Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh Nam Hà Nội giai đoạn 2006-2008 - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bước vào hoạt động kinh doanh đều vì mục
tiêu lợi nhuận, lợi nhuận luôn là mục đích cuối cùng cần đạt được. Lợi nhuận không
chỉ là chi tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà nó còn phản ánh
khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Ngân hàng cũng là một loại hình
doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, lợi nhuận là vấn đề
được đặt ra hàng đầu.
Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, thế kỷ mở cửa và hội nhập, khi thị trường
các quốc gia là một, các ngân hàng không phải chỉ cạnh tranh với các đối thủ trong
nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài nhiều kinh nghiệm hơn,
phong cách làm việc chuyên nghiệp hơn. Tác động khi gia nhập WTO đến nền kinh
tế nước ta là vô cùng lớn, và nó được thể hiện trên hai khía cạnh là: Cơ hội và thách
thức. Chúng ta cần phải có những giải pháp giảm thiểu bất lợi khai thác tối đa cơ hội
của nó. Đây là gánh nặng đặt lên đôi vai của toàn nền kinh tế nói chung và của ngành
ngân hàng nói riêng. Vì vậy bài toán lợi nhuận càng trở nên khó khăn hơn, nâng cao
hiệu quả kinh doanh, đây là vấn đề cấp thiết của ngân hàng
Trong quá trình thực tập tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nội, em đã có
điều kiện đi sâu tìm hiểu thực trạng thu nhập và chi phí từ đó rút ra kết quả đã đạt
được và những mặt còn tồn tại của ngân hàng, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Trần
Thị Nga và sự giúp đỡ tận tình của phòng kế hoạch tổng hợp NHNo & PTNT chi
nhánh Nam Hà Nội thông qua đề tài: “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh Nam Hà Nội giai
đoạn 2006-2008”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tốt nghiệp tập chung nghiên cứu tình hình thu – chi, kết quả kinh
doanh, rút ra được những tồn tại, từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao và hoàn
thiện kết quả kinh doanh của ngân hàng.

thành hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường. Nó hoạt động theo định chế tổ
chức tài chính của nền kinh tế thị trường. Nó hoạt động theo định chế tổ chức tài
chính mang tính tổng hợp có chức năng dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn
nhằm tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế. Ngân hàng huy động vốn dưới nhiều
hình thức và tiến hành cho vay các đối tượng có nhu cầu (Giáo trình ngân hàng tài
chính của học viện ngân hàng)
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ. Chính hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà ngân hàng chịu ảnh hưởng
của các yếu tố kinh tế xã hội, chính trị, tâm lý… Ngân hàng có mối quan hệ rộng lớn
với nhiều khách hàng bao gồm các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các cá nhân hoạt
động nhiều lĩnh vực khác nhau. NHTM là loại hình ngân hàng quan trọng trong nền
kinh tế, có số lượng đông đảo nhất, quy mô tài sản lớn nhất…
Như vậy ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chủ yếu hoạt động bằng
cách thu hút vốn thông qua những khoản tiền gửi của khách, tiền gửi tiết kiệm và các
khoản tiền gửi có kỳ hạn. Sau đó, ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để cho vay, chủ
yếu là cho vay thương mại ngắn, trung, dài hạn. Đây là trung gian tài chính lớn nhất ở
bất kỳ quốc gia nào, là nơi mà các tổ chức, đơn vị và cá nhân thường xuyên giao dịch
nhất, với đa dạng các loại hình tổ chức và sở hữu như: Ngân hàng thương mại quốc
doanh (Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam…)
Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM cổ phần quân đội, NHTM cổ phần Hàng
Hải..) Ngân hàng liên doanh hay các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
1.1.2 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM
Ngày nay trên thế giới hiện đại, hoạt động môi giới của các tổ chức chính trị
trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về quy mô và số lượng, hoạt động đa
dạng và phong phú, đan xen lẫn nhau. Người ta có thể phân biệt ngân hàng với các tổ
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chức tài chính qua các đặc điểm sau:
- NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan

5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chức năng trung gian tài chính của ngân hàng phát huy tác dụng. Nó đem lại lợi ích
cho ngân hàng và khách hàng
- Chức năng trung gian tài chính
Với sự ra đời của NHTM, phần lớn các khoản chi trả về hàng hóa dịch vụ của
xã hội được thực hiện thông qua ngân hàng với những hình thức thích hợp, thủ tục
đơn giản và kỹ thuật ngày càng trở nên hiện đại. Trước kia khi đi mua sắm hàng hóa
mọi người bắt buộc phải mang theo tiền mặt thì mới có thể mua được hàng hóa,
nhưng giờ đây thì không cần thiết họ hoàn toàn có thể thanh toán bằng thẻ ATM, rất
nhanh gọn, đảm bảo an toàn cho người sử dụng, không sợ bị mất tiền trong quá trình
sử dụng. Trong trường hợp này thì ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính giữa
khách hàng với nhà cung cấp hàng hóa. Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã
hội vào ngân hàng, nên việc giao lưu hàng hóa, dịch vụ trở nên thuận tiện nhanh
chóng, an toàn tiết kiệm hơn.
Ngoài ra do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền
gửi xã hội, tạo nguồn vốn cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
- Chức năng tín dụng
Với chức năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai
trò là người cho vay
NHTM thu hút khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội, gồm tiền gửi của doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, cơ quan nhà nước, mặt khác nó dùng chính số tiền đó
cho vay đối với những người có nhu cầu. Có thể nói NHTM là một chung gian tài
chính tín dụng quan trọng trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi
thiếu vốn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống
cho các tầng lớp dân cư
Thông qua việc đi vay và cho vay NHTM có được nguồn chủ lực, không những
đủ sức duy trì bộ máy hoạt động, mà còn đảm bảo sự phát triển không ngừng của bản
thân ngân hàng

1.2 Cơ chế tài chính của NHTM
1.2.1 Cơ chế tài chính của NHTM
- NHTM là định chế tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng. Theo nghị định 166/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về
chế độ tài chính của các tổ chức tín dụng trong đó có NHTM :” Các
tổ chức tín dụng tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
kinh doanh của mình theo quy định của pháp luật, và các tổ chức tín
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng phải thực hiện công khai tài chính”.
- Xuất phát từ cơ chế điều hòa vốn, các NHTM thực hiện hạch toán
hệ thống, trong đó hội sở chính chịu trách nhiệm về hoạt động tài
chính, kết quả kinh doanh của toàn hệ thống, các chi nhánh là các
đơn vị hạch toán nội bộ, chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính
của mình và kết quả kinh doanh của mình.
- Hoạt động tài chính NHTM theo nguyên tắc lấy thu bù chi, nếu kinh
doanh có lãi thì sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại
được trích lập các quỹ theo luật định. Ngược lại, nếu lỗ thì NHTM
chịu trách nhiệm về khoản lỗ trên cơ sở điều hòa kết quả kinh doanh
của toàn hệ thống đảm bảo hoạt động đều trong cả hệ thống
- Niên độ tài chính của NHTM bắt đầu từ 01/01 đến ngày 31/12 mỗi
năm. Mọi khoản thu nhập, chi phí phải được hạch toán hết trong năm
tài chính. Cuối năm, ngân hàng xác định kết quả kinh doanh một lần,
tuy nhiên để có tạm trích và trả lương cho cán bộ thì hàng quý.
NHTM tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi
nhuận. Cuối năm, sau khi xác định kết quả kinh doanh chính thức sẽ
thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ
- Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội
bộ và kiểm toán độc lập.

+ Thu khác về hoạt động tín dụng: Thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
+ Thu lãi tiền gửi: Khoản thu này có được do lượng tiền gửi hàng tháng ở
NHNN và TCTD khác. Do mục đích của việc gửi tiền là để đảm bảo dự trữ bắt buộc
và mục đích thanh toán nên tỷ trọng của khoản thu này là rất nhỏ
 Thu từ hoạt động khác
Ngày nay hoạt động của các ngân hàng rất đa dạng, theo xu thế ngân hàng đa
năng, cung cấp danh mục rất đa dạng, phục vụ các nhu cầu luôn luôn thay đổi của
khách hàng. Dó đo các khoản thu từ hoạt động khác cũng rất đa dạng và ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn dần
+ Thu lãi góp vốn mua cổ phần, hùn vốn liên doanh: Ngân hàng cũng là một
doanh nghiệp và cũng được tham gia góp vốn mua cổ phần theo một tỉ lệ nhất định.
Góp vốn mua cổ phần sẽ được tham gia góp vốn liên doanh: Ngân hàng cũng là một
doanh nghiệp và cũng được tham gia góp vốn mua cổ phần theo một tỉ lệ nhất định.
Góp vốn mua cổ phần sẽ đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nếu ngân hàng đầu tư
góp vốn vào doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có nhiều triển vọng. Để đạt được điều
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này đòi hỏi ngân hàng phải có sự phân tích đánh giá kỹ tiềm năng của đối tác trước
khi quyết định hùn vốn hay mua cổ phần. Đây cũng là hoạt động làm đa dạng hóa
danh mục các khoản thu cho ngân hàng
+ Thu lãi từ tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là nơi trao đổi
mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn ( dưới 1 năm ). Các hàng hóa trên thị
trường này có tính thanh khoản cao, rủi ro thấp, do đó lãi suất thấp. Đây là thị
trường quan trọng để tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và chính
phủ
+ Thu từ kinh doanh vàng bạc đá quý, ngoại tệ: Kinh doanh vàng bạc ngoại tệ
trên thị trường, phục vụ tích cực cho hoạt động xuất nhập khẩu cũng như các hoạt
động trong nền kinh tế. Các hình thức kinh doanh ngoại tệ chủ yếu là mua bán ngoại
tệ chủ yếu là mua bán ngoại tệ, chuyển đổi ngoại tệ, bảo quản chứng từ có giá trị

doanh của ngân hàng và tính chất vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Việc
ngân hàng xác định mức hợp lý chi phí rất quan trọng và cũng là một công việc rất
khó khăn, vì nó ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng. Chi phí ngân hàng gồm
nhóm chính sau:
+ Chi phí hoạt động kinh doanh
Đây là nhóm chính thường xuyên, chiếm tỷ trọng lớn gắn liền với hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
+ Chi hoạt động huy động vốn: Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là đi vay và
cho vay. Chi cho hoạt động huy động vốn là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất, bao
gồm chi trả tiền lãi vay, lãi phát hành giấy tờ có giá.
+ Chi trả lãi tiền gửi: Là khoản tiền mà ngân hàng phải bỏ ra để sử dụng nguồn
vốn từ người gửi tiền. Để huy động được nguồn vốn lớn. các ngân hàng thường đưa
ra mức lãi suất nhằm thu hút được khách hàng, lãi suất huy động cao giúp ngân hàng
huy động khối lượng vốn lớn. Tuy nhiên sức ép về chi phí cũng là nguyên nhân gây
đau đầu cho các ngân hàng, nhất là hiện nay, cơ chế lãi suất thỏa thuận đang được áp
dụng, các ngân hàng đang phải chay đua lãi suất để thu hút khách hàng. Thực ra đây
là khoản chi khó có thể giảm bớt bởi huy động vốn là nòng cốt, là cơ sở để ngân hàng
phát triển các nghiệp vụ bên tài sản có
+ Chi trả lãi tiền vay: Là khoản tiền mà ngân hàng trả khi vay vốn của NHTW
hay TCDT khác để tạo khả năng thanh toán cho mình . Do lãi suất của các khoản vay
thường cao nên các ngân hàng cũng hạn chế sử dụng nguồn vốn này, chỉ khi nào cần
thiết mới đi vay.
+ Phát hành giấy tờ có giá: Cũng là hình thức huy động vốn trên thị trường, tuy
nhiên, đây không phải hình thức các NHTM thường xuyên sử dụng. Do đó chi phí cho
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc chi trả phát hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng nhỏ.
+ Chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Gồm các khoản chi như về cước phí
bưu điện, vận chuyển bốc xếp tiền, kiểm đếm bảo vệ…

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cùng với quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các nhân tố rất đa dạng và
chúng được chia thành hai nhóm
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô như môi trường kinh tế, chính trị văn hóa
xã hội, môi trường pháp luật, công nghệ… Sự tác động của nhân tố này là tác động
hai chiều. Nếu nền kinh tế đang ở giai đoạn phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP, GNP
tăng đều đặn và ổn định qua các năm sẽ tạo cơ hội cho ngân hàng, ổn định kinh tế,
quy mô đầu tư tăng, nhu cầu vay vốn nhiều, đời sống của người dân ngày càng được
cải thiện, thu nhập tăng lên làm cho tiết kiệm cũng tăng lên, nguồn vốn gửi vào ngân
hàng cũng tăng lên. Hoặc khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, các
ngân hàng phải tăng dự trữ bắt buộc vốn sử dụng cho vay giảm, cơ hội kinh doanh
giảm sút… Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ khoa học kỹ thuật,
công nghệ để phục vụ cho ngân hàng ngày càng hiện đại, giúp ngân hàng xử lý các
thông tin nhanh chóng an toàn tiện lợi, tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm dịch vụ mới
ra đời. Tuy nhiên công nghệ mới ra đời làm cho công nghệ hiện hữu trở nên lỗi thời,
ngân hàng phải đổi mới công nghệ thường xuyên. Điều này sẽ gây áp lực cho ngân
hàng về vấn đề chi phí.
Các nhân tố thuộc môi trường vi mô cũng hết sức quan trọng như đối thủ canh
tranh, sản phẩm thay thế… Trước đây, khi người ta chưa mở cửa hội nhập và cũng
chưa đa dạng hóa loại hình sở hình sở hữu các NHTM chiếm vị trí độc tôn. Ngày nay
cũng với sự thay đổi trong chính sách nhiều loại hình ngân hàng ra đời (NHTM cổ
phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…) gây sức ép cạnh
tranh lớn. Như vậy “Chiếc bánh thị trường bị chia nhỏ” hoạt động kinh doanh không
còn thuận lợi như trước nữa. Chưa kể những lợi thế về quy mô, kinh nghiệm, công
nghệ …Của các ngân hàng nước ngoài. Đồng thời nước ta đã cho phép các tổ chức
khác hoạt động như ngân hàng, vì thế các dịch vụ của nó cũng có tác dụng như các
dịch vụ của ngân hàng, chẳng hạn như bên cạnh hoạt động huy động vốn của ngân
hàng còn có các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm, hay tiết kiệm bưu điện của
ngành bưu điện.

sách sản phẩm, xây dựng cơ cấu sản phẩm hợp lý
Tóm lại hoạt động tài chính của ngân hàng chịu ảnh hưởng, tác động của
nhiều nhân tố. Các nhân tố đan xen nhau, tác động ngược chiều nhau, lúc tạo
thuận lợi, lúc gây khó khăn, ngân hàng cần nắm bắt được các nhân tố này để có
biện pháp kịp thời đảm bảo hoạt động diễn ra thuận lợi đạt hiệu quả cao nhất.
1.3 Phương pháp phân tích
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Để phân tích thống kê hoạt động kinh doanh tại ngân hàng NHNo & PTNT em
sử dụng các phương pháp phân tích sau:
1.3.1. Phân tổ thống kê
“Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để tiến hành
phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau”
Phương pháp phân tổ là phương pháp được sử dụng tương đối nhiều trong việc
phân tích kết quả kinh doanh của ngân hàng. Vận dụng phương pháp phân tổ thống
kê vào việc phân tích kết quả kinh doanh của ngân hàng, em đã phân tổ các hoạt động
xuất nhập khẩu của ngân hàng thành các hoạt động thanh toán hàng nhập khẩu, thanh
toán hàng xuất khẩu, hay phân chia hoạt động kinh doanh ngoại tệ thành hoạt động
mua, bán ngoại tệ theo các năm khác nhau. Tương tự, chuyên đề cũng vận dụng
phương pháp phân tổ để phân loại vốn huy động thành các nguồn khác nhau…Việc
phân tổ thống kê là bước cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê, đồng thời nó cũng
là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê khác như phương pháp dãy
số thời gian, phương pháp đồ thị, phương pháp hồi quy tương quan…
1.3.2. Phương pháp phân tích dãy số thời gian
“Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được
sắp xếp theo thứ tự thời gian”. Thời gian có thể là ngày, tuần, tháng, quí, năm. Độ dài
giữa hai thời gian liền nhau gọi là khoảng cách thời gian
Do gặp khó khăn trong việc tìm số liệu nên chuyên đề chỉ vận dụng phương
pháp dãy số thời gian để phân tích biến động kết quả kinh doanh của ngân hàng trong

ngân hàng chưa có thị phần, mối quan hệ với khách hàng gần như không có. Sang
năm 2002, tập thể cán bộ chủ chốt của ngân hàng đã đánh giá những khó khăn ổn
định, nâng cao năng lực kinh doanh
Hoạt động nguồn vốn là một trong những hoạt động tạo tiền đề, cơ sở cho hoạt
động khác, làm sao có được nguồn vốn tăng trưởng ổn định luôn là vấn đề được
NHTM quan tâm. Nếu như năm 2001, 2002 lãi suất là công cụ cạnh tranh chủ yếu,
cùng với cơ chế lãi suất thỏa thuận ( được áp dụng từ tháng 6/2002), các ngân hàng
đua nhau tăng lãi suất huy động vốn, lôi kéo khách hàng về phía mình. Tuy nhiên sau
một thời gian không có hiệu quả, ngân hàng đã chuyển hướng, thay đổi chiến lược
bằng cách thêm tính năng tiện ích cho sản phẩm và đã thu được kết quả sau:
Bảng 2.1: Biến động vốn giai đoạn 2006-2008
Chỉ tiêu
năm
Tổng nguồn vốn
(tỷ đồng)
Lượng tăng tuyệt
đối liên hoàn
(tỷ đồng)
Tốc độ phát triển
liên hoàn
(%)
Tốc độ tăng
liên hoàn
(%)
2006 7952 3514 179,2 79,2
2007 8323 371 104,7 4,7
2008 6994 -1329 -15 -16
Nguồn: Báo cáo tổng nguồn của các năm 2006-2008
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
17

cho có hiệu quả, đó chính là mặt cơ cấu của nguồn vốn có hợp lý hay không điều này
mới là quan trọng. Mỗi nguồn vốn khác nhau sẽ đem lại cho khách hàng những lợi
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ích khác nhau. Nhìn vào bảng 2 ta thấy được cơ cấu nguồn vốn:
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nội giai
đoạn 2006-2008
Chỉ tiêu
Năm
Tổng vốn Trong đó
Tỷ
đồng
%
Vốn huy động Vốn vay Vốn ủy thác
Tỷ
đồng
%
Tỷ
đồng
%
Tỷ
đồng
%
2006 3904 100 3372 86,4 120 3,07 412 10,6
2007 4872 100 4120 84,6 200 4,1 552 11,3
2008 6534 100 5930 90,8 289 4,4 315 4,8
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2006-2008
Nhìn vào bảng ta thấy được nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng cao nhất trong
cơ cấu về nguồn vốn, chiếm: 86,4% (năm 2006), 84,6% (năm 2007), 90,8% (năm 2008).

2007 5078 100 3728 73,4 1350 26,6
2008 6947 100 4825 69,5 2122 30,5
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2006-2008
Nhìn vào bảng cơ cấu ta thấy được trong ba năm thì nguồn vốn huy động nội tệ
vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong năm, cụ thể năm 2006 chiếm 80,01%, năm 2007
chiếm 73,4%, năm 2008 chiếm 69,5%. Nguồn vốn nội tệ này có xu hướng giảm dần
qua các năm, và ngược lại với nó thì nguồn ngoại tệ ngày càng tăng, năm 2006 nguồn
ngoại tệ chỉ có 19,99% đến năm 2007 thì nguồn ngoại tệ đã tăng lên 26,6%, và sang
năm 2008 thì nguồn ngoại tệ tăng lên với mức cao chiếm 30,5% tổng vốn huy động,
sở dĩ nguồn ngoại tệ tăng dần qua các năm là do tỷ giá trong những năm gần đây
không có biến động mạnh, do đó ngân hàng đã phát hành kỳ phiếu huy động USD
nên tiền gửi USD tăng cao trong những năm gần đây.
Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2006-2008
Chỉ tiêu
Năm
Tổng vốn huy động Trong đó
Tỷ đồng %
Không kỳ hạn Kỳ hạn < 12 tháng Kỳ hạn >12 tháng
Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng %
2006 3372 100 615 18,2 1300 38,6 1457 43,2
2007 5078 100 1125 22,2 1893 37,3 2060 40,5
2008 6947 100 1982 28,5 2530 36,4 2435 35,1
Nguồn: Báo cáo tài chính từ năm 2006-2008
Trong nguồn vốn huy động theo kỳ hạn thì lượng vốn không kỳ hạn còn thấp,
năm 2006 chiếm 18,2% tổng vốn huy động, đến năm 2007 và 2008 thì tỷ trọng của
lượng vốn huy động theo kỳ hạn cũng có tăng lên nhưng lượng tăng vẫn còn ít, cụ thể
năm 2007 tỷ trọng nguồn vốn không kỳ hạn trong tổng vốn huy động chiếm 22,2%,
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Bình quân 5132 1787 - -
Nguồn: Báo cáo nguồn năm 2006-2008
Nhìn vào bảng biến động ta thấy được tổng nguồn vốn huy động của ngân
hàng đều tăng qua các năm, năm 2007 so với năm 2006 tăng 1706 tỷ đồng, tương
ứng với tăng 50,6%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 1869 tỷ đồng tương ứng với
36,8%. Bình quân hàng năm lượng vốn mà ngân hàng huy động được đạt khoảng
5132 tỷ đồng, đây là một thông tin rất đáng mừng cho ngân hàng, điều này chứng tỏ
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngân hàng ngày càng nâng cao được uy tín của mình, ngày càng được khách hàng
chấp nhận và tin tưởng.
Nhìn chung hoạt động nguồn vốn của chi nhánh trong những năm gần đây rất
thuận lợi. Sự tăng trưởng ổn định cùng với sự đa dạng nguồn vốn của ngân hàng và
gắn liền với môi trường kinh tế đất nước trong giai đoạn đầu của thời kỳ hội nhập thế
giới, vị thế của ngân hàng ngày càng được nâng cao tầm quan trọng, và đây cũng là
cơ sở vững chắc cho hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng. Chúng ta cần nghiên cứu
kĩ về hoạt động huy động vốn của ngân hàng vì để có được nguồn vốn lớn ngân hàng
đã phải bỏ ra một khoản chi đáng kể, có thể nói đây là một trong những khoản chi lớn
nhất của ngân hàng, để phân tích được các khoản chi phí nhất thiết chúng ta phải
phân tích được khoản chi quan trọng này.
2.1.2 Sử dụng vốn
Có được nguồn vốn trong tay nhưng sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả
lại là một vấn đề quan trọng. Nếu coi huy động vốn là đầu vào trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Thì công tác tín dụng được coi là đầu ra của hoạt động này. Do
đó vấn đề mở rộng tín dụng đối với khách hàng có vai trò quan trọng và ngày càng
trở nên cấp thiết hơn đối với một chi nhánh mới thành lập, chưa có điều kiện mở
rộng, phát triển các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, thánh toán quốc tế…. Nhận thức rõ
điều này, ngay từ khi bắt đầu hoạt động, việc triển khai cho vay đối với khách hàng
đã được quan tâm các phòng nghiệp vụ được xác định rõ định hướng đầu tư tín dụng

63,9%, về phía doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân & hộ gia đình thì tỷ trọng lượng
vốn vay vẫn rất ít, một trong những nguyên nhân làm cho tư nhân và hộ gia đình có
lượng vay vốn ít là do họ chưa thực sự muốn mạo hiểm tham gia vào thị trường đầy
dẫy những khó khăn, họ chưa đủ tự tin đứng lên vay vốn ngân hàng để buôn bán,
kinh doanh hay mở công ty riêng, tuy nhiên trong những năm gần đây thì tỷ trọng
nguồn vốn này đã có xu hướng tăng lên, đây là một dấu hiệu đáng mừng cho sự phát
triển của nền kinh tế Việt Nam. Đó là sự thay đổi về cơ cấu của dư nợ, còn biến động
của dư nợ ra sao qua các năm thì ta lại phải xem xét đến bảng biến động nợ dưới đây:
Bảng 2.7: Biến động dư nợ của NHNo & PTNT Nam Hà Nội giai đoạn
2006-2008
Chỉ tiêu
Năm
Tổng dư nợ
(tỷ đồng)
Lượng tăng
tuyệt đối
liên hoàn (tỷ
Tốc độ phát
triển liên
hoàn
Tốc độ
tăng liên
hoàn
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đồng) (%) (%)
2006 1571 - - -
2007 1983 412 126,2 26,2
2008 2404,5 421,5 121,3 21,3

Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
Nợ xấu (tỷ đồng) 28,8 25,3 25,38
Tổng dư nợ (tỷ đồng) 3746 2481 2350
Tỷ lệ nơ xấu (%) 0,77 1,02 1,08
Nguồn: Báo cáo kinh doanh các năm 2006-2008
Nhìn vào bảng nợ xấu của ngân hàng ta thấy được số dự nợ xấu của ngân
hàng có giảm đi qua các năm từ năm 2006-2008, nhưng điều đó cũng không làm
cho tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm đi. Cụ thể trong năm 2006 tỷ lệ nợ xấu là
0,77%, năm 2007 tỷ lệ nợ xấu lại là 1,02% và đến năm 2008 tỷ lệ nợ xấu lại là
1,08 %, liên tục tăng trong ba năm, chính là vì tổng dư nợ của ngân hàng trong
ba năm cũng giảm dần và tốc độ giảm nhiều hơn tốc độ giảm của nợ xấu, đây
cũng là một việc mà khâu thẩm định cần phải cân nhắc, cần phải tìm hiểu xem
xét kỹ điều kiện chi trả của khách hàng khi muốn vay vốn, tránh tình trạng khách
hàng không có đủ điều kiện trả nợ cho ngân hàng gây nợ xấu.
Đối với ngân hàng truyền thống hoạt động tín dụng đem lại 70-80% thu nhập
cho ngân hàng. Việc nghiên cứu hoạt động tín dụng giúp ta nắm được tình hình tín
dụng, thấy được cơ sở tạo ra thu nhập cho ngân hàng, từ đó có biện pháp thúc đẩy
hoạt động tín dụng hoạt động có hiệu quả nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng
2.1.3 Công tác kinh doanh đối ngoại
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động kinh doanh đối ngoại ngày
càng trở nên quan trọng. Các ngân hàng lớn có uy tín thường có lợi thế lớn trong việc
trở thành đối tác trong các giao dịch hay các dự án hợp tác kiểu này. Uy tín ngân
hàng càng có ý nghĩa hơn khi nó được xét đến như một yếu tố xác định mức độ rủi ro
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
25

Trích đoạn Nhóm giải pháp chung Kiến nghị với chính phủ Kiến nghị với NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nộ Kiến nghị với công tác thống kê của NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status