải chính xác, đủ, không trùng lặp : Đây là yêu cầu về lượng của dẫn chứng.
+Chính xác: dẫn chứng phải đúng thời đại, đúng tác giả, trích đúng câu chữ.
+Đầy đủ : không nêu dẫn chứng tràn lan hay mang tính quân bình.
+Không trùng lặp: trong bài văn không nên lặp lại hai lần cùng một dẫn chứng.
4.Sắp xếp dẫn chứng: Tùy theo mục đích, yêu cầu nghò luận, ta có thể sắp xếp dẫn chứng theo nhiều cách:
(1)Theo trình tự thời gian. (2)Theo trình tự không gian. (3)Theo các khía cạnh của vấn đề.(3)Theo tâm lý tiếp
nhận của người đọc.
ý nhau, nhưng không hề có sự tương phản chút nào. Bởi nó cùng gợi cho người đọc thấy rõ thành phần xuất thân
của người lính đều là những người nông dân nghèo khổ, cơ cực.
Ví dụ 2: Nêu dẫn chứng: Vũ trụ với cảnh biển vô cùng tráng lệ lúc hoàng hôn:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
Phân tích: Đúng là một cảnh hoàng hôn ở trên biển được nhìn từ con thuyền đang chuẩn bò ra khơi. Khi mặt trời
“xuống biển” là lúc đêm sập xuống. Mặt trời được ví như hòn than đỏ rực “hòn lửa” đang từ từ lăïn xuống biển . Vũ
trụ bỗng chốc được liên tưởng như một ngôi nhà lớn; ở đó, những con sóng trên biển được nhân hoá thành những
chiếc then cửa đã cài “sóng đã cài then”, còn màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ của ngôi nhà vó đại đó
“đêm sập cửa”./ Cảnh thiên nhiên vốn bình thường, nhưng qua cảm hứng vũ trụ và cách liên tưởng trong lối so
sánh và nhân hoá, nhà thơ đã tạo nên cảnh hoàng hôn trên biển thật đẹp, thật ấn tượng.
(2) Phân tích trước rồi nêu dẫn chứng sau:
Ví dụ1: Phân tích: Trước khi về cùng đơn vò, cả hai cùng ở hai phương trời cách biệt nhau: một người ở miền
xuôi, nước biển quanh năm tràn vào làm cho đồng chua nước mặn; một người ở tận miền trung du, quanh năm đất
toàn cày lên sỏi đá. Để diễn tả tình đồng chí của những người lính kháng chiến chống Pháp ấy, Chính Hữu đã
dùng thành ngữ dân gian một cách nhuần nhò trong kết cấu song hành; tưởng là đối lời đối ý nhau, nhưng không hề
có sự tương phản chút nào. Bởi nó cùng gợi cho người đọc thấy rõ thành phần xuất thân của người lính đều là
những người nông dân nghèo khổ, cơ cực. / Nêu dẫn chứng: Đúng như vậy, tình đồng chí là tình cảm của những
người lính có cùng cảnh ngộ xuất thân nghèo khó:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Ví dụ 2: Phân tích: Trước hết là cảnh hoàng hôn ở trên biển được nhìn từ con thuyền đang chuẩn bò ra khơi. Khi
mặt trời “xuống biển” là lúc đêm sập xuống. Mặt trời được ví như hòn than đỏ rực “hòn lửa” đang từ từ lăïn xuống
biển. Vũ trụ bỗng chốc được liên tưởng như một ngôi nhà lớn; ở đó, những con sóng trên biển được nhân hoá
thành những chiếc then cửa đã cài “sóng đã cài then”, còn màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ của ngôi
nhà vó đại đó “đêm sập cửa”./ Nêu dẫn chứng: Cảnh thiên nhiên vốn bình thường, nhưng qua cảm hứng vũ trụ và
cách liên tưởng trong lối so sánh và nhân hoá, nhà thơ đã tạo nên cảnh hoàng hôn trên biển thật đẹp, thật ấn
tượng:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”