Phát triển dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Những năm qua, thực hiện đường lối mở cửa, kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam không ngừng gia tăng.Hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng phát
triển đã thúc đẩy dịch vụ giao nhận vận tải phát triển. Ngành dịch vụ giao
nhận vận tải là một ngành dịch vụ còn mới mẻ mới xuất hiện tại nước ta trong
khoảng 20 năm trở lại đây nhưng đây là ngành dịch vụ được đánh giá là có
tốc độ tăng trưởng rất cao trong thời gian tới cùng với sự tăng trưởng của hoạt
động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó dịch vụ giao nhận vận tải còn là ngành phù
hợp với điều kiện của nước ta và có thể tận dụng ưu thế về vị trí địa lí để phát
triển thành ngành kinh tế có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế
và có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân.Kinh doanh dịch vụ giao nhận
vận tải của Việt Nam hiện nay rất đa dạng và phong phú với nhiều thành
phần, nhiều dịch vụ được cung cấp, đáp ứng nhu cầu đặt ra trong vận chuyển
của xã hội đặc biệt là hang hoá xuất nhập khẩu. Song thực tế cho thấy hoạt
động giao nhận vận tải ở Việt Nam những năm qua còn nhiều bất cập mà nổi
trội hơn cả là hiệu quả hoạt động.Phát triển đa dạng, phong phú dịch vụ cung
cấp nhưng hiệu quả không cao do nguyên nhân chủ yếu chính là phương thức
kinh doanh chưa thích hợp. Vì vậy thực tiễn đòi hỏi cần có phương thức kinh
doanh mới tiên tiến nhằm tiết kiệm tất cả các chi phí phát sinh hoặc có thể
phát sinh trong giao nhận vận tải để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
Logistics chính là phương thức kinh doanh tiên tiến cần được nghiên cứu để
áp dụng và phát triển trong các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận vận tải ở
Việt Nam.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên và đây là một lĩnh vực khá mới mẻ
ở Việt Nam, với kinh nghiệm còn rất hạn chế của mình, em chỉ xin nêu ra một
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vài hiểu biết của mình về lĩnh vực này trong đề án môn học : “Phát triển dịch
vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam”
Đề án gồm 2 phần chính:

Logistics các nước thường áp dụng và chịu quy chế của Hội đồng này)
“Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ
các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ
bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”
Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm
“logistics” mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: Dịch vụ logistics
là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ
tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi
ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo
thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao (Điều 233- Luật Thương mại
Việt Nam năm 2005)
Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng tuy có sự khác nhau về từ ngữ và
cách diễn đạt, nhưng các tác giả đều cho rằng: logistics là hoạt động quản lý
dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho,
sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Mục đích là giảm
tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong
quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối
hàng hoá một cách kịp thời ( Just in time).
1.1.1.2.Khái niệm về dịch vụ giao nhận vận tải:
Trong các yếu tố cấu thành chuỗi logistics thì giao nhận vận tải là khâu
quan trọng nhất. Chi phí giao nhận vận tải thường chiếm tới hơn 1/3 tổng chi
phí của logistics.Muốn giảm chi phí của logistics phải giảm chi phí khâu giao
nhận vận tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị trường. Việc
giao nhận vận tải phải đảm bảo thời gian giao hàng, phải đảm bảo cung ứng
nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng lúc. Từ đó giảm đến mức thấp
nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để làm giảm chi phí

quan trọng trong hoạt động chuỗi logistics.
Giao nhận vận tải là tổng thể các loại hình phương thức vận tải nhằm
mục đích vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác để đạt được các mục
tiêu thương mại của các bên.Trong buôn bán quốc tế là người bán và người
mua thuờng ở cách xa nhau. Do đó người vận tải đảm nhận việc di chuyển
hàng hoá giữa người mua và người bán, đây là một khâu rất quan trọng, bảo
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đảm hàng hoá đến tay người mua,việc hợp đồng mua bán có thực hiện được
hay không phụ thuộc rất nhiều vào khâu này. Hoạt động nghiệp vụ này bao
gồm một loạt các công việc như : đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ
chức xếp dỡ, giao hàng cho người nhận ở nơi đến… liên quan đến quá trình
vận chuyển. Tất cả các công việc này được gọi chung là “ Nghiệp vụ giao
nhận- Forwarding”.
Nội dung cơ bản của giao nhận:
-Nghiệp vụ giao nhận truyền thống:
Chủ yếu là các khâu nghiệp vụ do chủ hàng trực tiếp thực hiên theo
nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng, bao gồm:
Tổ chức chuyên chở ,xếp dỡ, hàng hoá từ nơi sản xuất đến các điểm đầu
mối vận tải và ngược lại.
Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển nhằm bảo vệ
quyền lợi của chủ hàng.
Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hoá trong quá trình giao
nhận vận tải, đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận.
-Nghiệp vụ giao nhận quốc tế- Dịch vụ giao nhận:
Trừ trường hợp người gửi hàng (hoặc người nhận hàng muốn tự mình
thực hiện bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào), còn lại thông thường người
giao nhận thay mặt chủ hàng lo liệu quá trình vận tải qua các cung đoạn.
Người giao nhận có thể trực tiếp thực hiện các dịch vụ thông qua các đại lý
của họ hoặc thông qua những người ký hợp đồng phục vụ).

- Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá
trong buôn bán quốc tế.
-Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thông tự nhiên.
- Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn. Nhìn chung năng
lực chuyên chở của công cụ vận tải đường biển (tàu biển) không bị hạn chế như
các công cụ của các phương thức vận tải khác.
- Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành thấp. Tuy nhiên,
vận tải đường biển có một số nhược điểm:
Vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên.
- Tốc độ của tàu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tàu biển
còn bị hạn chế
Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên của vận tải đường biển, ta có
thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán
quốc tế.
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng
lớn, chuyên chở trên cự ly dài nhưng không đòi hởi thời gian giao hàng nhanh
chóng.
Tác dụng của vận tải biển:
Góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu mặt hàng, nguồn hàng trong
buôn bán quốc tế.
Thông qua vận tải đường biển mà quan hệ buôn bán với các nước được
mở rộng
Cảng biển là đầu mối giao thông, là một mắt xích quan trọng và một bộ
phận quan trọng của vận tải đường biển.
- Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời buôn bán quốc tế.
- Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển.

Hiện tại nhiều tổ chức thế giới nghiên cứu tiêu chuẩn hóa container,
song tổ chức ISO vẫn đóng vai trò quan trọng nhất. Năm 1967, tai
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Moscow, đại diện tổ chức tiêu chuẩn hóa của 16 nước là hội viên ISO đã
chấp nhận tiêu chuẩn hoá container của ủy ban kỹ thuật thuộc ISO.
Container là một loại thiết bị vận tải.
Có tính bền chắc, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhiều lần.
Có cấu tạo riêng biệt thuận lợi cho chuyên chở hàng bằng nhiều phương
thức vận tải mà không phải dỡ hàng ra và đóng gói lại dọc đường.
Được thiết kế thuận tiên, để dễ dàng cho việc bốc dỡ, chuyền tải.
Có thể chứa bên trong 1m
3
hoặc hơn.
Các yếu tố kỹ thuật của hệ thống vận tải Container:
Ga, cảng Container : Các điểm vận tải phục vụ chuyên chở Container
phải có diện tích rộng, có các trang thiết bị chuyên dụng để xếp dỡ, sắp đặt
Container. Trạm Container là nơi giao nhận, bảo quản hàng hoá, bảo quản
Container, là nơi tiến hành các thủ tục hải quan, kiểm tra hàng hoá XNK.
Công cụ xếp dỡ Container: so với quy trình xếp dỡ hàng hoá thông
thường, quy trình kỹ thuật xếp dỡ Container lên xuống phương tiện vận tải
hoặc ở các kho bãi có sự khác biệt. Xét theo công dung, ta có thể chia thành 3
nhóm:
Công cụ phục vụ xếp dỡ Container lên xuống các phương tiện vận tải.
Công cụ phục vụ việc sắp xếp Container tại các kho bãi Container.
Công cụ xếp dỡ phục vụ việc xếp, dỡ hàng hoá ra, vào Container tại các
trạm CFS ( Container Frieght Station)
1.1.2.3.Vận tải đa phương thức:
Khái niệm: Vận tải đa phương thức là một phương pháp vận tải, trong đó
hàng hoá được vận chuyển bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác

11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mini/ Bridge: Container được vận chuyển từ cảng này đến cảng khác,
sau đó đuợc chuyển bằng đường sắt cảng thứ 2 của nước đến theo một vận
đơn đi suốt do người chuyên chở đường biển cấp.
1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường giao nhận vận tải tại Việt Nam.
1.2.1Nhân tố kinh tế:
Cũng giống như tất cả các ngành khác trong nền kinh tế Quốc dân, nhân
tố kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tác động đến sự
phát triển của ngành dịch vụ giao nhận vận tải. Sự tăng trưởng hay suy thoái
của nền kinh tế có tác động đến quy mô thị trường. Khi nền kinh tế tăng
trưởng, quy mô của sản xuất kinh doanh tăng, nhu cầu về giao nhận và vận
chuyển hàng hoá của các doanh nghiệp tăng, theo đó quy mô thị trường dịch
vụ giao nhận và vận tải cũng được mở rộng. Còn trong điều kiên kinh tế suy
thoái thì quy mô thị trường bị giảm do nhu cầu giảm, cạnh tranh khốc liệt
hơn, nhiều doanh nghiệp có thể bị phá sản.
Do đặc thù của dịch vụ giao nhận vận tải phương tiện sử dụng chủ yếu là
các phương tiện giao thông, chính vì thế chất lượng dịch vụ phụ thuộc chủ
yếu vào chất lượng hệ thống đường xá và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành
giao thông, hệ thống giao thông được đảm bảo thì hàng hoá mới được vận
chuyển thông suốt, nhanh chóng, chất lượng dịch vụ vận chuyển được nâng
cao. Nếu chỉ đầu tư phát triển các dịch vụ giao nhận vận tải mà không có sự
phát triển đồng bộ của cơ sở hạ tầng thì chất lượng dịch vụ sẽ rất thấp.
Dịch vụ giao nhận vận tải chủ yếu phục vụ cho hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu, chính vì thế thị trường phụ thuộc rất lớn vào sự tăng trưởng
hay sụt giảm của các hoạt động thương mại quốc tế. Quan hệ kinh tế giữa các
quốc gia với nhau sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên, những ưu
đãi về thuế quan và nhiều ưu đãi khác là điều kiện thuận lợi cho sư phát triển
của thị trường dịch vụ giao nhận vận tải.
12

ngại rất lớn cho sự phát triển của thị trường dịch vụ giao nhận vận tải.
Trong xu thế hiện nay, tuy luật pháp quốc gia thường tuân thủ các quy tắc
buôn bán quốc tế, nhưng trong các quy định hệ thống luật pháp vẫn còn
những bảo hộ, ưu đãi cho sự phát triển kinh tế của quốc gia đó, điều này tác
động trực tiếp đến sự phát triển của thị trường dịch vụ giao nhận vận tải. Nếu
quốc gia nào có quy định chặt chẽ về thủ tục hải quan, quá cảnh hàng hoá sẽ
tạo ra khó khăn cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải do
phải mất nhiều thời gian, chi phí hơn cho việc thông quan. Trong trường hợp
các quốc gia trong cùng một khu vực hoặc các khối liên kết kinh tế như EU,
ASEAN… việc trao đổi thương mại được hưởng nhiều ưu đãi, nhờ đó các
dịch vụ giao nhận vận chuyển được tiến hành thuận lợi hơn.. Như vậy, khi các
doanh nghiệp có ý định mở rộng thị trường phải nghiên cứu kỹ luật pháp của
các nước để có chiến lược phù hợp.
1.2.3. Nhân tố văn hóa, xã hội:
Mỗi khu vực khác nhau, quốc gia khác nhau lại mang những nét văn hoá,
phong tục tập quan đặc trưng riêng quyết định đến suy nghĩ, cũng như hành vi
của con người nơi đó. Đây là yếu tố có tác động không nhỏ tới việc buôn bán
và trao đổi hàng hoá cũng như sự phát triển của thị trường giao nhận vận tải.
Mặc dù hiện nay, các quy định buôn bán quốc tế được thống nhất trong
INCOTERMS, nhưng tập quán buôn bán vẫn là một phần trong các quy định
về giao thương quốc tế, nó có ảnh hưởng tích cực nếu doanh nghiệp nắm
được và điều chỉnh để thích nghi, còn ngược lại đối với các doanh nghiệp
thiếu hiểu biết hay tìm hiểu chưa sâu thì đây sẽ là rào cản lớn khó vượt qua.
Như vậy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường
như: kinh tế, chính trị - luật pháp, văn hoá- xã hội… Mỗi nhân tố có những
ảnh hưởng ở mức độ khác nhau. Khi phát triển thị trường dịch vụ giao nhận
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vận tải, các doanh nghiệp cần phân tích các nhân tố này để có những chiến
lược cùng các biện pháp phù hợp, góp phần phát triển thị trương mang lại

hợp đồng đại lý dưới dạng làm đại lý trực tiếp với nhau hoặc đại lý thông qua
một đại lý thứ ba khác, ngoài ra hình thức liên doanh liên kết cũng bước đầu
mang lại kết quả tốt đẹp.
- Phương thức vận tải tiên tiến bằng container chiếm tỉ lệ ngày càng
tăng, năm 2004 chiếm 31,7% tổng lượng hàng giao nhận, đã tăng lên 37,2%
năm 2006 và càng tăng vào những năm gần đây khi các hãng tàu container
tăng cường hoạt động ở VN. Vì vậy nhiều công nghệ mới trong vận tải được
ứng dụng, các cảng biển được trang bị các thiết bị chuyên dùng trong bốc xếp
vận chuyển container. Các hệ thống kho bãi được quy hoạch, nâng cấp cho
phù hợp phương thức vận tải mới. Các hình thức kho CFS, kho ngoại quan
được đưa vào kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế đối ngoại.
- Giai đoạn này thực hiện giao nhận nhiều công trình lớn phục vụ công
nghiệp hóa đất nước tạo điều kiện cho các đơn vị trong nước học hỏi nhiều
kinh nghiệm quí báu từ các đối tác, tham gia đấu thầu vận chuyển quốc tế
nhiều công trình. Sự hợp tác lẫn nhau với các công ty nước ngoài và làm đại
lý hàng hóa cho các hãng tàu để khai thác dịch vụ gởi hàng lẻ chung container
hay gom nhiều lô hàng nhỏ thành lô hàng lớn gởi đi bằng máy bay đã đem lại
lợi nhuận cao, bước đầu mang lại hiệu quả trong dịch vụ gom hàng.
- Thương mại đường hàng không phát triển từ năm 2005 với tốc độ
nhanh, bình quân từ 15-20% mỗi năm và chủ yếu tập trung qua sân bay Tân
Sơn Nhất. Hàng hoá chở đi chủ yếu bằng các loại máy bay chở khách, máy
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
bay chuyên chở hàng (freighter) được sử dụng góp phần giải tỏa tình trạng
ách tắc hàng vào mùa cao điểm, nhưng tần suất hoạt động còn thấp.
- Tính đến đầu năm 2008, có 22 hãng hàng không và hơn 20 hãng tàu
quốc tế hoạt động tại VN làm gia tăng nhanh chóng mức cung trọng tải
trong vòng 4 năm trở lại đây, gấp 2-2,6 lần so lượng hàng cần gởi dẫn đến
giá cả vận chuyển các tuyến quốc tế giảm mạnh: Nếu lấy năm 2005 làm
mốc so sánh thì mức giảm bình quân từ 10-42%. Chẳng hạn, tuyến đi châu

thế giới đang được nâng cao, biểu hiện là nhiều công ty lớn tại các cường
quốc kinh tế như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật … khi vận chuyển hàng hoá vào nước
ta đã ưu tiên sử dụng dịch vụ giao nhận vận tải do các doanh nghiệp trong
nước đảm nhiệm. Nhìn về tương lai, ngành giao nhận vận tải ở nước ta có
triển vọng phát triển khá khả quan, có khả năng phát triển đáp ứng đủ nhu cầu
vận chuyển và giao nhận hàng hoá của nền kinh tế.
Bảng1.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 2002-2008
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
Tổng kim
ngạch XNK
Xuất khẩu Nhập khẩu
%Xuất khẩu/
Nhập khẩu
2001 31247,1 15029,2 16217,9 92.7
2002 36451,7 16706,1 19745,6 84.6
2003 45405,1 20149,3 25255,8 79.8
2004 58453,8 26485,0 31968,8 82.8
2005 69208,2 32447,1 36761,1 88.3
2006 84717,3 39826,2 44891,1 88.7
2007 111243,6 48561,4 62682,2 77.5
2008 143395.5 62693.1 80702.4 77.7
Nguồn: Bộ Công Thương
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của từng khu vực từ 2002-2006
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đơn vị tính: Triệu USD
Khu vực 2002 2003 2004 2005 2006
Châu Á 24430.1 29012.2 38360 46530 54938
ASEAN 7206.6 8915.9 11640.8 14920 -

trẻ nên uy tín chưa cao, cộng them sự liên kết và hợp tác giữa các doanh
nghiệp trong nước thực sự là chưa tốt, chính vì thế các doanh nghiệp nước
ngoài có điều kiện để lấn át. Nhiều hợp đồng giao nhận vận tải có giá trị lớn
với mức lợi nhuận cao đều thuộc về tay các doanh nghiệp nước ngoài. Đây là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng phát triển chưa đúng tầm với tiềm
năng của các doanh nghiệp nội địa.
Theo Datamonitor, Global Logistics 5/2006 thì thị truờng dịch vụ
logistics của Việt Nam có tổng giá trị khoảng 0.16 tỷ USD năm 2005
chiểm khoảng 0.3%GDP,phần lớn là dịch vụ vận chuyển. Mặc dù thị
trường Logistics Việt Nam có quy mô tương đối nhỏ so với các nước
Châu Á- Thái Bình Dương, nhưng có tốc độ tăng trưởng khoảng 20%-
25%/ năm và đạt giá trị 0.36 tỷ USD vào năm 2009.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bảng 3: Quy mô thị trường Logistics và tốc độ tăng trưởng Việt Nam và
thế giới năm 2005
Thị trường Trị giá ( tỷ
USD)
Tốc độ tăng
trưởng
Thế giới 591.1 5.1%
Khu vực Bắc Mỹ 198.61 4.6%
Khu vực Châu Âu 191.52 1.1%
Khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương
201.35 8.1%
-Trung Quốc 81.40 24%
-Nhật Bản 67.10 0.20%
-Úc+ Ấn Độ+ Hàn Quốc +
Đài Loan

đến nay, nước ta đã có trên một ngàn DN đăng ký làm logistics, nhưng chỉ có
khoảng 800 DN thực sự có tham gia hoạt động, trong đó DN Nhà nước chiếm
khoảng 20%, Công ty TNHH, DN cổ phần chiếm 70%, còn 10% là các gia
đình, tư nhân làm nhỏ lẻ, tham gia làm từng phần, từng công đoạn….Một số
doanh nghiệp nhà nước tham gia trong lĩnh vực logistics như : Vosco- kinh
doanh vận tải giao nhận đường biển; Vietfracht – công ty vận tải, môi giới
thuê tàu ; Vosa- công ty cung ứng tàu biển (làm các dịch vụ tại cảng) ;
Vicoship – công ty container (làm dịch vụ container), Vitalco- làm dịch vụ
kiểm đếm...Nổi lên là các doanh nghiệp lớn có vai trò chủ đạo trong hoạt
động hậu cần và giao nhận vân tải đường biển là Tổng công ty Hàng hải –
Vinaline với hơn 30 thành viên hoạt động trên mọi lĩnh vực hàng hải. Bên
cạnh các doanh nghiệp nhà nước còn có các doanh nghiệp cổ phần như
Gemandept, Safi, Vinatrans ... Một số chủ hàng lớn cũng mở cảng, làm đại lý
cho hãng tàu như Vinacoal, Petrolimex,. Các doanh nghiệp của địa phương
cũng ra đời như Shipchano của Hải phong, Danasco của Đà Nẵng...Các doanh
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nghiệp do các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang quản lý như
Masc...Các công ty tư nhân như công ty Đông Á, Oceanway, Kiến Hưng, Sao
Bắc Đẩu, Tân Tiền Phong...Cùng với số lượng các doanh nghiệp tăng lên, quy
mô của các doanh nghiệp cũng đựoc mở rộng. Các doanh nghiệp như
Vietfracht, Germatrans, Vosco... cung ứng dịch vụ vận chuyển và giao nhận.
Tuy nhiên các doanh nghiệp kinh doanh logistics hiện nay, chưa có doanh
nghiệp nào hoạt động đúng nghĩa một ngành công nghiệp dịch vụ logistics.
Quy mô hoạt động dịch vụ logistics cũng rất rộng, nó không phải chỉ là hoạt
động vận tải biển hay một công đoạn của cảng sếp dỡ hàng hóa và kho bãi, nó
cũng không phải chỉ là việc phân phối thông qua các đại lý, tổng đại lý bán
buôn, bán lẻ, mà nó là cả một quá trình tổng hợp của tất cả các khâu… Tuy
nhiên, hoạt động logistics của chúng ta mới dừng lại ở khâu dịch vụ nội địa,
chứ chưa vươn dược ra các nước khu vực và trên thế giới. Hoạt động

1 cảng Chân Mây; cầu số 1 Vũng Áng, Dung Quất Đến nay, ngành hàng hải
đã có 126 bến cảng và 266 cầu cảng nên đã đáp ứng kịp thời yêu cầu hàng
hoá thông qua cảng biển, đóng góp tích cực vào sự phát triển hoạt động xuất
nhập khẩu và trao đổi hàng hoá qua các vùng miền. Khối lượng hàng hoá
thôgn qua hệ thống cảng Việt Nam trong 5 năm (2001-2005) đạt 575.286.000
tấn, trong đó hàng container là 10.452.870 TEUs, hàng lỏng là 170.962.000
tấn tăng 8,91% so với nămg 2004 trong đó hàng khô là 60.584.571 tấn tăng
9,9% so với nămg 2004 hàng con tainer là 2.910.793 TEUs tăng 19.4% so với
năm 2004. Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành hàng hải thực hiện cải
cách hành chính theo quyết định sos 178/2002/QĐ-TTG của thủ tướng chính
phủ ban hành ngày 13/12/2002 thì thời gian làm thủ tục của tàu, hàng khi qua
cản đã rút ngắn đáng kể, tối đa không quá 60phút. Các chứng từ thể hiện dưới
hình thức photo , fax, thư điện tử... liên quan tới hồ sơ, giấy tờ của tàu, hàng
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoá do chủ tàu và người khai hải quan cung cấp đều được các cơ quan liên
quan chấp nhận. Điều này tạo điều kiện cho việc ứng dụng thương mại điện
tử, công nghệ thông tin trong lĩnh vực giao nhận vận tải phát triển, nâng cao
chất lượng dịch vụ cung cấp. Hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu
bằng đường sắt và đưòng ôtô cũng dần khôi phục và phát triển nhưng với sản
lượng không nhiều và chủ yếu là hàng hoá vào Việt Nam từ các nước lân cận
như Trung Quốc, Lào, Campuchia. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thực
hiện bằng đường hàng không cũng dần tăng với tốc độ khá nhanh tại các cửa
khẩu Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng làm cho hoạt động giao nhận hàng
hoá bằng đường hàng không phát triển mạnh. Các tuyến đường bay vận
chuyển mới được hình thành trong đó có cả các đường bay chuyên chở hàng
như Tân Sơn Nhất- Đài loan với tần suất chuyến/ tuần được thực hiện bằng
máy bay Boing 757. Các chuyến bay chở hàng đột xuất theo yêu cầu khách
hàng cũng được phát triển như Việt Nam- Nga hay một số nước khác.
Dịch vụ vận tải giao nhận nội địa và phân phối hàng: Vận tải giao nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status