Tiểu luận: Chính sách đối ngoại Việt Nam trong nỗ lực gia nhập ASEAN (giai đoạn 1991-1995)
TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
TRONG NỖ LỰC GIA NHẬP ASEAN
(GIAI ĐOẠN 1991-1995)
Danh sách thành viên:
1. Nguyễn Quốc Nghĩa (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Thơm
3. Lê Ngọc Hà
4. Nguyễn Thị Thu Hằng
5. Trần Thị Thúy
6. Ngô Vân Khanh
7. Bùi Thị Phương Hiền
Trang 1
Tiểu luận: Chính sách đối ngoại Việt Nam trong nỗ lực gia nhập ASEAN (giai đoạn 1991-1995)
MỤC LỤC
Trang 2
Tiểu luận: Chính sách đối ngoại Việt Nam trong nỗ lực gia nhập ASEAN (giai đoạn 1991-1995)
Lời nói đầu
Từ sau Đại hội VII, các Hội nghị lần thứ hai và thứ ba Ban chấp hành TW Đảng ta
đã đánh giá diễn biến tình hình thế giới và khu vực cũng như những tác động của diễn biến
ấy đến chính sách đối ngoại của ta. Những diễn biến trong quan hệ quốc tế từ đó đến nay
càng khẳng định và cho thấy rõ thêm những đánh giá cơ bản về cục diện thế giới và những
xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế. Với thời gian, chúng ta ngày càng nhận thức được ý
nghĩa cực kì quan trọng của chính sách đối ngoại theo định hướng mới của Đảng và Nhà
nước ta. Hạt nhân của chính sách định hướng mới này là đường lối độc lập tự chủ và đa
dạng hóa được triển khai từ những tháng cuối năm 1991. Với định hướng này, chúng ta đã
và đang thực hiện một bước chuyển căn bản về tư duy và thực tiễn của hoạt động đối
ngoại. Kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, chúng ta lấy mục tiêu hòa bình và phát
triển làm chuẩn mực trong mọi hoạt động quốc tế của mình.
Để thực hiện mục tiêu ấy, trong khi triển khai đường lối đa dạng và đa phương hóa
gồm các phần Chính sách, Triển khai chính sách, Kết quả và đánh giá kết quả
triển khai chính sách.
- Phần III: Lí giải nỗ lực của Việt Nam trong việc gia nhập ASEAN vào thời
điểm này.
Những lý giải cho nỗ lực của Việt Nam trong việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á sớm hơn dự kiến sẽ là câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: “Tại sao Việt Nam
lại chọn thời điểm này mà không phải sớm hay muộn hơn để gia nhập ASEAN ?”.
Bối cảnh.
Tình hình quốc tế:
Cục diện thế giới giai đoạn này có sự thay đổi sâu sắc. Tháng 12/1991, Liên Xô tan
rã, khối Vacsava giải thể, “chiến tranh lạnh”kết thúc, thế giới với hai cực đối đầu không
còn.Cách mạng thế giới lâm vào giai đoạn thoái trào, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại
vẫn tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức mới.
Trong giai đọan này, nguy cơ chiến tranh thế giới có tính hủy diệt bị đẩy lùi. Xung
đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, và đặc biệt là nạn
khủng bố lại diễn ra ngày càng tăng ở nhiều khu vực. Tuy nhiên xu thế chủ đạo giai đoạn
này là các quốc gia cùng hòa bình hợp tác và phát triển. Xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội
nhập quốc tế ngày càng tăng tạo ra những cơ hội cho quá trình phát triển nhưng cũng có
những thách thức gay gắt đối với tất cả các nước.
Giai đoạn này cũng đánh dấu sự xuất hiện của một loạt những tổ chức khu vực như
Khu vực Tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực tự do thương mại (AFTA), Cộng
đồng phát triển miền Nam châu Phi (COMESA)… Hội nhập kinh tế giờ đây trở thành xu
thế tất yếu. Các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế vì kinh tế đang trở thành nhân tố quyết
định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia. Các nước cũng đẩy mạnh đa dạng hóa
quan hệ đối ngoại nhằm tạo thuận lợi cho an ninh và phát triển của mình. Có thể nói, đa
dạng hóa quan hệ chính trị và kinh tế trở thành một xu thế chủ đạo của đời sống quốc tế.
Tình hình khu vực:
Trang 4
Tiểu luận: Chính sách đối ngoại Việt Nam trong nỗ lực gia nhập ASEAN (giai đoạn 1991-1995)
Tình hình châu Á- Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng có nhiều
(1986-1991) tại Đại hội Đảng VI đã đạt được những thành tựu đáng kể trước hết thể hiện ở
đổi mới tư duy kinh tế, xóa cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế, điều chỉnh chính sách đối
ngoại thành đa phương hóa, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước….đề ra Cương lĩnh
Trang 5
Tiểu luận: Chính sách đối ngoại Việt Nam trong nỗ lực gia nhập ASEAN (giai đoạn 1991-1995)
chính trị cho thời kì mới (1991). Nước ta tiếp tục đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ về mọi
mặt cho kế hoạch 5 năm tiếp theo (1991-1996) tại Đại hội Đảng VII.
Chính sách đối ngoại Việt Nam đối với ASEAN (1991- 1995)
1. Mục tiêu, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo:
Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, mở rộng
quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến
phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện mới cần phải coi trọng và vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống
với yếu tố hiện đại.
Ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt
chế độ chính trị-xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.
Không ngừng củng cố và phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa
Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân Campuchia anh em.
Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn
trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Phấn đấu góp phần sớm đạt được
một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của
Cam-pu-chia và Hiến chương Liên hợp quốc.
Trong thời kỳ 1991-1996, khi vấn đề Campuchia đã cơ bản được giải quyết, Việt
Nam ngày càng có những mối quan hệ khăng khít hơn với các nước trong khu vực. Nhận
thức được sự mở ra một thời kì mới và rút kinh nghiệm từ kết quả của những chính sách
trong giai đoạn 1986-1991, Đại hội VII đã tuyên bố:”Chúng ta chủ trương hợp tác bình
đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau