TIỂU LUẬN môn CHÍNH SÁCH đối NGOẠI VIỆT NAM - Pdf 31

TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG
QUỐC THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ 1954-1975
*******************

NHÓM 8 - LỚP AK3 - KHOA CỬ NHÂN TIẾNG ANH

DOÃN MINH NGÂN
HOÀNG THU HÀ
BÙI TRÀ MY
NGUYỄN THỊ LỆ QUYÊN
NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG
NGUYỄN HỒNG HẠNH
ĐINH THỊ NHUNG
LÂM THỊ TÚ ANH
NGUYỄN SỸ TÚ

1


Mục lục
I –Bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 -1975......................................................................................................2
II – Chính sách đối ngoại của Việt Nam.......................................................................................................4
III – Triển khai chính sách.............................................................................................................................8
IV – Đánh giá..............................................................................................................................................10
V – Tổng kết...............................................................................................................................................12
Tham khảo.................................................................................................................................................12

I –Bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 -1975
1. Thế giới.

Hoa Kỳ thì kết cục cho Chiến tranh Việt Nam đã rõ ràng.
2.2.

Tình hình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

3


Từ năm 1954 đến 1964, phía Trung Quốc hòa hoãn với Mỹ và tìm cách
tăng ảnh hưởng tại Đông Nam Á và Nam Á. Điều này đi ngược lại lợi ích
của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1964 đến1969, Trung Quốc tiến hành đại
cách mạng văn hóa, xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chống Liên Xô, phá hoại
cách mạng thế giới. Cụ thể, Trung Quốc đã bật đèn xanh cho Mỹ xâm lược
Việt Nam và phá hoại mọi hoạt động ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
Từ năm 1969 đến1973, Trung Quốc công khai câu kết với Mỹ xâm lược, phá
hoại cách mạng ba nước Đông Dương. Từ năm 1973 đến 1975, Trung Quốc
xâm chiến lãnh thổ Việt Nam gây căng thẳng biên giới, cản trở Việt Nam
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà và lôi kéo ngụy quyền
chống lại cuộc tổng tiến công nổi dậy của nhân dân miền Nam. Cùng thời
gian này, căng thẳng xuất hiện khi Trung Quốc coi Việt Nam như là công cụ
của Liên Xô để bao vây Trung Quốc và việc Trung Quốc ủng hộ Khmer đỏ
cũng dấy lên sự nghi ngờ từ phía Việt Nam.

II – Chính sách đối ngoại của Việt Nam

Trong thời kì này, Trung ương Đảng và nhà nước Việt Nam xác định tầm
quan trọng lớn lao của mối quan hệ của ta với Trung Quốc, một trong hai
nước đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa và luôn tìm cách ôn hòa mối quan hệ
với nước này bằng cách vừa thể hiện sự tôn trọng và tạo lòng tin với Trung
Quốc vừa bảo vệ được lợi ích dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ.



bộ đảng anh em, trong đó có Việt Nam. Vì thế ngày 10-2-1963, Bộ Chính trị
Trung ương Đảng ra tuyên bố đề nghị các đảng anh em đình chỉ công kích
lẫn nhau trên báo chí và đài phát thanh, họp nhau đề khắc phục bất đồng.
Cũng trong năm 1963, những người lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cái gọi là
Cương lĩnh 25 điểm về đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế và
đề nghị triệu tập cái gọi là hội nghị 11 đảng cộng sản, thực tế là để nắm vai
trò "lãnh đạo cách mạng thế giới" và lập một "Quốc tế cộng sản" mới do
Bắc Kinh khống chế. Họ thiết tha yêu cầu Việt Nam đồng tình là cốt lợi
dụng uy tín và vai trò của Việt Nam trong phong trào cộng sản và phong trào
giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhằm mục đích này, họ còn hứa hẹn viện
trợ ồ ạt để lôi kéo Việt Nam. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Đặng
Tiểu Bình thông báo với lãnh đạo Viẹt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc
sẽ viên trợ 1 ti nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên
Xô. Phía Việt Nam đã khẳng định thái độ kiên quyết bảo vệ hệ thống xã hội
chủ nghĩa, không tán thành việc họp hội nghị 11 đảng và không để những
người lãnh đạo Bắc Kinh dùng đất nước Việt Nam làm bàn đạp cho mưu đồ
bành trướng của họ. Do thái độ kiên quyết của phía Việt Nam, Cương lĩnh
25 điểm không gây được tiếng vang, âm mưu lập "Quốc tế cộng sản" mới
cũng không thành.
Ban chấp hành Trung ương đã triệu tập Hội nghị trung ương 9 khóa 3 Đảng
Lao động Việt Nam, tháng 12/1963, đưa ra một nghị quyết “Về tình hình
thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Trong đó, Hội nghị nêu ra nhiệm
vụ của Đảng Lao Động Việt Nam cần chỉ trích và chống “chủ nghĩa xét lại”
của Liên Xô, dưới sức ép từ phía Trung Quốc. Qua đây, ta nhấn mạnh chính

6



Dựa trên những chính sách đối ngoại với Trung Quốc mà Đảng đã đề ra, ta đã
triển khai những chính sách này bằng những hành động cụ thể.
Từ sau năm 1950 khi lần đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với
Trung Quốc, Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách đối ngoại linh hoạt với
Trung Quốc. Năm 1955, ta mở Đại sứ quán ở Bắc Kinh. Năm 1957 trong cuộc
họp các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới nhân dịp kỷ niệm 40 năm
Cách mạng tháng mười và một số hội nghị quốc tế, khi đại biểu Trung Quốc
bị công kích thì đại biểu Việt Nam đã khôn khéo kiên cường bảo vệ bạn.
Ngày 1/10/1959: Hồ Chủ Tịch cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp sang thăm
Trung Quốc nhân dịp lỷ niệm 10 năm quốc khánh Trung Quốc. Trong những
cuộc đàm phán riêng, ta nhận được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moskva
để viện trợ thêm vũ khí và dân sự, nhưng cũng đã khôn khéo từ chối những đề
nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.
Năm 1964, ông Đặng Tiểu Bình với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
Trung Quốc, Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã bí mật sang thăm
Việt Nam với lời cam kết “sẽ bao toàn bộ viện trợ” của Liên Xô cho Việt
Nam, nếu Việt Nam đứng về phía Trung Quốc, nhưng lời đề nghị đó đã bị
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Lãnh đạo Việt Nam khôn khéo nhưng cương
quyết từ chối. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc thăm Hà
Nội và ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác quân sự Việt-Trung.
8


Tháng 8 năm 1966, cái gọi là “cách mạng văn hoá” của Trung Quốc công
khai bùng nổ. Đây là cuộc “nội chiến đẫm máu” kéo dài trong mười năm, gây
cho nhân dân Trung Quốc nhiều tổn thất to lớn về người và của. Mặc dù bị
“thúc giục ủng hộ” nhưng Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch đã lựa
chọn cách làm “không ủng hộ nhưng cũng không phản đối” như những nước
xã hội chủ nghĩa khác lúc đó.
Sau mấy năm thi hành hiệp định Geneve, chúng ta biết không thể thống nhất

IV – Đánh giá
Qua những chính sách trên, ta có thể thấy rằng Việt Nam trong thời kì kháng
chiến chống Mỹ đã đề cao vai trò của Trung Quốc, do đó đã có nhiều chính sách
nhằm gây dựng lòng tin với Trung Quốc, bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam và không
xâm hại tới lợi ích của nước bạn. Tuy chính sách đối ngoại của ta thể hiện được
mong muốn độc lập, tự chủ, kiên quyết nhưng cũng đã phần nào chịu nhiều tác
động từ sức ép của Trung Quốc.
Trước hết, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã thể hiện được sự tôn trọng
với Trung Quốc và tạo được lòng tin vững chắc với nước này. Chúng ta đã thành
công trong việc tạo dựng mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết giữa hai quốc gia.
Để đáp lại lòng tin ấy, Trung Quốc đã trợ giúp ta về mặt kinh tế, quân sự như gửi
viện trợ nhu yếu phẩm, vũ khí, nhân sự... Ta đã linh hoạt đàm phán với Trung
Quốc để chống lại Mỹ. Thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngoài việc
nhận viện trợ thì ta cũng bị Trung Quốc gây ra không ít sức ép, yêu cầu ta chống
lại Liên Xô. Tuy vậy, việc Việt Nam thân thiết với Trung Quốc là điều tất yếu, phù
10


hợp hoàn cảnh. Vì Trung Quốc lúc đó là láng giềng gần gũi với ta, có điều kiện
giúp đỡ nên ta phải tận dụng mối quan hệ này, đồng thời luôn dành sự ưu tiên cho
họ.
Ngoài ra, thông qua những chính sách trên, chúng ta đã nêu cao được tinh
thần độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích dân tộc, không xâm phạm đến lợi ích của nước
khác. Điều này được thể hiện trong việc lập luận rằng có thể tiến hành đánh du
kích ở miền Nam thay vì “trường kì mai phục” như Trung Quốc đề nghị và thái độ
kiên quyết bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa, không tán thành Quốc tế cộng sản
của Trung Quốc.
Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng có một số mặt chưa
được. Chính sách của ta ít nhiều bị chi phối bởi ý muốn của Trung Quốc. Khi ký
kết Hiệp định Geneva, ta đã tin vào phía Trung Quốc và không tỏ ý nghi ngờ

Hà Nội 10/1979
2. Dương Danh Dy - Chuyện ít biết về quan hệ Việt – Trung thời chống Mỹ
3. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
4. Melissa Smith and Mircea Munteanu
Christian Ostermann, Director, HAPP/WES - "The Vietnam-Soviet Union-China
Triangle Relations during the Vietnam War (1964-1973) from Vietnamese
Sources" with Pham Quang Minh

12


13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status