LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn của
giai đoạn đầu hội nhập kinh tế thế giới cũng như thoát ra khỏi ảnh hưởng xấu
của cuộc khủng hoảng Tài chính – kinh tế trong thời gian vừa qua, từ đó đặt
nền tảng cho sự phát triển, hội nhập sâu rộng và bền vững cho nền kinh tế.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng găy gắt, việc hoàn thiện và phát triển
đồng bộ các nghiệp vụ là hướng đi và phương châm cho các ngân hàng tồn tại
và phát triển. Và xét cho cùng đây chính là sự đáp ứng cho yêu cầu hiện đại
hoá, đa dạng hoá hoạt động ngân hàng và xu thế hội nhập của nền kinh tế. Khi
tham gia các giao dịch kinh tế, nếu các đối tác của doanh nghiệp, đặc biệt là
các đối tác nước ngoài, không hoàn toàn tin tưởng vào doanh nghiệp, họ
thường yêu cầu một bên thứ ba có uy tín đứng ra đảm bảo cho doanh nghiệp
về khả năng hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng kí kết. Và các ngân hàng
là nơi mà doanh nghiệp tìm đến nhiều nhất. Ngân hàng cam kết với bên đối
tác sẽ bồi thường cho họ nếu doanh nghiệp vi phạm các điều khoản trong hợp
đồng kinh tế, giúp các doanh nghiệp nâng cao uy tín của mình trước bạn
hàng.Nghiệp vụ bảo lãnh xuất hiện và ngày càng phát triển từ đòi hỏi đó của
thị trường. Nghiệp vụ này tuy không còn quá mới mẻ với các ngân hàng Việt
Nam nói chung và ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn nói riêng
nhưng vẫn chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng và vai trò của nó
đối với nền kinh tế. Nhận thức được vấn đề trên, sau một thời gian thực tập tại
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội, tôi
quyết định chọn đề tài “Phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn - Chi nhánh Nam Hà Nội” để nghiên cứu.
1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề xung
quanh nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
chi nhánh Nam Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Các vấn đề lý luận về phát triển bảo lãnh của Ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Agribank Nam Hà Nội.
phương tiện thanh toán.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhưng tựu chung lại có thể
hiểu tổng quát: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân
hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi
dưới các hình thức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này
và vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết
khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch
vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế.
1.2.Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng Thương mại
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động bảo lãnh
Với tư cách là một dạng nghiệp vụ của ngân hàng hiện đại, bảo lãnh
xuất hiện đầu tiên tại Mỹ vào giữa những năm 60 trong các giao dịch nội địa
và bắt đầu được sử dụng trong thương mại quốc tế vào đầu năm 70. Vào thời
gian gia này các quốc ở Trung Đông liên tục kí kết các hợp đồng kinh tế lớn
với các nước phương Tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, quốc
phòng, công nông nghiệp. Giá trị của hợp đồng và thế mạnh về tài chính của
các nước Trung Đông cho phép họ đòi hỏi một sự đảm bảo chắc chắn về phía
bạn hàng khi tham gia các giao dịch kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu này ngân
hàng các nước phương Tây đã phát hành các bảo lãnh độc lập. Những bảo
lãnh độc lập này thực sự đã đáp ứng được yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn
cho các quốc gia nhập khẩu. Doanh số của nghiệp vụ bảo lãnh tăng nhanh
một cách đáng kể. Từ đó đến nay bảo lãnh ngân hàng ngày càng được sử
dụng rộng rãi đặc biệt là những giao dịch có giá trị lớn trong nước cũng như
quốc tế.
4
Tại Việt Nam vào những năm 90 khi bắt đầu hội nhập với kinh tế thế
giới và khu vực thì hoạt động bảo lãnh ngân hàng hình thành là một tất yếu
khách quan. Thời kì này do chưa được ứng dụng nhiều nên cũng chưa có một
hệ thống văn bản điều chỉnh chặt chẽ, các hoạt động bảo lãnh diễn ra tùy tiện
và thiếu hiệu quả. Ngày 17/9/1992, Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành
tế là hợp đồng được kí kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng, là
cơ sở để thiết lập các hợp đồng tiếp theo. Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng giữa
người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Thư bảo lãnh được
thực hiện nhằm ràng buộc giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành bảo
lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh độc lập với hợp đồng kinh tế. Mục đích của bảo
lãnh là bồi thường cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực
hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán chỉ dựa vào
những điều khoản, điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh. Cho dù người được
bảo lãnh trên thực tế có thực hiện hợp đồng hay không và ngời thụ hưởng có
quyền thông báo về những thiệt hại xảy ra hay không, mức thiệt hại thực tế là
bao nhiêu, cũng không ảnh hưởng hoặc liên quan đến hợp đồng bảo lãnh giữa
người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Điều đó có nghĩa là
một khi các điều kiện qui định trong hợp đồng bảo lãnh được thỏa mãn về mặt
pháp lý thì người thụ hưởng không cần thiết phải chứng minh vi phạm của
người được bảo lãnh mà chỉ cần lập các chứng từ theo như yêu cầu của bảo
lãnh. Trách nhiệm thanh toán của ngân hàng cũng độc lập với những thỏa
thuận giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng. Khi các điều kiện thanh
toán được đáp ứng thì ngân hàng không có quyền viện dẫn bất cứ lí do gì để
6
từ chối hoặc có thể hợp đồng kinh tế thay đổi cũng không ảnh hưởng gì đến
hợp đồng bảo lãnh.
- Dựa vào biểu hiện bên ngoài thì việc bảo lãnh có ba bên bao gồm
bên bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Mối quan hệ
giữa các chủ thể trong BLNH được thể hiện như sau:
* Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh là
mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ này,
người được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với bên thụ
hưởng bảo lãnh. Nghĩa vụ đó có thể là nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ trả nợ
cũng có thể là nghĩa vụ phi tài chính như bảo hành sản phẩm hay cung cấp
- Phân biệt nghiệp vụ bảo lãnh và tín dụng chứng từ :
Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư gọi là L/C, theo đó ngân
hàng phát hành cam kết sẽ trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho nhà xuất
khẩu khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với điều khoản và điều kiện của L/C.
Như vậy, L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là người thụ
hưởng và ngân hàng phát hành, ngân hàng phát hành đại diện cho khách hàng
của mình, tiếng nói chính thức của người mở L/C không được thể hiện trong
L/C. Còn hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân
hàng phát hành, giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành chỉ có ràng
buộc bởi một thư bảo lãnh do ngân hàng đơn phương phát hành.
Trong L/C, ngân hàng phát hành không chỉ đóng vai trò là người thu
hộ , chi hộ mà còn là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng
cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương
8
ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng; đồng thời đảm bảo cho nhà nhập khẩu
nhận được số lượng và chất lượng hàng do bộ chứng từ đại diện và tương ứng
với số tiền mình đã bỏ ra. Còn bảo lãnh ngân hàng chỉ đơn thuần là ngân hàng
dùng uy tín của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ hoàn thành hợp đồng của bên
được bảo lãnh và bù đắp phần nào rủi ro cho bên thụ hưởng. Có nghĩa là với
hình thức tín dụng chứng từ ngân hàng phát hành phải có nghĩa vụ đầu tiên
thanh toán cho người thụ hưởng khi ngươì này xuất trình bộ chứng từ phù
hợp, còn với bảo lãnh ngân hàng trách nhiệm thanh toán đầu tiên thuộc về
khách hàng trong hợp đồng chính, ngân hàng chỉ thực hiện trách nhiệm của
mình khi và chỉ khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của họ.
Thư tín dụng có tính độc lập so với hợp đồng cơ sở và hàng hoá. L/C
chỉ giao dịch bằng chứng từ và chỉ căn cứ vào chứng từ , không hề căn cứ vào
tình hình thực tế của hàng hoá. Còn bảo lãnh chỉ đơn thuần là cam kết bảo
lãnh theo yêu cầu và chỉ đề cập tới các tài liệu liên quan trong từng trường
thỏa mãn, người nhận bảo lãnh về mặt pháp lý được quyền yêu cầu đòi tiền và
không cần thiết phải chứng minh các vi phạm của người được bảo lãnh bằng
cách nào khác ngoài các quy định trong thư bảo lãnh.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, tính độc lập của bảo lãnh là phụ
thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh. Ví dụ như: nếu bảo lãnh quy định
việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ
hưởng có thể yêu cầu thanh toán mà không cần một điều kiện nào khác ngoài
văn bản yêu cầu. Nhưng nếu bảo lãnh yêu cầu một chứng từ cụ thể như: phán
quyết của tòa án, hoặc văn bản của bên thứ ba xác nhận sự vi phạm của người
10
được bảo lãnh, văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của
mình thì tính độc lập của bảo lãnh sẽ bị giảm sút.
Đối với các ngân hàng, tính độc lập của bảo lãnh mang lại nhiều
thuận lợi. Một khi có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh của người nhận bảo
lãnh thì ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra các chứng từ được
xuất trình có phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư bảo
lãnh hay không.
- Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp
Đặc điểm này thể hiện rõ vai trò trung gian của ngân hàng. Ở đây,
người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là khách hàng (người được
bảo lãnh). Còn ngân hàng đứng ra đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của khách
hàng. Ngân hàng không phải ngay lập tức sử dụng vốn của mình mà chỉ thực
hiện thay khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.
Xuất phát từ đặc trưng này mà trên thế giới hình thành một số quan
điểm khác nhau về bảo lãnh. Quan điểm thứ nhất cho rằng: tất cả các hình
thức mang tính chất bảo đảm gián tiếp của ngân hàng như thư tín dụng trả
chậm, thư tín dụng trả ngay…đều được coi là hình thức bảo lãnh. Quan điểm
thứ hai cho rằng, một số hình thức kể trên không phải là hình thức bảo lãnh
đơn thuần mà nó là các phương tiện thanh toán hay là một hình thức tín dụng.
Trong đề tài này, bảo lãnh ngân hàng được quan niệm là những cam
bảo lãnh để tăng thu nhập cho mình các ngân hàng cũng đang nâng cao uy tín
và hình ảnh đối với khách hàng.
Ngoài ra, nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện còn thúc đẩy việc mở rộng
các nghiệp vụ khác như : thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi và mua bán
ngoại tệ trong những hợp đồng kinh tế của khách hàng với nước ngoài.
12
1.2.3.2 Đối với hoạt động của doanh nghiệp
Đối với người được bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng giúp giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt
động của doanh nghiệp. Trong những hợp đồng cụ thể, do bên được bảo lãnh
chưa đủ uy tín với bên thụ hưởng, họ có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh, nhờ
đó bên thụ hưởng bảo lãnh sẽ tài trợ trước một phần vốn cho bên được bảo
lãnh giúp họ tiếp tục sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi mà không phải
đi vay mượn.
Đối với hình thức bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước thì bảo lãnh
ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt là những hợp đồng mua thiết bị vật tư trả
chậm, bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện thu hút vốn mạnh mẽ. Doanh nghiệp
có thể tiếp cận và ứng dụng các công nghệ hiện đại để phát triển và mở rộng
hoạt động kinh doanh của mình.
Trong hợp đồng bảo lãnh qui định nếu doanh nghiệp không hoàn thành
được nghĩa vụ của mình họ sẽ phải bồi hoàn giá trị hợp đồng lớn hơn giá trị
ban đầu tức là giá trị hợp đồng cộng với mức lãi, phạt nhất định. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng phát hành cũng thường xuyên kiểm tra
giám sát tạo ra áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm từ phía
người được bảo lãnh.Cho nên việc bảo lãnh của ngân hàng cũng thúc đẩy
doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, hoàn thành đúng tiến độ hợp đồng đã kí
với bên đối tác.
Khách hàng có nhu cầu ngân hàng bảo lãnh cũng sẽ được hưởng các
dịch vụ đi kèm như tư vấn về việc phân tích tình hình tài chính, đánh giá vốn
một số điều của luật các tổ chức tín dụng ngày 1/10/2004.
14
- Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/08/2000 của Thống
đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành qui chế bảo lãnh ngân hàng.
- Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 của ngân hàng
Nhà nớc về việc sửa đổi bổ sung quyết định 283.
- Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 của ngân hàng
Nhà nước về việc sửa đổi bổ sung quyết định 283.
- Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc
ngân hàng Nhà nước về việc ban hành qui chế bảo lãnh ngân hàng.
Ngoài ra còn một số văn bản pháp luật khác liên quan điều chỉnh từng
loại bảo lãnh cụ thể.
1.2.5. Phân loại bảo lãnh Ngân hàng
1.2.5.1. Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh
1.2.5.1.1. Bảo lãnh đồng nghĩa vụ
Là loại bảo lãnh mang tính truyền thống. Đặc trưng của loại bảo lãnh
này là ngân hàng và người được bảo lãnh được xem là cùng nghĩa vụ. Tuy
nhiên nghĩa vụ của khách hàng là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa vụ của ngân hàng
là nghĩa vụ bổ sung. Nghĩa vụ bổ sung chỉ được thực hiện khi và chỉ khi có
bằng chứng xác nhận về việc nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm. Loại bảo lãnh này
thường ít được sử dụng trong các giao dịch quốc tế mà chủ yếu sử dụng trong
phạm vi nội địa là do đặc trưng của bảo lãnh đồng nghĩa vụ đòi hỏi ngân hàng
phải can thiệp khá sâu vào hợp đồng kinh tế giữa người được bảo lãnh và ng-
ười thụ hưởng bảo lãnh
1.2.5.1.2. Bảo lãnh độc lập
Là loại bảo lãnh của ngân hàng hiện đại. Cơ chế hoạt động dựa trên hai
nguyên tắc là nguyên tắc độc lập và nguyên tắc hoàn toàn phù hợp. Tức là
nghĩa vụ của người được bảo lãnh và của ngân hàng hoàn toàn tách rời nhau
và việc thanh toán chỉ căn cứ vào những điều khoản, điều kiện của văn bản
15
thất cho bên thứ ba. Và bảo lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một
phần tổn thất cho bên thứ ba (đảm bảo cho họ tránh được rủi ro) mặt
khác thúc đẩy khách hành nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng.
- Trị giá của bảo lãnh: Tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng, giá trị
bảo lãnh thực hiện hợp đồngtừ 10 – 15 % tổng giá trị hợp đồng.
Trường hợp đặc biệt, mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể yêu
cầu trên 15% nhưng phải được người có thẩm quyền quyết định đầu
tư chấp thuận. Tuy nhiên số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến
độ thực hiện hợp đồng.
- Thời hạn hiệu lực: Thư bảo lãnh có giá trị cho đến ngày hoàn thành
hợp đồng. Thời hạn hiệu lực được xác định cụ thể theo thoả thuận
giữa hai bên. Thời hạn sẽ bắt đầu từ ngày kết thúc đấu thầu kéo dài
đến khi hoàn thành hợp đồng như: hàng hoá đã giao xong, máy móc
thiết bị đã được vận hành, công trình đã đưa vào sử dụng…
1.2.5.3.3. Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng về việc hoàn
trả tiền ứng trước cho bên mua (người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp
(người được bảo lãnh) không trả hoặc trả không đầy đủ.
- Mục đích: đảm bảo cho bên hưởng bảo lãnh sẽ nhận lại được số tiền
trước kia đã đặt cọc cho bên được bảo lãnh để giúp thực hiện hợp
đồng như đã thỏa thuận, nhưng trên thực tế không thực hiện được.
Bảo lãnh tiền ứng trước thường được sử dụng trong các hợp đồng
mua bán máy móc thiết bị hoặc các hợp đồng có giá trị lớn.
- Trị giá của bảo lãnh: số tiền bảo lãnh bằng số tiền đặt cọc (kể cả tiền
lãi) được tính từ ngày nhận được số tiền đặt cọc tới ngày giao hàng
17
cuối cùng cộng thêm một số ngày để bên thụ hưởng làm thủ tục đòi
tiền. Bảo lãnh loại này cũng có một số điều khoản quy định giảm
giá trị bảo lãnh tương ứng với số lượng hàng hoá được giao đối với
các loại hàng hoá sản xuất, máy móc, công trình… số tiền đặt cọc
đồng.
- Thời hạn hiệu lực: Do các bên tự thoả thuận.
1.2.5.3.6. Bảo lãnh hoàn trả vốn vay
Bảo lãnh hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng đối với người cho
vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân..) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu
khách hàng (người đi vay) không trả được. Việc bảo lãnh này thường rất phức
tạp, khối lượng tiền bảo lãnh lớn nên rủi ro của ngân hàng trong trường hợp
người đi vay không trả được nợ cũng lớn theo. Vì vậy ngân hàng cần phải
xem xét kỹ tính khả thi của dự án, tài sản thế chấp.. trước khi phát hành thư
bảo lãnh.
- Trị giá của bảo lãnh: Theo thoả thuận, có thể chỉ gồm phần gốc hoặc
có tính cả lãi và chi phí, phải quy định rõ lãi và chi phí đã thoả thuận
chưa hay còn phải tính tiếp.
Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn hoàn trả tín dụng đã thoả thuận, tốt nhất
quy định khoảng 10 ngày kể từ ngày nợ đến hạn
1.2.5.3. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh
1.2.5.3.1. Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng phát hành bảo
lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh
chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh. Loại
19
bảo lãnh này chịu sự chi phối của luật trong nước và khi hết hạn có thể trực
tiếp tất toán với với người bảo lãnh mà không cần có sự hoàn trả thư bảo lãnh.
Ưu điểm của loại bảo lãnh này là người được bảo lãnh không phải mất
thêm phí cho ngân hàng đại lý nước ngoài (ngân hàng trung gian) và thường
được sử dụng trong các quan hệ kinh tế trong nước.
Bảo lãnh trực tiếp thông thường có ba bên tham gia: Ngân hàng phát
hành bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên hưởng bảo lãnh. Trường hợp bên
hưởng bảo lãnh là người nước ngoài thì có thể thêm ngân hàng ở cùng quốc
gia với bên hưởng bảo lãnh với vai trò là ngân hàng thông báo. Ngân hàng
(4) Ngân hàng thông báo thực hiện việc thông báo và chuyển nội dung
thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng
(5) Trường hợp ngân hàng phát hành trực tiếp đến bên hưởng, không
qua ngân hàng thông báo
1.2.5.3.2. Bảo lãnh gián tiếp
Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát
hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho bên
được bảo lãnh dựa trên một loại bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng hoặc
thư tín dụng dự phòng. Bảo lãnh gián tiếp được thực hiện thường do bên
hưởng bảo lãnh mong muốn thu bảo lãnh được một ngân hàng có trụ sở tại
nước mình phát hành để thuận tiện cho giao dịch hoặc đòi tiền sau này. Vì
vậy, bên được bảo lãnh phải yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ định một
ngân hàng đóng trụ sở tại nước thụ hưởng phát hành bảo lãnh. Ngân hàng thứ
nhất trong quan hệ trên gọi là Ngân hàng chỉ dẫn, ngân hàng thứ hai gọi là
Ngân hàng phát hành. Mối quan hệ giữa hai ngân hàng này được thể hiện
bằng văn bản của Ngân hàng chỉ dẫn đề nghị Ngân hàng phát hành thực hiện
việc phát hành bảo lãnh và văn bản của Ngân hàng chỉ dẫn cam kết bồi hoàn
cho Ngân hàng phát hành nếu Ngân hàng phát hành thanh toán bảo lãnh. Việc
này thể hiện bằng một văn bản đối ứng hoặc thư tín dụng dự phòng.
Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp:
21
NGÂN HÀNG
CHỈ DẪN
NGÂN HÀNG
PHÁT HÀNH
(3)
BÊN ĐƯỢC
BẢO LÃNH
BÊN HƯỞNG
BẢO LÃNH
(5) Các ngân hàng thực hiện phần nghĩa vụ của mình
1.2.5.4. Căn cứ vào điều kiện thanh toán của bảo lãnh
1.2.5.4.1. Bảo lãnh vô điều kiện
Ở loại hình bảo lãnh vô điều kiện, ngân hàng có trách nhiệm thanh toán
ngay không hủy ngang khi nhận được văn bản khiếu nại đầu tiên của bên
hưởng bảo lãnh chỉ ra rằng bên được bảo lãnh không thực hiện theo đứng hợp
đồng mà không cần kèm theo bất kì chứng từ nào chứng minh họ bị vi phạm
hợp đồng. Trong trường hợp bên được bảo lãnh chứng minh được mình
không vi phạm hợp đồng thì họ có quyền đi kiện để đòi lại số tiền đã trả cho
người bảo lãnh.
Bảo lãnh vô điều kiện thường bất lợi cho người được bảo lãnh vì việc
bồi thường mang tính chủ quan nên có thể xảy ra trường hợp gian lận, dối trá
của bên hưởng bảo lãnh.
1.2.5.4.2. Bảo lãnh có điều kiện
Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chỉ trả tiền
cho bên thụ hưởng khi bên thụ hưởng xuất trình đủ chứng từ pháp lý đã được
quy định trong thư bảo lãnh để có thể chứng minh bên được bảo lãnh vi phạm
hợp đồng. Bảo lãnh có điều kiện đảm bảo quyền lợi cho bên được bảo lãnh.
Tuy nhiên nếu quy định không rõ ràng thủ tục đòi tiền thì dễ phát sinh tranh
chấp giữa hai bên. Do vậy, trên thực tế bảo lãnh có điều kiện ít được sử dụng
trong nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng thương mại
1.3. Phát triển hoạt động bảo lãnh Ngân hàng Thương mại
1.3.1. Quan niệm về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng
Thương mại
23
Nếu như thư tín dụng đã được các ngân hàng sử dụng rông rãi từ những
năm 30 thì bảo lãnh ngân hàng mới chỉ ra đời và phát triển vào đầu thập niên
70 của thế kỷ này. Sự phát triển nhanh chóng của các quốc gia sản xuất dầu
hoả ở Trung Đông trong thời gian này cho phép họ ký kết những hợp đồng
lớn với các công ty phương Tây cho những dự án lớn như cải tiến cơ sở hạ
loại trên miễn rằng các bên chấp thuận và ngân hàng đồng ý phát hành.
Hiện nay bảo lãnh ngân hàng phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Có
thể chắc chắn rằng những thương vụ lớn với nước ngoài hiện nay không thể
không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi kèm.
Bảo lãnh còn đưởc sử dụng rộng rãi trong trị trường nội địa do tính đa
dạng và năng động của nó. Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng
thương mại mà cả các giao dịch phi thương mại, tài chính, phi tài chính như:
bảo lãnh thanh toán, hoàn trả tiền ứng trước, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
thuế quan...
Bảo lãnh không chỉ được thực hiện như một loại hình dịch vụ mà còn là
một công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp. Cùng với tín dụng chứng từ, bảo
lãnh là một trong những loại hình giao dịch thông dụng và phổ biến nhất
trong các hoạt động ngân hàng trên thế giới.
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng
Thương mại
1.3.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh về số lượng
1.3.2.1.1. Sự mở rộng về đối tượng và số lượng khách hàng
25