CHUYÊN ĐỀ
SỰ KHÁC BIỆT CỦA CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN
VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC Ở PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH
Thực hiện: Tổ Ngữ văn - Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Ý NGHĨA KHOA HỌC
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học nhân loại, chủ nghĩa lãng mạn và
chủ nghĩa hiện thực được đánh giá là những trào lưu văn học lớn. Đó là những trào
lưu có sức cuốn hút, tập hợp nhiều cây bút xuất sắc từ nhiều nền văn học khác nhau.
Tên tuổi cùng những tác phẩm độc đáo của các nhà văn lãng mạn và hiện thực tiêu
biểu có sức hấp dẫn lớn không chỉ đối với đương thời mà còn với nhiều thế hệ người
đọc hôm nay và mai sau.
Ngay từ khi mới ra đời, các tác phẩm thuộc hai trào lưu văn học này đã thu hút
sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học. Đã xuất hiện hàng
trăm công trình nghiên cứu văn học xung quanh những vấn đề của chủ nghĩa lãng mạn
và chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, phần lớn mới chỉ chú ý đến
một số tác gia và những tác phẩm cụ thể, còn ít những công trình nghiên cứu chỉ ra sự
khác biệt về phương pháp sáng tác của hai trào lưu văn học bề thế này.
Tìm hiểu sự khác biệt của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ở phương
thức phản ánh, chúng tôi muốn có được góc nhìn hướng về chiều sâu để nắm bắt đầy
đủ hơn về đối tượng nghiên cứu. Không chỉ thấy được nguyên nhân dẫn tới sự khác
biệt, chúng tôi muốn đi vào từng biểu hiện của sự khác biệt về phương thức phản ánh
ở hai trào lưu văn học này để vừa có cái nhìn bao quát về bức tranh văn học chung
vừa có thể vận dụng những lí thuyết ấy tiến hành nghiên cứu một tác phẩm cụ thể.
1
2
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo gồm bốn
mục:
1. Khái niệm “phương thức”, “phương thức phản ánh”
2. Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt về phương thức phản ánh của chủ nghĩa lãng
mạn và chủ nghĩa hiện thực
3. So sánh sự khác biệt về phương thức phản ánh của chủ nghĩa lãng mạn và chủ
nghĩa hiện thực
4. Một số bài tập để nhận ra sự khác biệt về phương thức phản ánh của chủ nghĩa
lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực
3
PHẦN NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM “PHƯƠNG THỨC”, “PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH”
1.1. Phương thức: nói một cách tổng quát là cách thức và phương pháp (Theo Từ điển
Tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên)
1.2. Phương thức phản ánh: hiểu một cách ngắn gọn là cách thức và phương pháp
phản ánh của văn học.
1.3. Văn học là một loại hình sáng tác nhằm tái hiện những vấn đề của đời sống và
con người. Phương thức phản ánh hay phương thức sáng tạo của văn học được thông
qua sự hư cấu, được biểu hiện qua phương tiện ngôn ngữ.
2. NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT VỀ PHƯƠNG THỨC PHẢN
ÁNH CỦA CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
2.1. VỀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH
2.1.1. Cơ sở hình thành và ý thức xã hội của chủ nghĩa lãng mạn
Chủ nghĩa hiện thực tìm thấy vũ khí tư tưởng và tinh thần ở thành tựu của
nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên đương thời như: chủ nghĩa duy vật
thế kỉ XIX mà đỉnh cao là triết học Phơ-bách đã giúp cho nhà văn nhìn nhận được
những sự thật trần thế. Xã hội học của Ôwen và Phuriê đã làm cho nhà văn không thể
không quan tâm đến những mâu thuẫn và áp bức giai cấp. Sử học của Giđô, Minhê,
Chiery cũng phần nào vạch rõ đấu tranh giai cấp như một động lực của lịch sử. Phép
biện chứng sâu sắc của Hê-ghen, tiến hóa luận của Đác-uyn đã vạch rõ sự biến chuyển
tiến hóa của mọi sự vật và hiện tượng đời sống….Tất cả những mối tác động đó - thực
tại cũng như ý thức - cô kết lại đã hình thành trong tư duy của nhà văn tiến bộ đương
thời nguyên tắc lịch sử - cụ thể.
2.2. VỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, QUAN ĐIỂM THẨM MĨ
2.2.1. Quan niệm nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ của chủ nghĩa lãng mạn
2.2.1.1. Quan niệm nghệ thuật
"Chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực tô vẽ hiện thực, hòng làm cho con người thỏa
hiệp với hiện thực, chạy trốn vào cõi sâu xa vô ích của thế giới nội tâm bản thân,
chạy trốn vào cõi mê muội của số kiếp con người với những tư tưởng về tình yêu và
cái chết" (Gor-ki). Con người lí tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát li thực tế
chạy về với quá khứ, hoặc đi vào ảo mộng, hoặc trốn trong cái “tôi” nhỏ bé. Trái lại,
con người lí tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tích cực luôn bất bình và lên án chủ nghĩa
tư bản đã chà đạp quyền sống và phẩm chất của con người, nêu cái lí tưởng tiến bộ
không tưởng.
5
Về đặc trưng và biện pháp nghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn tích cực không "mô
phỏng tự nhiên", không tái hiện mà phát huy đến cao độ kiểu sáng tác tái tạo "Nghệ
thuật không phải là sự mô tả thực tại có thực mà là sự tìm tòi chân lí lí tưởng"
(Giorgiơ Xăng).
2.2.1.2. Quan niệm thẩm mĩ
Ở Việt Nam từ thế kỉ XVIII trở đi hình thành nên một quan niệm văn học hiện
thực và nhân dân, đối lập với "văn dĩ tải đạo" của vua quan triều Nguyễn. Không chủ
trương "thi dĩ ngôn chí", Lê Quý Đôn cho làm thơ phải gắn với ba điểm "một là tình,
hai là cảnh, ba là sự. Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán
thông" (Vân đài loại ngữ). Phan Huy Chú chủ trương nhà văn không chỉ đọc sách sâu
rộng, mà còn phải đi sâu nghiên cứu cuộc sống. Quan niệm văn học phải gắn bó với
cuộc đời đi liền với văn học phải gắn với vận mệnh của nhân dân. Có lẽ vì thế mà
vượt lên trên sự phân biệt đề tài thiếu dân chủ của mĩ học phong kiến, Ngô Thời Chí
đã gắn liền cái đẹp trong văn nghệ với cảnh đời bình dân và cùng dân.
2.2.2.2. Quan niệm thẩm mĩ
Chủ nghĩa hiện thực đã phát huy cao độ kiểu sáng tác tái hiện, xem văn học
như "một tấm gương xê dịch trên con đường lớn" (Xtan-đan) và nhà văn là "người thư
kí trung thành của thời đại" ( Ban-zăc). Với quan niệm này, đề tài mở rộng chưa từng
có, chi tiết chân thực trở nên hết sức dồi dào góp phần tạo nên chức năng nhận thức to
lớn của nó. Khác với chủ nghĩa tự nhiên, chi tiết chân thực ở đây, ngoài ý nghĩa tương
đối độc lập, chủ yếu nhằm phục vụ cho việc tái kiện tính cách và hoàn cảnh điển hình,
cho nên tự nó cũng được điển hình hóa.
3. SO SÁNH SỰ KHÁC BIỆT CỦA CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN VÀ CHỦ
NGHĨA HIỆN THỰC VỀ PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH
3.1. SỰ KHÁC BIỆT VỀ PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CUỘC
SỐNG
Phản ánh hiện thực cuộc sống là nhiệm vụ của văn học. Hiện thực cuộc sống là
vũ trụ, thiên nhiên, con người, văn hoá, đồ vật…được nhà văn chiếm lĩnh và thể hiện
trong tác phẩm của mình. Nó đã đi vào tác phẩm văn học thông qua lăng kính chủ
quan của người nghệ sĩ, phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn. Vì thế,
mỗi tác giả văn học lại có cách thức phản ánh hiện thực đời sống khác nhau, thể hiện
sự khác nhau của các trào lưu văn học, các phương pháp sáng tác. Đối với trào lưu
sáng tác lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ nghĩa cũng vậy, nó luôn có những
phương tiện và cách thức riêng để phản ánh hiện thực cuộc sống. Với nguyên tắc chủ
quan, chủ nghĩa lãng mạn miêu tả hiện thực cuộc sống như nó nên có, cần có, hiện
những giấc mộng trong thơ Nguyễn Bính, thế giới của tình yêu trong thơ Lưu Trọng
Lư… Chẳng thế mà Hoài Thanh đã nhận xét “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi.
Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh. Ta thoát lên tiên
cùng Thế Lữ, ta phiêu diêu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng
Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép,
tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về
8
hồn ta cùng Huy Cận” (Thi nhân Việt Nam). Chỉ một đoạn văn ngắn, Hoài Thanh đã
khát quát được cái tinh thần của văn học lãng mạn, thoát li thực tại và trốn tránh vào
thế giới riêng với một tâm hồn cô đơn. Hơn nữa, vì vẽ lên bằng trí tưởng tưởng, bức
tranh thiên nhiên trong văn học lãng mạn đôi khi mơ hồ, phủ màu sương khói dù nó
vẫn có những chi tiết hiện thực. Khi phải sống cách biệt với thế giới bên ngoài do
bệnh tật, nhìn bức ảnh của người bạn gái gửi tặng mà thi nhân Hàn Mặc Tử đã vẽ lên
cả một bức tranh thôn Vĩ đẹp vừa thực lại vừa huyền ảo, lung linh trong thi phẩm Đây
thôn Vĩ Dạ. Ở đây, những hồi ức về xứ Huế hoà trong tình yêu với con người xứ
mộng mơ và nỗi niềm da diết của thi nhân, bức tranh thiên nhiên hiện lên khi thì trong
sáng, tinh khôi “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như
ngọc”, khi thì mộng ảo, lung linh “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về
kịp tối nay”, khi thì hư ảo, siêu thực “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”.
Hơn nữa, để hiện thực hoá bức tranh thiên nhiên trong tác phẩm của mình, các
nhà văn lãng mạn sử dụng triệt để nghệ thuật tương phản. Nghệ thuật tương phản là
làm nổi bật những thuộc tính đối lập nhau của sự vật và hiện tượng qua đó làm nổi bật
đặc điểm của từng đối tượng, gây ấn tượng mãnh mẽ về đối tượng, hướng tới những
khám phá và phát hiện về cái khác thường, dị thường của đối tượng. Nghệ thuật miêu
tả tương phản – bút pháp của chủ nghĩa lãng mạn thường được sử dụng để tái hiện đời
sống và thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Sự tương phản này được xây dựng ở
nhiều cấp độ khác nhau từ nội dung đến hình thức nghệ thuật.
trụ. Chính sự đối lập này đã khắc hoạ hình tượng nhân vật trữ tình mang tâm trạng
buồn, cô liêu trước sự mênh mông của trời đất vũ trụ, thể hiện nghệ thuật đối của
Đường thi, khiến bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa mang vẻ đẹp hiện đại. Ngay
trong một câu thơ, tác giả luôn sử dụng nghệ thuật tiểu đối để diễn tả nội dung cảm
xúc:
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Cặp tiểu đối nắng xuống – trời lên vừa mở ra chiều cao mênh mông đến thăm
thẳm của bầu trời vừa diễn tả nỗi cô đơn của cái tôi, đặc biệt là sự rợn ngợp của con
người hữu hạn trước một vũ trụ vô biên. Câu trên mới chỉ diễn tả cái cô đơn bởi chiều
cao vô cùng của bầu trời thì câu dưới với cặp tiểu đối sông dài – trời rộng kết hợp với
nhịp thơ 2/2/3, nhấn mạnh vào các tính từ miêu tả không gian đã cực tả nỗi bâng
khuâng sầu muộn của cái tôi trữ tình trước sự hững hờ của tạo vật. Từ đó, bài thơ khắc
hoạ rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình đầy cô đơn, lẻ loi trước hiện tại – kiểu nhân vật
chủ yếu của văn học lãng mạn - bằng nghệ thuật đặc trưng của nó – nghệ thuật tương
phản, đối lập.
10
Đặc biệt, các tác giả của chủ nghĩa lãng mạn đã tìm đến nghệ thuật tượng
trưng, xây dựng những hình ảnh biểu tượng để “không chỉ để diễn tả cuộc sống bình
thường mà là những kí hiệu của đời sống siêu nhiên nhưng phát lộ về thế giới ám ảnh
của những giấc mơ. Câu thơ tượng trưng có sức gợi rộng lớn của âm nhạc, lời thơ
tượng trưng có sự phong phú của cảm giác giao hoà” ( dẫn theo bài “Đọc lại Điêu tàn
của Chế Lan Viên từ giác độ các biểu tượng nghệ thuật nổi bật” - Nguyễn Thanh
Tùng). Những hình ảnh này có sức chứa lớn về cảm xúc, không chỉ góp phần bộc lộ
nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng như toàn bộ sáng tác của tác giả.
Trong phong trào thơ Mới, các tác giả sử dụng nhiều hình ảnh biểu tưởng để
diễn đạt nội dung. Biểu tượng “Trăng” xuất hiện trong thơ của Xuân Diệu là “nàng
mình là người quan sát tự nhiên chăm chú, muốn phát hiện những bí mật và vẻ đẹp
của nó. Nhà văn lãng mạn muốn tự thể hiện mình trong tác phẩm, còn tác giả hiện
thực lại muốn là khách quan”. (N.I. Coonrrat). Vì thế, những bức tranh thiên nhiên
trong văn học hiện thực thường gắn với việc thể hiện tâm lí nhân vật và phong cách
nghệ thuật của nhà văn. Thiên nhiên trong tác phẩm của Nam Cao thường gắn với thế
giới nội tâm nhân vật như nhà nghiên cứu Hà Minh Đức có nhận xét “Tuy ít miêu tả
cảnh vật thiên nhiên nhưng Nam Cao lại biết kết hợp việc miêu tả cảnh vật thiên
nhiên với trạng thái tâm hồn nhân vật” (dẫn theo Trần Đăng Suyền). Chuẩn bị cho
tâm trạng xốn xang của nhân vật trong lần gặp gỡ đầu tiên của Chí Phèo và Thị Nở,
tác giả đã kế thừa nghệ thuật miêu tả cảnh của chủ nghĩa lãng mạn để dựng lên cảnh
đêm trăng vừa chân thực lại vừa đẫm chất thơ. Trong đôi mắt ngà say của Chí, cảnh
hiện lên khác hẳn “Những đêm trăng như thế này, cái vườn phẳng ngổn ngang những
bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi. Và những tàu chuối
nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh
thoảng bị gió lay lại giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Hay cảnh đêm trăng cũng
thật thơ mộng được nhìn bởi đôi mắt tình tứ “Chiều hôm ấy Thị Nở cũng ra sông kín
nước như mọi chiều. Nhưng chiều hôm ấy, trăng lại sáng hơn mọi chiều, trăng toả
trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng. Những vàng ấy rung rung mới trong thì
đẹp, nhưng trông lâu thì mỏi mắt (…) Trăng vẫn thức, vẫn trong trẻo… Trăng rắc bụi
trên sông, và sông gợn biết bao nhiêu vàng”. Người ta nhận thấy phảng phất đâu đây
âm hưởng dịu nhẹ, du dương những câu văn của chủ nghĩa lãng mạn viết về cảnh đêm
trăng ở làng quê với cách dùng động từ độc đáo “trăng toả”, “sông gợn”, “trăng
rắc”… Cách lựa chọn hình ảnh, cách sử dụng câu văn ngắn, dứt khoát phù hợp với
tâm trạng của nhân vật. Bức tranh thiên nhiên thơ mộng nhưng vẫn mang màu sắc
của chủ nghĩa hiện thực: chân thật tới từng chi tiết. Khi thể hiện sự thay đổi trong
nhận thức của Chí Phèo về hiện tại, sự thức tỉnh của Chí về thời gian, không gian,
12
đất chỉ còn rác rưởi, vở bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi
13
nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là
mùi riêng của đất, của quê hương này”. Chỉ bằng vài nét chấm phá chợ vãn, tiếng ồn
ào mất, rác rưởi trên đất… nhà văn đã gợi lên bức tranh phố huyện xơ xác, tiêu điều,
nghèo nàn. Cảnh ấy được nhìn bằng đôi mắt của Liên, chị không chỉ thấy cái hiện
thực cuộc sống mà quan trọng là bằng sức mạnh của liên tưởng cảm giác, Liên cảm
nhận được “hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá khiến chị em
Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” - mùi của khó nghèo, cơ cực,
lam lũ. Đồng thời, cảnh ấy đã dấy lên trong tâm hồn ngây thơ, nhân hậu của cô bé
những tình cảm thật đáng quý: nhìn những đứa trẻ con nhà nghèo, Liên trông thấy
động lòng thương…. Những con người phố huyện cũng được tái hiện bằng vài ba
bóng người bằng những câu văn kể xem lẫn tả, mẹ con chị Tí, bà cụ Thi điên, gia đình
bác xẩm, gánh phở bác Siêu. Những từ ngữ được lặp lại như chiều nào, ngày nào,
đêm nào, nhìn chấm lửa nhỏ đi trong đêm, An biết ngay đấy là gánh phở của bác
Siêu… đã nhấn mạnh nhịp điệu sống quẩn quanh, tù túng của chị em Liên cũng như
con người nơi phố huyện trong hiện tại. Nhưng các nhà văn của chủ nghĩa lãng mạn
không dừng lại ở đó, bằng nghệ thuật liên tưởng, nhà văn vẽ lên một không gian sống
thứ hai – không gian Hà Nội trong kí ức của hai đứa trẻ. Hình ảnh gánh phở của bác
Siêu trong hiện tại gợi lên trong tâm hồn Liên những kỉ niệm tuổi thơ. Đó là cuộc
sống khác - rực rỡ ánh sáng, giàu sang, sung túc ngày ba chưa bị mất việc, “ chị được
hưởng những thứ quà ngon, lạ (…) được đi chơi Bờ Hồ, được uống những cốc nước
lạnh xanh đỏ”. Hình ảnh đoàn tàu đi qua trong đêm khiến “Liên lặng theo mơ tưởng.
Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Con tàu như đem một thế giới
khác đi qua – đó là thế giới của khát vọng với niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn
của Liên cũng như của những con người đang cầm cự trong bóng tối mênh mông của
cuộc đời. Nhà văn xót xa mà thốt lên “Chừng ấy con người trong bóng tối mơ ước
đỏ, Cơm thầy cơm cô, Lấy nhau vì tình…
Đặc biệt, chủ nghĩa hiện thực đã sử dụng bút pháp nghệ thuật tả thực để mô tả
thế giới xung quanh. Bởi nhà văn hiện thực quan niệm “Tiểu thuyết sẽ không là gì cả
(…) nếu nó không chân thật trong từng chi tiết” (Ban-zac trong bài Tựa “Tấn trò
đời”). Bức tranh đời sống xã hội được mô tả bằng những chi tiết hiện thực khách
quan. Trong tác phẩm Lão Gô-ri-ô, đó là xã hội thượng lưu thu nhỏ tại phòng khách
của bà tử tước Đơ Bô - xê - ăng, bà bá tước Đơ Re-xtô, bà chủ ngân hàng Đơ Nuyxinh-gen…Đó là xã hội bình dân nghèo khổ ở chốn thành thị thu nhỏ trong quán trọ
của bà Vô-ke. Đấy là một xó xỉnh không ai biết đến trong “đại dương” Pa-ri mênh
mông, nơi tàng ẩn của những kẻ bị cơn bão đời xô dạt hay những kẻ nấp chờ cơ hội
xông ra cuộc sống. Tác giả đã lựa chọn từng chi tiết chân thực để phơi bày sự tàn tạ,
15
tù túng, nghèo nàn của quán trọ. “Ngôi nhà trọ gồm có ba tầng, những phòng trên
cùng có mái được xây bằng đá và quét một lớp ve vàng, thế là tự nó bỗng dưng tạo ra
cho bản thân một sự hèn kém so với tất cả những ngôi nhà thời ấy ở Paris. Những tấm
rèm che các khung kính của năm ô cửa sổ không cái nào giống cái nào nghĩa là mỗi
cái một màu, chẳng hề ăn nhập vào nhau”. Banzac còn đặc tả từ phòng khách “được
trang bị bởi những chiếc ghế bành và ghế tựa bọc vải nhồi sợi chỗ xỉn chỗ sáng” đến
phòng ăn “Lò sưởi bằng đá, mặt bếp sạch sẽ đã chứng thực nó chỉ được đốt lửa vào
những dịp trọng đại, người ta trang trí bếp lò bằng hai bình cắm đầy hoa giả cũ mèm
đi kèm với một chiếc đồng hồ quả lắc bằng đá hoa cương màu xanh nhạt còn kém
thẩm mĩ hơn”. Đặc biệt, nó gây ấn tượng bởi “tỏa ra một thứ mùi không có tên gọi
trong ngôn ngữ và có lẽ nên gọi là mùi nhà trọ”. Một thứ mùi “có vẻ như mùi của
chỗ không thoáng khí, mùi mốc, mùi oi khét; nó tạo ra sự lạnh lẽo, ẩm ướt xông lên
mũi, nó xâm nhập vào quần áo; nó có mùi vị như tất cả các mùi vị hợp lại: mùi nhà tế
bần”. Chỉ qua những chi tiết miêu tả khách quan, chính xác này, quán trọ của bà Vô
-ke hiện lên với tất cả sự cũ kĩ, yếu ớt, què cụt, tồi tàn, hoang phế, hấp hối. Con người
trong quán trọ không nhiều nhưng là những người lạnh lẽo, vô cảm và đáng thương
nhau”, “trò chuyện với nhau”. Người đi đưa đám toàn là giai thanh gái lịch của Hà
thành nên “họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen
tuông nhau, hẹn hò nhau… bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa
ma…” Lời lẽ của tác giả thì bình thản, nhẹ nhàng mà chua chát, sắc lạnh. Sự vô đạo,
giả dối của xã hội thượng lưu thành thị đương thời đang hé lộ dưới lớp ngôn từ trào
phúng mỉa mai của tác giả.
Như vậy, cùng phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng mỗi xu hướng văn học lại
có phương thức phản ánh khác nhau. Điều này đã làm nên tính đa dạng trong bút pháp
nghệ thuật của văn học.
3.2. KHÁC NHAU VỀ PHƯƠNG THỨC PHẢN ÁNH CON NGƯỜI
“Văn học là nhân học”, là nghệ thuật miêu tả và biểu hiện con người. Con
người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù viết về vật, ma quỷ, thần linh… cũng đều
tập trung thể hiện hình ảnh con người. Trong một tác phẩm văn học, nhân vật là hình
thức cơ bản để miêu tả con người. “Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là hình
thức cơ bản để qua đó nhà văn mô tả thế giới một cách hình tượng và hình tượng này
với người nghệ sĩ là phương thức đặc biệt để nhận thức và phản ánh cuộc sống” (trích
Lí luận văn học, Phương Lựu chủ biên). Mỗi xu hướng văn học khác nhau luôn có sự
tìm tòi và sáng tạo trong thi pháp xây dựng hình tượng nhân vật, thể hiện con người
trong tác phẩm của mình.
3.2.1. Về phương thức phản ánh con người của chủ nghĩa lãng mạn
17
Nhân vật trung tâm của chủ nghĩa lãng mạn tích cực là những con người phản
kháng, những chiến sĩ đấu tranh đòi giải phóng nhân loại bị áp bức, hướng về một
tương lai tốt đẹp nhưng còn mơ hồ, theo đuổi một lí tưởng tích cực mặc dù rất không
tưởng. Vì thế, chủ nghĩa lãng mạn luôn phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng đa
dạng bút pháp nghệ thuật để xây dựng hình tượng nhân vật lí tưởng.
Với quan niệm “Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật” (Vichto Huygo),
tâm nhân vật như tác giả Bielinxki đã viết “Chủ nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội
tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim”. Chính đặc điểm này mà thể loại
được ưa dùng của chủ nghĩa lãng mạn là thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình. Các tác giả
thường đi vào diễn tả những cảm giác tinh tế bên trong của nhân vật trữ tình. Bức
tranh phố huyện và cuộc sống của con người trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch
Lam được khúc xạ qua cái nhìn của nhân vật Liên. Vì thế, lời văn của tác giả tập trung
miêu tả cảm giác, cảm tưởng của nhân vật Liên, làm cho bức tranh phố huyện cũng là
bức tranh tâm trạng, như được dệt bằng cảm giác. Lời văn láy đi láy lại một số từ ngữ
chỉ hành vi tâm lí của nhân vật “Liên thấy…”, “Liên nhìn…”, “Liên cảm thấy…”,
“Liên dõi theo…”, “Liên nhớ lại…”, các trạng thái tâm hồn được khắc hoạ “buồn man
mác”, “mong đợi”, “mơ tưởng”…, những câu văn giàu hình ảnh, nhạc điệu, đậm chất
trữ tình “Chiều. Chiều rồi…”, “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như
nhung”… Trong thơ trữ tình của các tác giả lãng mạn thì điều này được thể hiện rất rõ
nét. Các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lưu đã học được trong thơ
Baudelaire, Verlaine lối diễn tả tinh tế bằng cảm giác.
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.
(Lời kĩ nữ - Xuân Diệu)
Hay
Mây trắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình.
(Nguyệt cầm - Xuân Diệu)
Những câu thơ tiêu biểu cho lối cảm xúc riêng của một tâm hồn rất đỗi nhạy
cảm, tinh tế Xuân Diệu. Các nhà thơ lãng mạn thường hay sử dụng các câu văn giàu
hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá… để diễn tả tâm
trạng của nhân vật trữ tình.
Đặc biệt, các nhà văn lãng mạn luôn chú ý tới nghệ thuật miêu tả diễn biến
tâm trạng để khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của nhân vật. Chỉ có điều, diễn
biến tâm lí nhân vật không phù hợp với quy luật biện chứng của tâm lí mà phù hợp
với logic chủ quan của nhà văn lãng mạn, mong muốn xây dựng một thế giới lí tưởng
toả sáng lạ thường ở chốn ngục tù, tử tù nhưng lại rất tài hoa, tử tù nhưng khí phách
phi thường, tử tù nhưng thiên lương trong sáng. Tâm trạng của ông trong những ngày
cuối cùng ở trại giam “có nhiều đêm, ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông
Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục…”. Quản ngục cũng
là nhân vật đặc biệt ở chốn lao tù - nơi con người quen sống bằng lừa lọc, tàn nhẫn.
20
Tâm trạng của quản ngục trong đêm đầu trước khi nhận tù mới không phải là các
“mánh khoé hành hạ” đối với một kẻ thủ xướng mà là khuôn mặt nghĩ ngợi, dáng băn
khoăn ngồi bóp thái dương, vừa kính phục vừa tiếc nuối một tử tù viết chữ đẹp. Rồi,
tâm trạng giày vò quản ngục trong những ngày tiếp theo đó là: làm thế nào để tiếp xúc
được, trở thành tri kỉ của Huấn Cao, để xin được mấy chữ của ông Huấn mà treo ở
trong nhà. “Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình,
dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp
mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà
không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất.” Điều đó, dẫn đến thái độ khác
thường của quan ngục khi nghe tin tử tù ngày mai ra pháp trường – quan ngục tái
nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn – và dẫn tới cảnh cho chữ - sự thăng hoa của
cái đẹp, cái tài hoa và khí phách, thiên lương trong sáng. Khao khát xin được chữ của
Huấn Cao đã khiến quan ngục – người đại diện cho pháp luật triều đình –bất chấp cả
luật pháp triều đình. Như vậy, hai nhân vật với tâm trạng lạ thường, hành động khác
thường đã thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân: cái đẹp cứu rỗi nhân thế.
Quan niệm về cái đẹp này phù hợp với quan niệm thẩm mỹ mà Kant đã phát biểu “cái
đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở đôi mắt của kẻ si tình”
Như vậy, nhân vật và nội tâm của nhân vật trong văn học lãng mạn được miêu
tả như mong muốn của nhà văn. Các nhà văn phát huy cao độ trí tưởng tưởng, lời văn
phóng túng, linh hoạt uyển chuyển giàu chất thơ, nhạc, hoạ, sử dụng đa dạng các biện
pháp tu từ nghệ thuật để xây dựng nhân vật.
thế. Trông gớm chết” (Chí Phèo). Không dừng lại ở đó, nhà văn đặc tả cả hành động
liều lĩnh (châm lửa đốt quán rượu sau khi uống xong không trả tiền), lời nói (ăn vạ ở
cổng nhà Bá Kiến). Chỉ bấy nhiêu chi tiết thôi, tác giả đã khắc hoạ thật ấn tượng về
một “con quỷ dữ làng Vũ Đại” – Chí Phèo, một kẻ méo mó về hình hài và nhân cách
bằng giọng văn lạnh lùng, khách quan mà đầy thương xót.
Đối với nhà văn Balzac cũng thế, ông đã dùng chính sự thay đổi về ngoại hình
nhân vật để bộc lộ số phận bất hạnh của nhân vật. Lúc mới tới quán trọ, lão là một kẻ
giàu có “Lão Girio đeo trên cái lá sen có gắn liền định trước ngực hai chiếc ghim
gắn liền với nhau bởi một sợi dây chuyền nhỏ, mỗi chiếc có gắn liền một viên kim
cương lớn. Thường đóng bộ mầu xanh nhạt, mỗi ngày lão mặc một chiếc ghi – lê
bằng vải pích – kê, làm cho chiếc dây chuyền vàng nạng trĩu, dây đeo chìa khoá như
nảy lên” (Lão Gorio). Sự giàu có của ông lão khiến cư dân quán trọ phải trầm trồ,
ngưỡng mộ. Ngoại hình nhân vật được nhà văn chú ý “bắp chân lão đầy thịt”, “chiếc
mũ dài thẳng”, “mái tóc uốn lượn như cánh chim bồ câu”, “cái trán thấp thành hai
22
mũi nhọn làm cho khuôn mặt lão rất dễ coi”, “dù hơi cục mịch nhưng lão ăn mặc rất
trau chuốt, lão hút thuốc theo kiểu rất giàu có”. Năm thứ ba, lão không còn hút thuốc
nữa, lão để mặc cho “mầu tóc xám bạc lem nhem”,“quần áo bị sờn, lão mua những
mảnh vải trúc bâu rẻ tiền để thay thế những cái cũ”,“Lão đã phải từ bỏ bộ quần áo
mầu xanh, những bộ đồng phục giàu có để mặc áo ri-đinh-got bằng dạ màu vàng
nặng nhọc, cả mùa đông cũng như màu hè, một áo gi lê bằng lông dê, một chiếc quần
xám bằng len”. Đến năm thứ tư,“đôi mắt màu xanh vốn lanh lợi đã hơi lờ đờ, nhuộm
màu xám xịt,chúng có vẻ bị mờ đi, không còn chảy nước mắt nữa, viền mắt đỏ như
màu máu”. Sự thay đổi ngoại diện đã thể hiện rõ sự sa sút, nghèo nàn tới mức thảm
hại của nhân vật. Chính sự bòn rút vô lương tâm của những cô con gái đã khiến người
cha rơi vào cảnh bần hàn bậc nhất trong xã hội. Như vậy, thông qua ngoại hình, trang
phục, nhà văn hiện thực đã dự báo về số phận thê thảm của nhân vật.
bề ngoài, đôi khi kết hợp với thủ pháp tương phản, nghệ thuật phóng đại nhằm làm
nổi bật hơn bao giờ hết sự trái ngược giữa bên ngoài với bên trong của nhân vật.
Ngoại hình nhân vật Thị Nở được nhà văn phóng đại tới mức đỉnh điểm, đặc tả từng
chi tiết để tô đậm cái xấu xí về hình thức, cái cao thượng về tâm hồn ở thị. Cái mặt thì
“ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng tượng bề ngang hơn bề dài”, hai cái má thì hóp
lại, “Cái mũi vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh
muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to không thua cái mũ”. Nhan sắc của
thị thật là “xấu ma chê quỷ hờn” như Nam Cao đã phải thốt lên trong tác phẩm. Hơn
nữa, nhà văn có dụng ý đối lập thị với dân làng Vũ Đại – những con người hài hoà về
hình thức nhưng ráo hoảnh về tâm hồn. Chính tình yêu thương của thị đã cứu vớt phần
lương tâm trong con người Chí, giúp Chí khao khát trở lại làm người lương thiện. Và
sự từ chối tình yêu của Thị lại làm nổi bật thêm cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
người của Chí Phèo. Như vậy, khắc hoạ ngoại hình nhân vật là một dụng công nghệ
thuật của nhà văn Nam Cao khi thể hiện tính cách và số phận nhân vật.
Ngòi bút của nhà văn còn thể hiện một cách phong phú những biến thái tâm lí
phức tạp của nhân vật, những hiện tượng lưỡng tính dở say, dở tỉnh, dở khóc, dở cười,
mấp mé gianh giới giữa thiện và ác, giữa hiền với dữ, giữa con người và con vật.
Nhân vật Chí vật vã, thăng trầm đi giữa hai bờ say – tỉnh, lương thiện – lương manh,
vô thức – ý thức, trên ranh giới mong manh giữa con người và con vật… (theo
Nguyễn Quang Trung). Từ một anh canh điền hiền lành, Chí trở thành “con quỷ dữ
làng Vũ Đại”. Nhưng trong linh hồn của con quỷ dữ Chí Phèo luôn có ánh sáng của
lương tâm con người. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở, tình yêu của Thị đã đánh thức dậy
khát vọng và ý thức làm người chân chính trong con người Chí. Hắn chết trên ngưỡng
cửa trở về với cuộc đời. Vậy là, Chí không phải là kẻ mất trí, một con quỷ dữ mà là
24
con người tỉnh táo nhất làng Vũ Đại. Sống trong ao đời tù túng, ngột ngạt của làng Vũ
Đại lúc đó, Chí không có con đường sống nào khác là phải chết phần thể xác để sống
25