Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội - Pdf 88

Lời nói đầu
Từ năm 1990 cho tới nay, ngành ngân hàng Việt Nam đã trải qua một
thời kỳ đổi mới, tuy chưa dài nhưng đầy sống động và có ý nghĩa. Kết quả
đổi mới hoạt động ngân hàng đã góp phần xứng đáng vào kết quả đổi mới
chung của nền kinh tế và nét nổi bật nhất là góp phần đẩy lùi và kiềm chế
lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng ở nước ta hiện nay đang gặp nhiều
khó khăn và có nhiều vấn đề còn tồn tại, nhất là ở khâu tín dụng của các
ngân hàng thương mại. Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản của các
ngân hàng thương mại nhưng chất lượng hoạt động tín dụng chưa cao đang
là mối quan tâm không những chỉ đối với các cấp lãnh đạo, với các cấp quản
lý và điều hành hệ thống ngân hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội.
Là chi nhánh của ngân hàng thương mại quốc doanh có số vốn lớn
nhất Việt Nam hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội ,trong thời gian qua, đã có những bước
phát triển và lớn mạnh không ngừng, trở thành một trong những ngân hàng
hoạt động hiệu quả nhất trong hệ thống, có vị thế và uy tín ngày càng được
nâng cao. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tín dụng, đặc biệt là cho vay ngắn hạn,
ngân hàng thường gặp nhiều khó khăn. Cho vay ngắn hạn có tầm quan trọng
lớn trong hoạt động của ngân hàng, mức dư nợ thường chiếm hơn 50% trong
tổng dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn tương đối cao, do vậy, chất lượng cho vay ngắn
hạn là vấn đề mà ngân hàng đặc biệt quan tâm.
Xuất phát từ lý do trên, trong thời gian thực tập tại ngân hàng, em đã
chọn đề tài : “ Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội” làm chuyên đề
thực tập của mình
Chuyên đề gồm có 3 chương :
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn của Ngân hàng

khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế. Các ngân
hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế, do đó có một số khái niệm về ngân hàng
thương mại .
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện các dịch vụ tài chính mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất -
đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức
năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh
tế". Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc
hình thành các ngân hàng đa năng như ngày nay.
Hoặc "Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ với những hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhận tiền gửi với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh
toán”.
Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam lại định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2.Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập
và cung cấp các dịch vụ quản lý cho khách hàng, đồng thời nó cũng thực
hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Các dịch vụ của ngân hàng được
thể hiện thông qua các hoạt động cơ bản của nó.
1.1.2.1.Huy động vốn
Nguồn vốn của ngân hàng tập trung chủ yếu vào 3 nhóm: tiền gửi,
tiền vay và vốn tự có. Nguồn quan trọng nhất là các khoản tiền gửi thanh
toán và tiết kiệm của khách hàng.
– Tiền gửi của khách hàng (Vốn nợ) : là nguồn tài nguyên quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động

một lượng vốn nhất định, có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết
bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ
theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự
phát triển của thị trường.
+ Nguồn vốn hình thành ban đầu: có thể là vốn của nhà nước, vốn do
các cổ đông tham gia đóng góp, vốn do các bên liên doanh góp, vốn sở hữu
tư nhân.
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợi nhuận,
nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,...
+ Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ thăng dư...
– Các nguồn khác: nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán quốc tế và
các nguồn khác như : thuế chưa nộp, lương chưa trả…
1.1.2.2.Sử dụng vốn
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử
dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các
loại tài sản khác nhau của ngân hàng nhưng phải đảm bảo an toàn và sinh
lời.
Các hoạt động sử dụng vốn :
– Nghiệp vụ ngân quỹ :
+ Tiền mặt trong két: Gồm có nội tệ, ngoại tệ, vàng, và các kim khí qu
ý, đá quý khác… nhằm mục đích chi trả bằng tiền mặt nhanh chóng, đảm
bảo tính thanh khoản cho ngân hàng.
+ Tiền gửi tại các ngân hàng khác: Gồm tiền gửi tại ngân hàng nhà
nước, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
– Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các ngân hàng thương mại thực hiện
quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp
vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường vốn nhưng phổ biến vẫn là đầu
tư vào chứng khoán (Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty...).
– Nghiệp vụ tín dụng: là nghiệp vụ quan trọng, chính yếu, sinh lời cho
ngân hàng thương mại, gồm có các hình thức chính :

1.2.Chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1.Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
Khái niệm : Trong hoạt động cho vay, việc phân loại có tác dụng
quan trọng nhằm thiết lập quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả
quản trị rủi ro tín dụng. Khoản vay có thể phân thành hai loai: có thời hạn và
không có thời hạn. Trong cho vay có thời hạn gồm ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn, cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay có thời hạn dưới 12 tháng.
Cho vay ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế- xã
hội . Đây là nguồn vốn lớn của nền kinh tế, nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp
phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh nghiệp, nâng cao
đời sống của các cá nhân là cơ sở cho một nền kinh tế ổn định và phát triển.
Cho vay ngắn hạn có vai trò quan trọng với nền kinh tế nói chung, đối với
các doanh nghiệp nói riêng và đối với Ngân hàng bản thân cũng như một
doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế
Là một trung gian tài chính, ngân hàng thương mại là nơi tập trung,
tích tụ vốn và phân bổ đầu tư có hiệu qủa trong nền kinh tế. Cho vay ngắn
hạn là một hoạt động mang tính chất đầu tư trong ngắn hạn cho nền kinh tế
của ngân hàng thương mại. Trong khi thị trường chứng khoán, các tổ chức
tài chính trung gian phi Ngân hàng như công ty bảo hiểm, công ty tài
chính,các quỹ đầu tư... là chủ đạo trong việc đưa vốn trung và dài hạn vào
nền kinh tế, thì kênh dẫn vốn ngắn hạn lại phần lớn thuộc về vai trò của
ngân hàng thương mại . Nhờ có các khoản cho vay ngắn hạn của ngân hàng
mà các thành phần kinh tế có thêm một kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu
tư vào quá trình sản xuất, góp phần phát triển nền kinh tế.
Đối với doanh nghiệp
Cho vay ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn
ngắn hạn của doanh nghiệp . Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục
quá trình sản xuất kinh doanh hoặc giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn
tạm thời về tài chính. Trong nhiều trường hợp, vay vốn Ngân hàng còn là

Hoạt động cho vay có chất lượng phải thực hiện được các mục tiêu
của cho vay. Mục tiêu của Ngân hàng khi cho vay là: một mặt, tài trợ cho
khách hàng một cách hiệu quả, giúp khách hàng có vốn để thành lập, duy
trì và phát triển hoạt động kinh doanh; mặt khác xét cho vay là hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng, mục tiêu là thu hồi nợ và có lãi. Hoạt động cho
vay có chất lượng phải đáp ứng được cả hai khía cạnh trên.
Chất lượng cho vay đối với từng chủ thể khác nhau được quan niệm
khác nhau. Đối với ngân hàng thương mại , chất lượng cho vay thể hiện qua
quy mô cho vay, việc đảm bảo các nguyên tắc an toàn trong cho vay, việc
mang lại thu nhập thông qua hoạt động cho vay... Còn đối với doanh nghiệp,
chất lượng cho vay lại thể hiện qua khả năng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời
và đầy đủ, chi phí vốn hợp lý, hiệu quả mang lại nhờ sử dụng vốn vay.
Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng.
Thước đo chất lượng của cho vay ngắn hạn vừa cụ thể bằng các chỉ tiêu
định lượng, vừa trìu tượng bằng các chỉ tiêu định tính.
Do tính tổng hợp của khái niệm chất lượng cho vay nên chuyên đề chỉ
tập trung vào phân tích chất lượng cho vay trên giác độ Ngân hàng thông
qua một số chỉ tiêu định tính và định lượng chủ yếu.
1.2.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn
a)Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở pháp lý,
việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam
kết trong hợp đồng cho vay.
• Trên cơ sở pháp lý, hoạt động cho vay có chất lượng phải chấp hành
pháp luật của nhà nước, trực tiếp là luật của các tổ chức tín dụng , các
quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của chính phủ và Ngân hàng
nhà nước.
• Trên cơ sở quy chế cho vay của Ngân hàng thương mại, hoạt động
cho vay có chất lượng luôn phải tuân thủ quy chế và quy trình nghiệp
vụ cho vay. Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể

để đánh giá cụ thể về chất lượng cho vay, phải phân tích các chỉ tiêu định
lượng.
b)Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Nhóm các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng cho vay thông qua
việc phân tích các chỉ tiều về lượng, tính toán các tỷ lệ. Nhóm chỉ tiêu định
lượng bao gồm:
• Mức tăng trưởng dư nợ cho vay Mức tăng trưởng
tuyệt đối
dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay
năm nay
Dư nợ cho vay
năm trước
Dư nợ cho vay
năm nay
Chỉ tiêu về tăng trưởng cho vay tuyệt đối và tương đối phản ánh mức
tăng trưởng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thể hiện chất lượng
hoạt động cho vay xét về quy mô
• Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay:
Người vay có thường xuyên đúng kỳ hạn và nhanh chóng hay không.
Vòng quay vốn cho vay lớn với mức dư nợ bình quân không đổi, doanh số
trả nợ lớn chứng tỏ chất lượng cho vay cao hơn so với vòng quay nhỏ,
doanh số trả nợ thấp. Tuy nhiên, vòng quay vốn tín dụng còn tuỳ thuộc vào
khách hàng vay vốn. Nếu khách hàng vay vốn là các doanh nghiệp thương
mại, dịch vụ, có đặc điểm quay vòng vốn nhanh thì vòng quay vốn cho vay
của ngân hàng thương mại cũng lớn. Còn nếu khách hàng là doanh nghiệp
sản xuất thị trường, vốn quay vòng chậm hơn, dẫn đến vòng quay vốn cho

Dư nợ cho vay
ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn cho biết sự hợp lý về kì hạn của
huy động vốn và sử dụng vốn.
• Chỉ tiêu tỉ lệ nợ khó đòi : :
100%
Tỉ lệ nợ khó đòi trong tổng dư nợ cho vay càng cao, rủi ro mất vốn
càng lớn, thì chất lượng cho vay càng thấp. Nó cũng thể thể hiện công tác
quản lý tín dụng của Ngân
• Chỉ tiêu mức sinh lời của tín dụng
100%
Tỉ lệ nợ khó đòi
Tổng dư nợ cho vay
Tổng dư nợ khó đòi
Mức sinh lời
của tín dụng
Dư nợ cho vay
bình quân
Thu nhập từ tín dụng
Hiệu suất sử dụng
vốn ngắn hạn
Nguồn vốn huy
động ngắn hạn
Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động tín dụng ở khía cạnh là hoạt động

Do đó, việc hoạch định chính sách cho vay ngắn hạn có ý nghĩa quyết
định đến sự thành công hay thất bại của mỗi ngân hàng. Một chính sách cho
vay ngắn hạn đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng
sinh lời của hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ chấp
hành đúng luật pháp và đường lối của ngân hàng nhà nước, đảm bảo công
bằng xã hội. Bất kỳ một ngân hàng nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động
của mình thì phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của
ngân hàng.
Hoạt động cho vay ngắn hạn trong nền kinh tế thị trường chứa đựng
nhiều rủi ro. Khi ngân hàng gặp những rủi ro thì có thể đi đến phá sản hoặc
bị thiệt hại lớn, mất uy tín với khách hàng và cơ quan quản lý Nhà nước. Vì
vậy khi hoạch định chính sách cho vay ngắn hạn, các nhà hoạch định luôn
coi trọng việc đảm bảo mục tiêu phải đạt được, nên ta có thể nói rằng: Chất
lượng cho vay ngắn hạn của một ngân hàng có tốt hay không còn phụ thuộc
vào việc xây dựng một chính sách tín dụng ngân hàng có đúng đắn, phù hợp
không.
• Thẩm định các khoản vay
Để nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân
hàng , một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho ngân hàng thương mại là phải thực
hiện tốt công tác thẩm định phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Công tác thẩm định các khoản vay là việc tổ chức, xem xét một cách
khái quát toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi
của phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng. Công tác thẩm định là
khâu cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho vay và là khâu then chốt để
quyết định cho vay , do đó quyết định đến sự thành công hay thất bại của
hoạt động cho vay.
Thẩm định các khoản cho vay giúp Ngân hàng phần nào dự báo được
hiệu quả tài chính và tính khả thi của từng hồ sơ vay vốn để cc thể chọn lọc
đuợc các hồ sơ vay vốn tốt, có hiệu quả , có khả năng thu hồi vốn và do đó
có thể hạn chế được rủi ro phát sinh. Cũng từ việc thẩm định, Ngân hàng có

động như hiện nay. Trong cho vay ngắn hạn, khách hàng là các doanh
nghiệp, cá nhân có các kế hoạch kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề.
Việc xét duyện hồ sơ cho vay ngắn hạn đòi hỏi phải được thực hiện trong
thời gian nhanh nhất có thể, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Do vậy
trong quá trình tuyển chọn cán bộ ngân hàng cần phải ưu đãi những người có
tư cách đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng động sáng tạo, có hiểu
biết sâu rộng về các ngành nghề trong nền kinh tế. Trong quá trình hoạt
động thường xuyên tiến hành đào tạo và đào tạo lại cán bộ để nâng cao chất
lượng cán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ được nhanh chóng, chính
xác, linh hoạt trong xử lý những sai sót có thể xẩy ra.
• Những vấn đề thuộc về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
Mở rộng quy mô hoạt động cho vay, tăng cường cho vay mà không
tính đến rủi ro, bất trắc có thể xảy ra thì sẽ dễ dàng dẫn đến sự sụp đổ giải
thể của mỗi ngân hàng.
Một trong những hoạt động có mục đích cho ngân hàng tránh được
những rủi ro đó là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát. Công tác này
không chỉ được thực hiện đối với khách hàng (như kiểm tra trước, trong
và sau khi cho vay) mà còn được thực hiện đối với bản thân ngân hàng
(như quy trình thực hiện cho vay, quá trình quản lý vốn vay, loại trừ cán
bộ mất phẩm chất có hiện tượng tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản
làm mất uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
Nâng cao chất lượng cho vay cũng đồng thời là ngân hàng phải kịp
phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến
hoạt động của ngân hàng. Muốn vậy, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng
lực trình độ và trách nhiệm thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
là một vấn đề mà không ngân hàng nào coi nhẹ.
• Chiến lược kinh doanh
Để có thể có những khoản cho vay ngắn hạn có chất lượng, ngân hàng
phải có được chiến lược kinh doanh đúng đắn đối với cho vay ngắn hạn. Từ
đó, ngân hàng sẽ giữ được sự chủ động, có thể kiểm soát được các tình

việc duy trì hoạt động thường xuyên của tài sản cố định.
Điều kiện cho vay ngắn hạn thường quy định một tỷ lệ cụ thể, tối
thiểu của vốn tự có trong tổng nguồn vốn hoạt động hay tỷ lệ vốn tự có so
với khối lượng vốn vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia vào dự án vay vốn. Do vậy
năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao,. Khả năng đáp ứng các điều
kiện cho vay càng lớn càng góp phần vào việc nâng cao chất lượng cho vay.
• Năng lực quản lý của doanh nghiệp
Sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc
rất nhiều vào năng lực quản lý. Năng lực quản lý thể hiện ở việc tổ chức hệ
thống hạch toán kế toán và quản lý tài chính phù hợp với những quy định
của pháp luật. Một doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào nhưng năng lực quản
lý kém có thể gây ra thất thoát vốn, sử dụng vốn không có hiệu quả... tức là
khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cung cấp cho doanh nghiệp có chất lượng
kém. Do vậy khi đưa ra quyết định cho vay Ngân hàng phải xem xét tới
năng lực quản lý của doanh nghiệp.
• Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp thể hiện ở quy mô, năng suất,
quy trình sản xuất, tổ chức bán hàng.... nghiên cứu năng lực sản xuất của
doanh nghiệp giúp Ngân hàng đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu thị
truờng về chất lượng, giá cả, khả năng sinh lời và khả năng mở rộng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Biểu hiện cụ thể và rõ nét nhất của năng
lực sản xuất là doanh nghiệp phải sản xuất ổn định và có lãi điều đó tạo điều
kiện cho doanh nghiệp trả nợ gốc và lãi ngắn hạn cho Ngân hàng theo đúng
quy định trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo chất lượng cho vay.
• Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp đảm bảo
Khả năng đáp ứng các điều kiện cho vay của doanh nghiệp sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay của Ngân hàng. Bởi vì nếu khách
hàng không đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng thì Ngân hàng
không thể cho vay, điều đó làm giảm khối lượng cho vay ngắn hạn của Ngân
hàng nhưng không ảnh hưởng gì tới chất lượng của khoản cho vay. Mặt

ngân hàng và khách hàng. Uy tín của ngân hàng trên thị trường ngày càng
cao thì sẽ thu hút được lượng khách hàng ngày càng đông. Mối quan hệ
xã hội thể hiện cụ thể giữa ngân hàng và khách hàng là nhân tố không
kém phần quan trọng quyết định tới quy mô, phạm vi hoạt động của mỗi
ngân hàng, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng.
Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động tín dụng.
Thật vậy, một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không xảy ra
chiến tranh là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi các nhà
đầu tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới
an toàn của vốn đầu tư. Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển kinh tế đất nước. Riêng đối với ngân hàng, nó có ảnh

Trích đoạn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nộ Các chỉ tiêu định tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status