LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006 đánh dấu 20 năm đổi mới của Đảng và Nhà nước và kết quả là
thành tựu mà công cuộc đổi mới mang lại là vô cùng lớn. Đồng thời bước sang
thế kỷ mới, thế kỷ 21 – một thế kỷ đánh dấu sự phát triển của toàn nhân loại. Hoà
nhịp cùng xu thế phát triển ấy, Việt Nam cũng đang có những bước đi vững chắc
trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Có thể nhận định rằng trong những năm qua, nền kinh tế thị trường
Việt Nam đã đạt được những thành tựu khả quan, từng bước tạo điều kiện cho
nước ta tham gia, hoà nhập vào nền kinh tế rộng lớn của thế giới đang diễn ra một
cách năng động, đa dạng và sâu sắc. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thế
giới trong xu hướng toàn cầu hoá đem lại rất nhiều có hội nhưng cũng không ít
thách thức và rủi ro cho hoạt động kinh tế của Việt Nam nói chung và của ngành
ngân hàng nói riêng.
Ngành ngân hàng với nhiều hoạt động truyền thống như hoạt động huy
động vốn, hoạt động đầu tư cho vay thì một số hoạt động mới cũng ra đời đáp
ứng đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế. Hoạt động bảo lãnh cũng là một hoạt động
ra đời theo yêu cầu đó - yêu cầu khách quan và chủ quan hạn chế rủi ro trong
hoạt động kinh doanh nhằm phòng ngừa rủi ro, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh
doanh thông qua việc đảm bảo cho khách hàng bằng uy tín của ngân hàng. Hoạt
động bảo lãnh không những tạo điều kiện cho khách hàng nắm bắt được các cơ
hội kinh doanh mà còn nâng cao uy tín cũng như vị thế của ngân hàng trong khu
vực và trên thế giới.
Tuy nghiệp vụ bảo lãnh quan trọng như vậy nhưng so với các nghiệp vụ
truyền thống khác thì nghiệp vụ bảo lãnh còn khá mới mẻ. Do đó, nghiệp vụ bảo
lãnh chưa được hoàn thiện về mặt quy trình, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của cán bộ, một số loại hình bảo lãnh và các sản phẩm từ hoạt động bảo lãnh vẫn
chưa được thực hiện. Đôi khi, rủi ro phát sinh ngay từ chính bản thân doanh
Chuyên đề thực tập
nghiệp. Xuất phát từ những lý do đó, việc phát triển hoạt động bảo lãnh theo
chiều rộng và theo chiều sâu là vô cùng cần thiết để đáp ứng những đòi hỏi cấp
bách của nền kinh tế
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các
loại hình ngân hàng khác.” Luật pháp cũng quy định: “Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán ”.
Xuất phát từ mục tiêu hoạt động được quy định, ngân hàng thương mại đóng vai
trò là một trung gian tài chính đắc lực của nền kinh tế. Ngân hàng khắc phục mâu
thuẫn vốn có giữa người cho vay và người đi vay, chuyển tiết kiệm thành đầu tư,
Chuyên đề thực tập
làm cầu nối giữa hai bộ phận thặng dư chi tiêu và thâm hụt chi tiêu trong nền kinh
tế. Nhờ có sự đa dạng hoá, sự chuyên nghiệp của ngân hàng thương mại mà sự
cho vay, đầu tư được giảm thiểu và phân tán rủi ro. Mặt khác, khả năng thẩm định
thông tin tốt đã giúp ngân hàng vượt qua được tình trạng “ thông tin không đỗi
xứng “ trên thị trường tạo ra khả năng sinh lợi cho ngân hàng.
Ngoài chức năng làm trung gian tài chính, ngân hàng thương mại còn là thủ
quỹ của doanh nghiệp. Với những nghịêp vụ như nhận tiền gửi, cho vay, thanh
toán, chuyển khoản…, ngân hàng có vị trí quan trọng trong việc cất trữ tiền của
doanh nghiệp cũng như phục vụ doanh nghiệp thanh sử dụng số tiền đó.NNgân
hàng thương mại tạo ra tiền dựa trên lượng tiền cơ sở ngân hàng trung ương phát
hành. Thông qua các nghiệp vụ của mình, qui mô vốn tín dụng mà ngân hàng
thương mại tạo ra là rất lớn. Do đó, hệ số tạo tiền cao và khả năng tạo tiền của
ngân hàng thương mại có thể vượt qua sự kiểm soát của ngân hàng Nhà nước nếu
ngân hàng Nhà nước không có các quy định chặt chẽ về hoạt động của ngân hàng
thương mại.
Hiện nay, ngân hàng đã trở thành những trung gian thanh toán lớn nhất tại
Ngân hàng thương mại cung cấp các hình thức tín dụng đa dạng từ cho vay ngắn
hạn, trung và dài hạn cho đến cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án, bảo lãnh, leasing
(thuê mua). Nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng đã giúp ngân hàng
thực hiện được chức năng trung gian tài chính, đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn
trong nền kinh tế.
Nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng ra đời không những tiện lợi cho khách
hàng truyền thống mà còn khuyến khích các khách hàng mới tăng tiền gửi vào
ngân hàng để sử dụng dịch vụ. Cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại,
thanh toán không dùng tiền mặt thông qua ngân hàng đã mang lại lợi ích cao, tiết
kiệm thời gian và chi phí. Các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt gồm có
Chuyên đề thực tập
séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, LC (letter of credit), hối phiếu, tín dụng chứng
từ…
Ngoài những nghiệp vụ trên, ngân hàng còn thực hiện nhiều nghiệp vụ mới
nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường. Ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho khách hàng như dịch vụ môi giới
mua bán chứng khoán, mua bán tài sản, đầu tư, dịch vụ tư vấn: cung cấp các tiện
ích như dịch vụ hỗ trợ sau cho vay, home – banking, dịch vụ uỷ thác… Lợi nhuận
mà những loại hình này đem lại đang dần thay đổi tỷ trọng doanh thu trong các
ngân hàng hiện đại trên thế giới.
Trong ngân hàng, nghiệp vụ bảo lãnh cũng được coi là một nghiệp vụ tín
dụng được phân theo hình thức cấp tín dụng . Tuy nhiên, nghiệp vụ bảo lãnh là
một nghiệp vụ mới được hình thành dựa trên nhu cầu của khách hàng về bảo đảm
sự tin cậy trong quan hệ kinh tế. Do đó, nghiệp vụ bảo lãnh có những đặc điểm và
tính chất riêng biệt so với nghiệp vụ tín dụng. Có thể nhận định rằng, nghiệp vụ
bảo lãnh là một nghiệp vụ có tiềm năng mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
1.2. Nghiệp vụ bảo lãnh tai Ngân hàng thương mại
Khi nền kinh tế thị trường phát triển, sự giao lưu buôn bán trong một quốc
gia và giữa các quốc gia trở nên phổ biến. Mặc dù thông tin kinh tế rất đa dạng
nhưng không phải lúc nào các doanh nhân cũng có đầy đủ thông tin về đối tác
có:
+ Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam:
doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
doanh nghiệp tư nhân.
Chuyên đề thực tập
+ Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức
tín dụng.
+ Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 của
Bộ luật dân sự.
+ Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh
và tham gia đấu thầu các dự án tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư tại Việt Nam.
+ Hộ kinh doanh cá thể.
Theo bản sửa đổi số 112 ngày 11/02/2003, những đối tượng không được
bảo đảm bao gồm:
+ Thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng
giám đốc của tổ chức tín dụng.
+ Cán bộ nhân viên đang thực hiện thẩm định bảo lãnh.
+ Bố mẹ, vợ chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
tổng giám đốc, phó tổng giám đốc. Tuy nhiên, bố mẹ, vợ chồng, con của tổng
giám đốc, phó tổng giám đốc nếu có nhu cầu bảo lãnh sẽ được hội sở chính của tổ
chức tín dụng quyết định.
- Bên nhận bảo lãnh là các cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có quyền
thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Nhờ nguồn
tài trợ này khách hàng có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh
một cách thuận lợi và nhanh chóng. Tuy nhiên, bảo lãnh ngân hàng phải có những
yếu tố phân biệt với các loại bảo lãnh khác như:
phải có sự đồng ý của các bên liên quan.
- Bảo lãnh là một cam kết bằng văn bản do đó tất cả các hoạt động có liên
quan đến bảo lãnh đều phải được lập trên cơ sở chứng từ. Hợp đồng bảo lãnh,
Chuyên đề thực tập
hợp đồng cơ sở ban đầu, thư bảo lãnh đều được lập bằng văn bản. Tất cả các
chứng từ, tài liệu đều phải đầy đủ thông tin theo quy định và được theo dõi bảo
quản.
- B ảo lãnh có tính độc lập đối với các văn bản khác. Mặc dù có trích thông
tin từ các văn bản đó nhưng hợp đồng bảo lãnh độc lập với các bên nhận bảo
lãnh, thư bảo lãnh độc lập với bên được bảo lãnh, hợp đồng ban đầu độc lập với
ngân hàng. Cụ thể, người đứng ra cam kết phải chịu trách nhiệm trả tiền ngày lần
đầu tiên người thụ hưởng có yêu cầu cho dù có sự nghi ngờ và điều tra giữa bên
được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Theo UCP 845 của ICC, “ về bản chất bảo
lãnh là giao dịch tách rời khỏi hợp đồng cơ sở hay các điều kiện dự thầu mà bảo
lãnh lấy làm căn cứ và bên nhận bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc
bởi hợp đồng và các điều kiện dự thầu đó, dù có trích tham chiếu đến chúng trong
bảo lãnh”.
- B ảo lãnh có hiệu lực mạnh vì nó là một cam kết không huỷ ngang và vô
điều kiện với người thụ hưởng. Khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ tài chính của
mình thay cho khách hàng, bất kể khách hàng đó trong thực tế có thật sự vi phạm
hợp đồng ban đầu hay không, ngân hàng vẫn phải chi trả cho bên nhận bảo lãnh
một cách vô điều kiện.
1.2.3. Vai trò của nghiệp vụ bảo lãnh.
Nghiệp vụ bảo lãnh rất có ý nghĩa không chỉ đối với bên nhận bảo lãnh, bên
được bảo lãnh mà còn đối với ngân hàng và nền kinh tế. Bên nhận bảo lãnh là bên
yều cầu đối tác của mình phải có thư bảo lãnh của ngân hàng. Thư bảo lãnh của
ngân hàng chính là một sự đảm bảo để bên nhận bảo lãnh tin tưởng hợp tác với
bên được bảo lãnh. Bảo lãnh mang chức năng pháp lý vì thông qua thư bảo lãnh,
bên được bảo lãnh phải thừa nhận nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của mình. Nhờ
vậy, bên thụ hưởng có thể tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh một cách suôn
hạn bảo lãnh tương đối dài. Không phải nguồn vốn nào cũng có điều kiện thuận
lợi cho ngân hàng khi huy động đặc biệt về lãi áp dụng như các khoản bảo lãnh.
Trong nền kinh tế, khi các đơn vị kinh tế được tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất
kinh doanh thì bộ máy của nền kinh tế cũng được vận hành có hiệu quả. Nhờ có
nghiệp vụ bảo lãnh làm thông suốt hoạt động kinh doanh, mô hình luân chuyển
H-T được đẩy nhanh, rút ngắn vòng quay của vốn trong nền kinh tế thị trường.
Đây là một đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế nói chung trên thế giới.
1.2.4. Phân loại
1.2.4.1. Theo phương thức phát hành.
- B ảo lãnh trực tiếp là loại hình bảo lãnh ngân hàng mà trong đó ngân hàng
phát hành cam kết thanh toán không huỷ ngang trực tiếp với bên nhận bảo lãnh.
Đồng thời bên được bảo lãnh cũng phải thực hiện nghĩa vụ trực tiếp với ngân
hàng phát hành bảo lãnh.
Bảo lãnh trực tiếp thường được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và chịu
sự chi phối của pháp luật trong nước. Ngân hàng bảo lãnh sẽ trực tiếp gửi thư bảo
lãnh đến bên thụ hưởng và khi hết hạn có thể trực tiếp tất toán với người hưởng
mà không cần sự hoàn trả thư gốc. Tuy nhiên, đối với trường hợp ngân hàng phát
hành có ngân hàng đại lý tại nước ngoài nơi bên nhận bảo lãnh đóng trụ sở, ngân
hàng đại lý đó sẽ đóng vai trò là ngân hàng thông báo thư bảo lãnh cho bên thụ
hưởng. Ngân hàng thông báo không chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Sơ đồ 1: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếpS
Chuyên đề thực tập
Ngõn hàng bảo lónh
Bờn được b ảo lónh Bờn nhận b ảo lónh
((2)(9((22)
(1)
(3)
Trường hợp đặc biệt của phương thức bảo lãnh trực tiếp là bảo lãnh phát
hành trái phiếu. Ngân hàng phát hành cũng có nghĩa vụ trực tiếp với công ty thực
những khoản bảo lãnh lớn gây ra, nhiều ngân hàng cùng đứng ra thực hiện bảo
lãnh. Một ngân hàng sẽ được chọn làm ngân hàng phát hành, các ngân hàng còn
lại đóng vai trò thành viên. Ngân hàng phát hành sẽ chịu trách nhiệm thu phí và
chịu trách nhiệm thanh toán nếu phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Sau đó, dựa
vào tỷ lệ đóng góp của các thành viên để chia số phí thu được hoặc truy đòi trách
nhiệm.
Hình 3: Sơ đồ đồng bảo lãnh.
Chuyên đề thực tập
Ngân hàngN thành viênNgân hàngNthành viên Ngân hàngN thành viên
Ngân hàng thành viên
Bờn được b ảo lónh Bờn nhận b ảo lónh
(2) (3)
(1)
(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng kinh tế.
(2) Bên được bảo lãnh yêu cầu các ngân hàng xem xét phát hành thư bảo
lãnh.
(3) Ngân hàng phát hành gửi thư bảo lãnh đến bên nhận bảo lãnh.
1.2.4.2.Theo phương thức đòi tiền.
- Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh trong trường hợp ngân hàng phải
thanh toán chỉ khi bên nhận bảo lãnh xuất trình đầy đủ các giấy tờ được quy định
từ trước như bằng chứng vi phạm có thể xác nhận của bên được bảo lãnh, các vận
đơn, hoá đơn thương mại…
Bảo lãnh có điều kiện bảo vệ quyền lợi của bên được bảo lãnh nhằm tránh
mọi sự lợi dụng hoạt động bảo lãnh của bên thụ hưởng để chiếm đoạt tài sản. Tuy
nhiên, bảo lãnh có điều kiện lại gây cản trở cho bên nhận bảo lãnh khi nhận bồi
thường.
- Bảo lãnh vô điều kiện là loại hình bảo lãnh mà ngân hàng sẽ thanh toán
ngay cho bên thụ hưởng khi có sự vi phạm hợp đồng xảy ra. Ngân hàng chỉ yêu
Chuyên đề thực tập
cầu bên nhận bảo lãnh gửi công văn ghi rõ sự vi phạm kèm theo bản gốc hợp
ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng sẽ hoàn trả số tiền ứng trước cho
bên nhận bảo lãnh.
- B ảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm là một bảo lãnh của ngân hàng
đảm bảo khách hàng của mình thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng sản
phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trong trường hợp khách
hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất
lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền
phạt cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã
cam kết.
- B ảo lãnh vay vốn là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (tổ
chức tín dụng, cá nhân…) về việc trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng (người
đi vay) không trả được. Bảo lãnh vay vốn rất phức tạp trong khâu thẩm định
khách hàng và tài sản đảm bảo. Những khoản vay có thể lớn, rủi ro cao trong khả
năng trả nợ có thể khiến ngân hàng từ chối bảo lãnh.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán là một bảo lãnh ngân hàng cho bên nhận bảo
lãnh rằng ngân hàng cam kết sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán
cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ. Giá trị
bảo lãnh có thể là 100% hoặc 110% trị giá hợp đồng tuỳ theo các bên thoả thuận.
Loại hình bảo lãnh nay đảm bảo cho nhà cung cấp được thanh toán đầy đủ và
đúng hạn sau khi đã giao hàng hoá cho bên mua.
- B ảo lãnh bảo hành là cam kết của ngân hàng về việc bồi thường giá trị
bảo lãnh cho bên nhần bảo lãnh (người có chứng nhận bảo hành) không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bảo hành như đã quy định.
- B ảo lãnh phát hành là một bảo lãnh ngân hàng cho công ty phát hành trái
phiếu rằng ngân hàng cam kết thanh toán tiền mua trái phiếu cho người hưởng
Chuyên đề thực tập
nếu công ty không có khả năng trả hoặc trả không đủ vốn vay cho người mua trái
phiếu khi đến hạn.
1.2.4.4. Theo tính chất
- Bảo lãnh có thể chuyển nhượng và bảo lãnh không thể chuyển nhượng:
xác định rủi ro và các biện pháp phòng ngừa.
Bước 2: Ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng.
Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng độc lập với hợp đồng kinh tế giữa khách
hàng và ngân hàng thể hiện ràng buộc tài chính giữa ngân hàng và bên thứ ba.
Nội dung chính của hợp đồng:
- Số tiền và thời hạn bảo lãnh của ngân hàng.
- Các điều khoản vi phạm hợp đồng kinh tế dẫn đến nghĩa vụ chi trả cuả
ngân hàng .
- Các tài liệu cần thiết mà bên thứ ba cần có để chứng minh sự vi phạm hợp
đồng của bên được bảo lãnh.
- Hình thức bảo lãnh.
- Phí bảo lãnh, số tiền ký quỹ hoặc tài sản đảm bảo cho bảo lãnh mà khách
hàng phải thực hiện đối với ngân hàng.
- Trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ
với bên thứ ba.
Bước 3: H ình thức bảo lãnh.
Ngân hàng có thể thực hiện bảo lãnh dưới các hình thức sau:
- Phát hành thư bảo lãnh: hình thức áp dụng cho mọi loại bảo lãnh.
Chuyên đề thực tập
- Mở thư tín dụng: áp dụng cho bảo lãnh thanh toán.
- Ký hối phiếu nhận nợ: áp dụng cho bảo lãnh vay vốn.
- Khách hàng sẽ thoả thuận hoặc trực tiếp yêu cầu ngân hàng hình thức bảo
lãnh.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động bảo lãnh của ngân hàng
thương mại.
Hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại đang ngày càng đóng vai trò
tích cực trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động bảo lãnh không ngừng mang lại
lợi nhuận mà còn nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường đầy biến động và
cạnh tranh. Để có thể làm tốt công tác bảo lãnh, sau một thời gian hoạt động,
ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá hoạt động bảo lãnh trong một thời kỳ đó nhằm
chi trả trong hoạt động bảo lãnh mà còn cho thấy mức độ hiệu qủa của công tác
bảo lãnh trong thời gian đó. Nếu chi phí bảo lãnh quá lớn và liên quan đến việc
thực hiện bồi thường cho người hưởng chứng tỏ hoạt động bảo lãnh không thành
công, quá trình thẩm định có sai sót hoặc công tác quản lý, phòng ngừa rủi ro
chưa tốt. Giảm chi phí một cách tương đối trong hoạt động bảo lãnh chính là một
cách để tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
- Bên cạnh doanh thu và chi phí, lãi từ hoạt động bảo lãnh cũng là một chỉ
tiêu hết sức quan cho biết khả năng sinh lời của hoạt động bảo lãnh. Lãi từ hoạt
động bảo lãnh chính là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí đã bỏ ra trong
hoạt động bảo lãnh để đạt được doanh thu đó.
Chuyên đề thực tập
Lãi từ hoạt động bảo lãnh= Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh – Chi phí từ
hoạt động bảo lãnh
Lãi từ hoạt động bảo lãnh cũng góp phần tạo nguồn để ngân hàng tái đầu tư
mở rộng hoạt động nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng. Lãi năm nay tăng
trong tương quan so sánh với chi phí, doanh thu và lãi của năm trước sẽ phản ánh
sự gia tăng về chất lượng và giá trị của khoản bảo lãnh.
- Doanh số bảo lãnh trong năm là một chỉ tiêu cho thấy số lượng bảo lãnh
được thực hiện trong năm. Chỉ tiêu thường được xem xét cùng với các chỉ tiêu
khác để đánh giá mức độ hiệu quả của công tác bảo lãnh. Số lượng bảo lãnh được
thực hiện trong năm nay tăng so với năm trước chưa chắc đã thể hiện chất lượng
hoạt động bảo lãnh tăng và doanh thu từ hoạt động bảo lãnh tăng.
- Ngoài các chỉ tiêu trên, ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu dư nợ bảo lãnh
quá hạn để phân tích. Sau khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
thay cho bên được bảo lãnh, ngân hàng sẽ đưa số tiền trả thay đó vào khoản nợ
của khách hàng. Đến kỳ hạn trả nợ, nếu khách hàng không có khả năng thanh
toán và không được gia hạn nợ thì khoản tiền đó sẽ được đưa vào nợ quá hạn và
áp dụng lãi phạt. Tuy nhiên, nếu khoản nợ quá hạn phát sinh từ một khoản bảo
lãnh có thời hạn trên một năm thì tính chính xác của chỉ tiêu này không cao. Có
thể các khoản nợ quá hạn từ hoạt động bảo lãnh phát sinh trong năm không lớn
thuận tiện trong sử dụng giúp khách hàng nắm bắt được cơ hội kinh doanh.
Khách hàng không chỉ yêu cầu sự đảm bảo của ngân hàng mà còn yêu cầu sự
nhanh chóng về thời gian xem xét, sự đơn giản về thủ tục tiến hành, sự thuận lợi
trong các điều khoản mà ngân hàng cung cấp. Mức ký quỹ thấp cùng một mức
phí phù hợp trong hoàn cảnh cạnh tranh khắc nghiệt giữa các ngân hàng sẽ càng
Chuyên đề thực tập
hấp dẫn khách hàng. Chất lượng dịch vụ sẽ được phản ánh đầy đủ khi khách hàng
sử dụng dịch vụ và phản hồi kết quả điều tra từ phía khách hàng.
1.3.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo lãnh.
Bất cứ một đơn vị nào khi tham gia vào hoạt động kinh tế đều chịu sự tác
động của rất nhiều yếu tố trong nền kinh tế và ngân hàng cũng không phải là một
ngoại tệ. Hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng bị chi
phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Những nhân tố này quyết định
đến hoạt động bảo lãnh từ nhiều khía cạnh, tác động trực tiếp đến hướng phát
triển của hoạt động này trong hiện tại và tương lai.
Một trong các yếu tố đầu tiên mang tính chất khách quan có tầm ảnh hưởng
quan trọng là môi trường. Môi trường ở đây như một chiếc kiềng ba chân bao
gồm ba yếu tố môi trường chính trị, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế.
Môi trường chính trị xã hội là một tác nhân vĩ mô tác động một cách tổng
hợp đến mọi hoạt động kinh tế xã hội. Môi trường chính trị xã hội có ổn định thì
mọi hoạt động kinh tế mới có thể diễn ra thuận lợi. Ngược lại, nếu một xã hội bất
ổn thì chắc chăn kèm theo đó là một nền kinh tế phát triển không lành mạnh. Hoạt
động bảo lãnh cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy. Với một thể chế chính
trị bền vững và phù hợp với xu thế thời đại, các ngân hàng mới được tạo điều
kiện đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh của mình trong nhiều quan hệ kinh tế khác
nhau khi hoạt động đầu tư và hoạt động thương mại gia tăng. Các nhà đầu tư rất
quan tâm đến sự ổn định về mặt chính trị và các ngân hàng coi đó là một tiền đề
tất yếu để hoạt động bảo lãnh được ra đời và phát triển.
Bên cạnh môi trường chính trị xã hội, môi trường pháp luật cũng tác động
không nhỏ đến bất cứ hoạt động kinh tế nào trong một quốc gia. Tuân thủ pháp
hàng sẽ góp phần tạo hiệu quả trong hoạt động bảo lãnh.
Tính đa dạng trong sản phẩm bảo lãnh xuất phát từ chính nhu cầu của khách
hàng. Khách hàng luôn muốn có các sản phẩm bảo lãnh phù hợp với từng hoạt
Chuyên đề thực tập