Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
Hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động ngoại thương nói riêng ngày càng có vị trí quan
trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như một mắt xích không thể thiếu được trong
hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai
trò quan trọng, nó được coi là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế, và thương mại giữa các nước trên
thế giới.Tuy nhiên thanh toán quốc tế là hoạt động rất phức tạp, bởi các chủ thể tham gia có sự cách biệt
về địa giới cũng như chế độ chính trị, kinh tế xã hội. Do đó, các bên tham gia luôn quan tâm đến việc tìm
ra phương thức thanh toán có hiệu quả nhất, tức là có ít rủi ro nhất đối với cả người mua lẫn người bán.
Và phương thức tín dụng chứng từ được các chủ thể chọn trong thanh toán quốc tế bởi nó hội tụ được các
yêu cầu từ cả hai phía người nhập khẩu và người xuất khẩu. Với những ưu điểm vượt trội của mình,
phương thức tín dụng chứng từ ngày càng trở nên phổ biến trong hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên
đây là phương thức thanh toán phức tạp, đa dạng nên để hiểu và sử dụng tốt phương thức này là việc
không đơn giản.
Qua quá trình thực tập về nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân hàng công thương Nghệ An,
em đã được tìm hiểu và nắm bắt được phần nào về nghiệp vụ này. Em nhận thấy rằng việc mở rộng hình
thức thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ còn gặp phải không ít khó khăn, điều này ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả kinh doanh chung của cả Ngân hàng. Do vậy em đã chọn dề tài: “Giải pháp mở
rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHCT Nghệ An” Với nhận
thức còn hạn chế, thực tế còn ít, vì vậy đề tài còn nhiều khiếm khuyết.Ngoài phần mở đầu và kết luận,
chuyên đề gồm 3 chương :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
tại Ngân hàng công thương NA
Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng công thương NA
1
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Bàng ngôn ngữ luật,định nghĩa về Tín dụng chứng từ được nêu tại Điều 2, UCP 600, như sau:”Tín
dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam
kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.
Thư tín dụng (Letter of credit - L/C) là một chứng thư trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền
cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung L/C. Chính vì vậy, người ta còn
gọi phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là thanh toán L/C.
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
+ Người yêu cầu,Người mở, Người xin mở(aplicant): Là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu
của họ.trong thương mại quốc tế, người mở thường là người nhập khẩu,yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc NHPH trả tiền cho người thụ hưởng L/C.
+ Người thụ hưởng, Người hưởng, Người hưởng lợi (beneficiary):Là bên hưởng lợi L/C được phát
hành, nghĩa là được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chập nhận thanh toán của L/C.
+ Ngân hàng Phát Hành ( Issuing Bank ): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo yêu cầu của
Người mở, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho Người mở. NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận
và quy định trong hợp đồng mua bán.Nếu không có sự thỏa thuận trước, thì nhà nhập khẩu được phép tự
chọn NHPH. NHPH còn có tên gọi khác là ngân hàng mở ( Opening Bank ).
+ Ngân hàng thông báo ( Advising Bank ) : Là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho Người thụ
hưởng theo yêu cầu của NHPH. NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước
nhà xuất khẩu.
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp, còn có thể có các ngân hàng khác tham gia vào phương thức thanh
toán L/C như ngân hàng xác nhận (Confirming bank), ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank), ngân
hàng chấp nhận (Accepting bank), ngân hàng hoàn tiền (Reimbursing bank).......
+Ngân hàng xác nhận ( confirming bank):Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình đối với L/C
theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
+Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank):Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc
chiết khấu,hoặc lá bất cứ ngân hàng nào nếu có giá trị tự do.
Sự khác biệt giữa thanh toán tín dụng chứng từ với các phương thức thanh toán khác được thể hiện rõ
nét ở những ưu, nhược đIểm của phương thức thanh toán này, ngoài những khác biệt rõ nét như phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ đảm bảo công bằng cho người xuất khẩu và người nhập khẩu hơn các
Là loại thư tín dụng mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực lại tự động có giá
trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời gian nhất định.
g. Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
Là loại thư tín dụng được mở ra dựa trên cơ sở số tiền của một thư tín dụng khác đã được mở
trước đó. Loại thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều trong phương thức giao dịch mua bán qua
4
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
4
Chuyên đề tốt nghiệp
trung gian, chuyển khẩu. Việc vận hành quá trình thanh toán theo loại thư tín dụng này nói chung khá
phức tạp; đặc biệt là những điều kiện về thời hạn, về bộ chứng từ …
h. Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C).
Là loại thư tín dụng chỉ có giá trị hiệu lực khi thư tín dụng của bên đối tác cũng đã được mở ra.
k.Thư tín dụng thanh toán dần (Deferred L/C ).
Là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở sẽ thanh toán dần dần trị giá thư tín dụng cho người hưởng
lợi theo tiến trình chuyển giao hàng hoá của họ với bên mua. Loại thư tín dụng này thích ứng với các hợp
đồng giao hàng nhiều lần .
l. Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C).
Là loại thư tín dụng có một điều khoản đặc biệt, thể hiện ở chỗ: người yêu cầu mở cho phép
người thụ hưởng được nhận một số tiền nhất định trong tổng số tiền của thư tín dụng đã mở, ngay cả khi
người này còn chưa thực hiện nghĩa vụ xuất chuyển hàng hoá cho người mua.
m. Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C).
Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho bên mua.
1.2.Vai trò của hoạt động TTQT đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh và dịch vụ trong nước, xu hướng quốc tế hoá nền
kinh tế đã tạo điều kiện cho các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển, trong đó TTQT là mảng
hoạt động có vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân
hàng.
Thứ nhất, TTQT là nghiệp vụ bổ sung, hỗ trợ cho các mặt hoạt động khác của ngân hàng, chẳng hạn
như khi phát triển hoạt động TTQT sẽ tăng cường được khả năng huy động và sử dụng vốn ngoại tệ của
- Tỷ giá hối đoái
- Uy tín của ngân hàng trong TTQT
- Đội ngũ cán bộ và công nghệ thanh toán
- Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
+ Các nhân tố khách quan:
- Chính sách của chính phủ và ngân hàng nhà nước về TTQT
- Chịu sự điều chỉnh của các bộ luật quốc tế
1.2.3.Các biện pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
- Nghiên cứu đa dạng hoá các hình thức L/C
- Mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý
- Đổi mới công nghệ ngân hàng
6
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
tại Ngân hàng công thương Nghệ An
2.1.Tổng quan về Ngân hàng công thương Nghê An
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Hệ thống ngân hàng Việt Nam được thành lập ban đầu là ngân hàng một cấp; một hệ thống ngân
hàng nhà nước vừa hoạt động quản lý nhà nước về ngân hàng, vừa cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng.
Đến năm 1989, hệ thống ngân hàng được tách thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà
nước về hoạt động ngân hàng, và các Ngân hàng thương mại nhà nước cung cấp các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng. NHCTNA cũng được ra đời từ đó.
Trước đây, NHCTNA là chi nhánh ngân hàng cấp 1 trực thuộc NHCTVN, tổ chức gồm trụ sở
chính, 02 chi nhánh ngân hàng cấp 2 và một số phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm. NHCTNA hoạt động chủ
yếu trên địa bàn tỉnh Nghệ An, ngoài ra NHCTNA còn hoạt động ở một số địa bàn khác theo sự chỉ đạo
của NHCTVN hoặc liên kết với các tổ chức khác.
Đến năm 2006, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về thành lập, điều chỉnh chi nhánh, phòng
quỹ
Phòng
quản lý
rủi ro
Phòng
thông
tin
điện
toán
Ban Giám đốc
Phòng
thanh
toán
xuất
nhập
khẩu
Phòng
kế toán
giao
dịch
Quan hệ kiểm tra, kiểm soátQuan hệ quản lý, điều hành
Phòng
khách
hàng
cá
nhân
Phòng
tổ
chức-
hành
- Báo cáo hoạt động kinh doanh;
- Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng;
- Làm đầu mối trong việc thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát nội bộ
của NHCTNA.
9
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
4. Phòng khách hàng cá nhân:
- Trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình để
khai thác vốn;
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến huy động vốn, tín dụng, quản
lý các sản phẩm tín dụng;
- Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng cho các khách hàng cá nhân.
5. Phòng kế toán giao dịch:
- Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng;
- Thực hiện các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác
quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ;
- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán,
hạch toán kế toán;
Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy vi
tính;
Quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên;
- Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm
ngân hàng.
6. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu:
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất nhập khẩu;
- Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, quản lý ngoại hối.
7. Phòng thông tin điện toán:
- Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán;
tính;
- Quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên;
11
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, tư vấn, giới thiệu và bán các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng.
11. Các Điểm giao dịch:
Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức dưới mọi
hình thức;
- Thực hiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, thanh toán và ngân quỹ;
- Tư vấn nghiệp vụ ngân hàng cho các khách hàng;
- Thực hiện cho vay bằng hình thức cầm cố.
Ngoài ra, tại NHCTNA còn có Bộ phận kiểm tra, kiểm soát trực thuộc
Ban Kiểm tra, kiểm soát nội bộ NHCTVN; thực hiện chức năng, nhiệm vụ
kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động tại NHCTNA theo sự phân công, phân
nhiệm của NHCTVN.
4. Mạng lưới hoạt động
Do có 02 chi nhánh trực thuộc NHCTNA vừa được nâng cấp lên trực
thuộc NHCTVN nên hiện tại NHCTNA có mạng lưới hoạt động rất nhỏ, trụ
sở chính và các Phòng giao dịch, Điểm giao dịch đều được bố trí trên địa
bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian tới, NHCTNA đang có
kế hoạch mở thêm một số phòng giao dịch ở các huyện lân cận thành phố
Vinh.
2.1.3. Một số hoạt động chính của ngân Hàng Công thương Nghệ An
2.1.3.1. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 2007
Tổng quan chung năm 2007, tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An diễn
biến trong điều kiện khó khăn: Giá cả các loại vật tư, xăng dầu tăng cao, giá
vàng trong năm tăng, giảm thất thường, đến cuối năm giá vàng bình quân
tăng 20% so với năm 2006 và đạt mức giá cao nhất so với những năm trước
như các Cơ quan; Ban; Ngành trong Tỉnh và của các Ngân hàng cấp trên,
nên hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đã gặt hái được những thành công
nhất định.
13
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1.3.2. Hoạt động huy động vốn:
Năm 2007 công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn với sự cạnh
tranh mạnh mẽ của các Ngân hàng thương mại trên điạ bàn cả về điểm giao
dịch lẫn lãi suất huy động vốn và các hình thức khuyếch trương khuyến
mãi...Sự biến động bất ổn của lãi suất và những khó khăn trên đã đặt ra công
tác huy động vốn của chi nhánh đứng trước nhiều thách thức lớn. Tuy nhiên,
chi nhánh đã cố gắng duy trì, phát triển nguồn tiền gửi của khách hàng
truyền thống, tăng cường mở rộng mạng lưới, lập thêm quỹ tiết kiệm tại khu
vực có tiềm năng. Mặt khác, chi nhánh đặc biệt quan tâm nâng cao chất
lượng phục vụ, đa dạng hoá các sản phẩm Ngân hàng để nâng cao hiệu quả
hoạt động của các quỹ tiết kiệm. Nhờ vậy nguồn vốn huy động của Ngân
hàng vẫn giữ sự ổn định.
Tăng trưởng nguồn vốn huy động:
Tính đến 31/12/2007 - Tổng nguồn vốn huy động đến đạt 972 tỷ đồng,
tỷ lệ tăng trưởng 6,3% so với đầu năm, đạt 99,2% kế hoạch.
- Nguồn vốn huy động bình quân trong năm đạt 937 tỷ đồng, tỷ lệ tăng
trưởng 6,3% so với nguồn vốn huy động bình quân năm 2006.
- Thị phần nguồn vốn huy động của Chi nhánh chiếm tỷ trọng 10% trên
toàn Tỉnh.
- Cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng:
+ Tiền gửi TCKT đến cuối năm đạt 134 tỷ đồng năm, tăng trưởng
16,5% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 14% trên tổng nguồn vốn huy động.
+ Tiền gửi dân cư đến cuối năm đạt 838 tỷ đồng, tăng trưởng 5% so
với đầu năm, chiếm tỷ trọng 86% trên tổng nguồn vốn huy động.
nhân. Sự thay đổi về tư duy quản lý, phương thức quản trị rủi ro tín dụng là
bước chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển vững chắc của chi nhánh trong
tương lai, đặc biệt là trong điều kiện NHCT thực hiện cổ phần hóa.
15
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
Công tác đầu tư, cho vay đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho Khách
hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phục vụ vốn cho các dự án mới đi vào
hoạt động. Chú trọng tới các chương trình thu mua Nông sản thực phẩm xuất
khẩu hàng hoá, đầu tư vốn cho các dự án Miền Tây Nghệ An nhằm phục vụ
tốt định hướng phát triển kinh tế của Tỉnh. Trong năm, Chi nhánh đã tiếp tục
giải ngân dự án thủy điện Quảng Trị và dự án Thuỷ điện Bản vẽ nên đã nâng
tổng dư nợ cho vay, góp phần cải thiện tốt cơ cấu dư nợ theo hướng tích cực
hơn.
Với chiến lược tăng trưởng tín dụng thận trọng, chất lượng tín dụng của
NHCT Nghệ An tiếp tục được cải thiện, dư nợ nhóm 2, dư nợ xấu chiếm tỷ
lệ thấp trên tổng dư nợ. Nhờ chất lượng tín dụng được duy trì khá tốt, nên
trích lập dự phòng theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN trong năm 2007 chỉ
còn 7.955 triệu đồng (trong đó: Dự phòng củ thể chỉ còn 169 triệu), giảm rất
nhiều so với những năm trước. Nguyên nhân là do một mặt, tập trung vào
công tác xử lý thu hồi nợ nhóm 2, nợ xấu. Mặt khác, chi nhánh đã gắn tăng
trưởng với kiểm soát chất lượng tín dụng, tăng dư nợ có tài sản đảm bảo và
dư nợ cho vay các doanh nghiệp dân doanh. Thực hiện nghiêm túc các giới
hạn tín dụng được giao.
Trong công tác tín dụng đã tuân thủ chặt chẽ quy trình, thể lệ, chế độ
Tín dụng, Luật NHNN, Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
của Ngành, nhất là các văn bản chỉ đạo công tác tín dụng của NHCT Việt
Nam, đồng thời nâng cao chất lượng công tác thẩm định các dự án/ PA
SXKD; Thẩm định khách hàng vay vốn; Chỉ đạo, đôn đốc cán bộ thường
xuyên kiểm tra tình hình hoạt động SXKD, phân tích thực trạng tài chính,
với năm 2006.
Ngân hàng nhận thức rõ ưu thế vị trí kinh doanh của mình nằm trên địa
bàn trung tâm thương mại của tỉnh Nghệ An, chi nhánh đã mạnh dạn đưa các
dịch vụ đối ngoại như thu đổi ngoại tệ, thanh toán thẻ séc du lịch … tại các
quỹ tiết kiệm và bước đầu thu được kết quả khả quan, đồng thời nâng cao
trình độ cho đội ngũ cán bộ của chi nhánh khi đã hội nhập.
17
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Hoạt động tiền tệ kho quỹ:
Cùng với sự phát triển chung các mặt hoạt động của NHCT Nghệ an,
công tác tiền tệ và an toàn kho quỹ cũng đã có chuyển biến tích cực. Đội ngũ
cán bộ trực tiếp làm công tác tiền tệ kho quỹ đã có gắng hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Công tác tiền tệ kho quỹ từ khâu nhận, phát tiền, kiểm
đếm, niêm phong đến bảo quản, vận chuyển tiền, không để ra sai sót, đảm
bảo an toàn tuyệt đối về tài sản.
Tổng thu tiền mặt: 3.527 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2006.
Tổng chi tiền mặt: 3.450 tỷ đồng, tăng 11 % so cùng kỳ năm 2006.
Bội thu tiền mặt: 77 tỷ đồng.
Chi trả tiền thừa cho khách hàng 322 món với số tiền 353 triệu đồng,
phát hiện 900.000 đồng tiền giả. Mặt hoạt động này đã góp phần tạo được
niềm tin của Khách hàng đối với Ngân hàng công thương.
- Công tác thông tin, điện toán:
Sau khi triển khai thành công chương trình hiện đại hóa giai đoạn I. Chi
nhánh NHCT Nghệ An tiếp tục được giao nhiệm vụ là đầu mối trong việc
thực hiện chương trình hiện đại hóa giai đoạn II, công tác điện toán của đã
thực hiện thành công nhiều lần nâng cấp, rà soát, chỉnh sửa chương trình
đảm bảo cho chi nhánh vận hành các chương trình phần mền hệ thống một
cách hiệu quả và an toàn.
Công tác điện toán với hệ thống thiết bị công nghệ thông tin, mạng
thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ vào sự đi lên của Ngân hàng Công
thương Nghệ An. Bắt đầu tiến hành từ năm 1993, thời gian đầu Ngân hàng
gặp rất nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm chỉ đạo, động viên kịp thời
của Ban lãnh đạo Ngân hàng và sự hỗ trợ của Ngân hàng Công thương Việt
Nam, Phòng kinh doanh đối ngoại đã tích cực làm việc và đưa Ngân hàng
Công thương Nghệ An luôn luôn đứng đầu trong hoạt động thanh toán quốc
19
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7