SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bà Rịa, ngày 2 tháng 10 năm 2014
QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI HỌC VIÊN CÁC LỚP BỒI DƯỠNG
Nhằm đảm bảo quyền lợi học tập của học viên và xây dựng nề nếp, kỷ cương,
môi trường sư phạm tại trường Cao đẳng Sư phạm, mỗi học viên khi học tập tại trường
cần thực hiện những điều quy định sau đây:
1. Học viên phải đi học đúng giờ quy định:
- Giờ học buổi sáng: từ 7h30 đến 11h30 (giải lao từ: 9h30 đến 9h45)
- Giờ học buổi chiều: từ 13h30 đến 17h30 (giải lao từ: 15h30 đến 15h45)
2. Học viên đi trễ 15 phút không được vào lớp và tính 1 buổi vắng. Học viên có lý
do cần về sớm phải được sự đồng ý của giảng viên giảng dạy.
3. Trong giờ học, học viên không được sử dụng điện thoại, không hút thuốc,
không làm việc riêng, không nói chuyện hoặc làm việc khác ảnh hưởng đến giờ học.
4. Không mang thức ăn, thức uống vào lớp học, phải đảm bảo vệ sinh lớp học.
5. Khi đi học hoặc tham quan thực tế, học viên cần trang phục theo quy định của
viên chức nhà nước lúc đi làm việc.
6. Học viên phải thực hiện đầy đủ các cột điểm được quy định trong chương trình
bồi dưỡng. Nếu nghỉ quá 20% số tiết quy định trong môn học hoặc không làm bài
kiểm tra của môn học, học viên không được tính điểm quá trình của môn học đó. Danh
sách học viên không hoàn thành môn học sẽ được giảng viên thông báo trước lớp.
7. Hoàn thành khóa bồi dưỡng, học viên được cấp chứng nhận theo quy định của
Bộ GD&ĐT.
8. Học viên thực hiện nội quy nghiêm túc và có kết quả học tập xuất sắc sẽ được
Nhà trường đề xuất với Sở GD&ĐT khen thưởng. Học viên nào không chấp hành nội
hiện nay - GV: TS. Hồ Cảnh Hạnh.............................................................................
9. Chuyên đề 10: Các điều ước quốc tế về quyền con người và việc thực hiện
ở Việt Nam - GV: Th.s Hồ Viết Chiến.........................................................................
2
Chuyên đề 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ
PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM;
VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC DẠY PHÁP LUẬT TRONG MÔN
GDCD Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
GV: Th.s Nguyễn Thị Thanh Thủy
1. NỘI DUNG
1.1. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc dạy pháp luật trong
môn GDCD ở trường trung học; vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong
môn GDCD ở trường trung học
a. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc dạy pháp luật trong môn
GDCD ở trường trung học
- Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật
của cán bộ, nhân dân ngày 09 tháng 12 năm 2003.
- Quyết định phê duyệt Đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật trong nhà trường" Số: 1928/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009
b. Vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong môn GDCD ở trường trung học
Thảo luận: Tại sao phải dạy pháp luật cho học sinh?
- Giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm giúp các em hiểu biết về pháp luật cơ bản. Từ
đó các em có thể nhận biết, phân biệt những hành vi đúng pháp luật và hành vi sai trái.
- Các em có tinh thần, trách nhiệm trong việc hành động đúng pháp luật, phát hiện
những sai trái pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Đồng thời, các em có khả
năng tự làm chủ bản thân trong cuộc sống, biết đánh giá hành vi pháp luật.
lực này không phải là quyền lực đặc biệt do một giai cấp hay một cá nhân tổ chức ra,
mà đó là quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiện trên cơ sở dân chủ thực sự, quyền
lực này xuất phát từ xã hội và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng.
2. Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước
Qua ba lần phân công lao động xã hội: 1, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; 2, thủ
công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3, thương nghiệp xuất hiện đã làm cho nền kinh
tế xã hội có sự biến chuyển sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản
phẩm dư thừa, vì thế kéo theo hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng. Quá
trình phân hoá tài sản làm xuất hiện chế độ tư hữu và kéo theo là sự phân chia giai cấp
trong xã hội.
Theo Ph. Ăngghen có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình.
1. Nhà nước Aten
2. Nhà nước La Mã
3. Nhà nước Giéc Manh
Ở các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện khá sớm, khi chế độ tư hữu và sự
phân chia giai cấp trong xã hội chưa ở mức cao. Nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của
các nhà nước phương Đông là do nhu cầu trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm.
Ở Việt Nam, nhu cầu xây dựng, quản lý những công trình trị thuỷ đảm bảo nền
sản xuất nông nghiệp và tổ chức lực lượng chống giặc ngoại xâm đã thúc đẩy quá trình
liên kết các tộc người và hoàn thiện bộ máy quản lý. Kết quả này đã cho ra đời nhà
nước Việt Nam đầu tiên - Nhà nước Văn lang của các Vua Hùng.
II. Bản chất của nhà nước
Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là sự biểu hiện của sự không
thể điều hoà được của các mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Nhà nước là tổ chức quyền
lực chính trị đặc biệt.
Mặc dù có sự khác nhau về bản chất nhưng tất cả các nhà nước đều có chung
các dấu hiệu. Những dấu hiệu đó là:
Thứ nhất, nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.
Thứ hai, nhà nước thiết lập quyền lực công.
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia.
hoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới.
II. Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật cũng giống như nhà nước là tính giai cấp của nó, không có
“pháp luật tự nhiên “ hay pháp luật không có tính giai cấp.
Tính giai cấp của pháp luật trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai
cấp thống trị.
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật.
III. Chức năng của pháp luật
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:
- Chức năng điều chỉnh;
- Chức năng bảo vệ;
- Chức năng giáo dục.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan
hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý
cho đời sống xã hội có nhà nước.
1.2.2. Các hình thức nhà nước và pháp luật trên thế giới
A. NHÀ NƯỚC
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những biện
pháp để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái
niệm chung được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà
nước và chế độ chính trị.
a. Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao của
nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng và mức độ tham gia
của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng
hoà.
Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập
dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi...Ví dụ như chế độ dân chủ trong
nhà nước tư sản là biểu hiên cao độ của chế độ dân chủ hình thức, còn chế độ dân chủ
xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực sự và rộng rãi.
Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hình
thức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ độc
tài, phát xít.
Các hình thức nhà nước trên thế giới
1. NHÀ NƯỚC CHỦ NÔ
Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đời
trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Là hình thức tổ chức và thực
hiện quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô.
Bản chất của nhà nước chủ nô trước hết được thể hiện ở các chức năng đối nội
và đối ngoại cơ bản của nó.
Các chức năng đối nội cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a. Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất
và nô lệ
b. Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các
tầng lớp nhân dân lao động khác
c. Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng
Các chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a. Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
b. Chức năng phòng thủ chống xâm lược
Lịch sử phát triển của nhà nước chủ nô gắn với các hình thức chính thể: quân
chủ, cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc.
Về hình thức cấu trúc nhà nước, tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc
nhà nước đơn nhất.
6
Về chế độ chính trị, ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tài
đời sống nhà nước và xã hội.
1. Chức năng củng cố, bảo vệ, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản
Chức năng này bao hàm những nội dung sau:
- Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu tư sản
- Trấn áp các giai cấp bị trị về mặt chính trị
- Trấn áp giai cấp bị trị về mặt tư tưởng
2. Chức năng kinh tế
+ Nhà nước tư sản căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội để xây dựng và đưa ra
các chương trình kinh tế cụ thể.
+ Nhà nước thông qua chương trình đầu tư tài chính nhằm phục vụ trực tiếp cho
các chương trình và mục tiêu kinh tế.
+ Nhà nước đưa ra và thực hiện các chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách
thuế, chính sách thị trường thích hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế.
+ Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sức
ép của thị trường kinh tế quốc tế.
3. Chức năng xã hội
7
Nhà nước tư sản thực hiện chức năng xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội
như: việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xã
hội cho người già, giải quyết các tệ nạn xã hội...Chính sách xã hội và việc thực hiện
chức năng xã hội của nhà nước tư sản tuỳ thuộc vào tương quan các lực lượng chính
trị trong nhà nước tư sản ở các giai đoạn phát triển và trong từng quốc gia cụ thể.
4. Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và chống phá các phong
trào cách mạng thế giới
5. Chức năng đối ngoại hoà bình, hợp tác quốc tế
Trên cơ sở của nguyên tắc phân chia quyền lực, về cơ bản bộ máy nhà nước tư
sản bao gồm những bộ phận sau:
- Nghị viện
4. NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của đại đa số nhân dân lao động trong xã
hội mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức.
Các chức năng đối nội của nhà nước xã hội chủ nghĩa
a. Chức năng kinh tế
b. Chức năng xã hội
8
c. Chức năng giữ vững an ninh - chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
các quyền tự do, dân chủ của công dân.
Các chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa
a. Chức năng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
b. Chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo
nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau.
B. PHÁP LUẬT
Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của một xã
hội nhất định, vì thế tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp có các
kiểu pháp luật :
- Pháp luật Chủ nô.
- Pháp luật phong kiến.
- Pháp luật tư sản.
- Pháp luật xã hội chủ nghĩa.
1. PHÁP LUẬT CHỦ NÔ
- Pháp luật chiếm hữu nô lệ củng cố cơ sở kinh tế của XHCHNL là chế độ
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối với nô lệ, hợp pháp hoá chế độ bóc lột
tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ.
- Pháp luật chủ nô ghi nhận sự thống trị tuyệt đối của gia trưởng đối với các
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương chính
sách của đảng cộng sản.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác
trong chủ nghĩa xã hội.
1.2.3. Hình thức nhà nước và pháp luật ở Việt Nam
A. NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền
tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam
- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
- Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào công
việc quản lý nhà nước.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.
Hệ thống chính trị nước ta gồm có các bộ phận cấu thành sau: Đảng cộng sản
Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính tri, xã hội như: Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niện cộng sản Hồ Chí Minh...
B. PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
1. Bản chất và các đặc trưng của pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam
- Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động.
- Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phản ánh đường lối,
chính sách của Đảg Cộng sản Việt Nam.
- Về tính cưỡng chế trong pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:
Pháp luật Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự được thể hiện trong các văn bản quy
phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành như: Quốc hội, Chính
phủ, Các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh (thành phố)…….
mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của
quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện.
3. Chế tài: là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp
tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
- Những biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tới
trách nhiệm pháp lý. Loại chế tài này gồm có:
+ Chế tài hình sự;
+ Chế tài hành chính;
+ Chế tài dân sự;
+ Chế tài kỷ luật;
PHÂN LOẠI CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1. Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh có thể phân
chia quy phạm pháp luật thành các ngành luật: quy phạm pháp luật hình sự, quy phạm
pháp luật hành chính, quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật kinh tế... Với
cách tiếp cận này có thể chia quy phạm pháp luật thành những nhóm nhỏ hơn ngành
luật như phân ngành luật hoặc chế định pháp luật.
2. Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật có thể chia quy phạm pháp
luật thành: quy phạm pháp luật định nghĩa, quy phạm pháp luật điều chỉnh và quy
phạm pháp luật bảo vệ.
Quy phạm pháp luật định nghĩa có nội dung giải thích, xác định một vấn đề nào
đó hoặc nêu những khái niệm pháp lý.
Quy phạm pháp luật điều chỉnh có nội dung trực tiếp điều chỉnh hành vi của
con người và hoạt động của các tổ chức (quy định quyền và nghĩa vụ cho cá nhân và tổ
chức tham gia vào quan hệ đó).
Quy phạm pháp luật bảo vệ có nội dung xác định biện pháp cưỡng chế nhà
nước liên quan đến trách nhiệm pháp lý.
3. Phụ thuộc vào hình thức mệnh lệnh nêu trong quy phạm pháp luật có thể
chia quy phạm pháp luật thành quy phạm pháp luật dứt khoát, quy phạm pháp luật
không dứt khoát (quy phạm pháp luật tuỳ nghi) và quy phạm pháp luật hướng dẫn.
Quy phạm pháp luật dứt khoát là những quy phạm trong đó chỉ quy định một
1.2.5. Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội,
xuất hiện dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, theo đó các bên tham gia
quan hệ có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của quy phạm pháp luật,
quyền và nghĩa vụ đó được pháp luật ghi nhận và nhà nước bảo đảm thực hiện bằng
các biện pháp tổ chức, cưỡng chế nhà nước.
Phân loại quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật tồn tại trong xã hội rất đa dạng và phong phú, điều này cho
thấy sự cần thiết phải phân loại chúng. Có các căn cứ để phân loại:
a. Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, quan hệ pháp
luật được phân chia thành các nhóm lớn tương ứng với các ngành luật như: quan hệ
pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật hành chính...
b. Căn cứ vào cách thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể, quan hệ pháp luật
được phân loại thành quan hệ pháp luật cụ thể và quan hệ pháp luật chung.
Quan hệ pháp luật cụ thể là quan hệ nảy sinh giữa các chủ thể nhất định có quyền
và nghĩa vụ pháp lý.
Quan hệ pháp luật chung là quan hệ phát sinh từ Hiến pháp, các đạo luật và là cơ
sở của sự hình thành các quan hệ pháp luật cụ thể.
c. Căn cứ vào cách quy định quyền và nghĩa vụ của những bên tham gia, ta có
quan hệ pháp luật phức tạp và quan hệ pháp luật đơn giản.
Quan hệ pháp luật phức tạp là quan hệ mà trong đó các chủ thể tham gia có cả
quyền và nghĩa vụ.
Quan hệ pháp luật đơn giản là quan hệ trong đó thuần tuý một bên chủ thể tham
gia có nghĩa vụ.
d. Căn cứ vào tính chất của những nghĩa vụ được trao cho các bên tham gia, ta
có quan hệ pháp luật tích cực và quan hệ pháp luật thụ động.
12
- Phải có tài sản riêng, và bằng chính tài sản của mình pháp nhân thực hiện các
quyền và nghĩa vụ về tài sản của mình.
- Pháp nhân nhân danh chính bản thân mình tiến hành các hoạt động (kể cả hoạt
động tố tụng) và phải chịu trách nhiệm về hậu quả phát sinh từ những hành động đó.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật. Đặc điểm
cơ bản trong năng lực chủ thể pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ
nhà nước là chủ thể quyền lực chính trị của toàn xã hội, là chủ sở hữu lớn nhất của
toàn xã hội.
+ Nội dung của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm quyền và nghĩa vụ chủ
thể.
a. Quyền chủ thể
Quyền chủ thể là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành. Nói
cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được
pháp luật cho phép.
Quyền chủ thể có những đặc tính sau:
- Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép.
13
- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành vi cản trở mình thực hiện
các quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ
quyền và nghĩa vụ này.
- Khả năng các chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi
ích của mình.
Các thuộc tính kể trên của quyền chủ thể là thống nhất không thể tách rời.
b. Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
Nghĩa vụ của chủ thể là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiến
hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác.
Nghĩa vụ pháp lý có những đặc điểm sau:
- Thi hành pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện
nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.
Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể
phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực, chẳng hạn như cá nhân
thực hiện nghĩa vụ quân sự, ghi tên vào danh sách nhập ngũ, hoặc người kinhn doanh
thực hiện nghĩa vụ thuế... chính là đã thi hành pháp luật.
- Sử dụng pháp luật
14
Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện
quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép).
Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực
hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ
không bị bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như công dân thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo...
- Áp dụng pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực
hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp
luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những
quan hệ pháp luật cụ thể.
Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức
thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp
luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc
nhà chức trách có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng của
thực hiện pháp luật liên quan đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước vì thế cần
thiết phải đi sâu nghiên cứu.
1.2.7. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
- Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi của các cá nhân, tổ
chức có năng lực trách nhiệm dân sự, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân
thân.
Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân cũng có thể là tổ chức.
- Vi phạm kỷ luật nhà nước: là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế,
quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp, trường học..., nói khác đi, là
không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ được đề ra trong cơ quan, xí
nghiệp, trường học đó.
Chủ thể vi phạm kỷ luật có thể là cá nhân, cũng có thể là tập thể và họ phải có
quan hệ ràng buộc với cơ quan, đơn vị, trường học... nào đó.
* Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước
(thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó
nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng
chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ
thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh
thần do hành vi của mình gây ra.
Các loại trách nhiệm pháp lý
Tương ứng với các dạng vi phạm pháp luật là các dạng trách nhiệm pháp lý.
Thông thường, trách nhiệm pháp lý được phân loại như sau:
- Phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp
lý, ta có: trách nhiệm do Toà án áp dụng và trách nhiệm do cơ quan quản lý nhà nước
áp dụng.
- Căn cứ vào mối quan hệ của trách nhiệm pháp lý với các ngành luật, ta có:
trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật,
trách nhiệm vật chất.
a. Trách nhiệm hình sự được Toà án áp dụng đối với những người có hành vi
phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Chế tài trách nhiệm hình sự là nghiêm
khắc nhất trong số các biện pháp trách nhiệm pháp lý khi xem xét ở góc độ chung
nhất.
2. Giáo trình pháp luật, Nxb. Đại học Sư phạm, 2007.
Chuyên đề 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HIẾN PHÁP NƯỚC
CHXHCNVN, LUẬT HÀNH CHÍNH, LUẬT HÌNH SỰ
GV: Th.s Hồ Viết Hùng
Chuyên đề: Những nội dung cơ bản về Hiến pháp nước CHXHCNVN
1. Những nội dung cơ bản về Hiếp pháp nước CHXHCNVN năm 2013
1.1. Lịch sử lập hiến ở nước ta (1945 – Nay).
1.1.1. Hiến pháp năm 1946: Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập, thì một trong bốn nhiệm vụ cấp bách hàng
đầu của chính quyền cách mạng là: củng cố chính quyền dân chủ nhân dân mà nhiệm
vụ hàng đầu là xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Trước nhu cầu thực tế đó,
ngày 6/1/1946 đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội, lần đầu tiên trong lịch sử mấy
ngìn năm của dân tộc ta nhân dân có quyền bầu cử, có quyền quyết định vận mệnh
chính trị. Quốc hội đã họp phiên đầu tiên vào ngày 2 tháng 3 năm 1946. Tuy còn nhiều
khó khăn trong những ngày đầu lập quốc, nhưng đến tháng 11 năm 1946 Quốc hội
cũng đã thông qua bản hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bao gồm lời
nói đầu, 7 chương và 70 điều.
1.1.2. Hiến pháp 1959: Một số điểm đáng lưu ý: Bản HP này gồm lời nói đầu, 10
chương, 112 điều, được Quốc hội nước VNDCCH thông qua ngày 31 tháng 12 năm
1959.
HP này quy định công dân có quyền ứng cử chức Chủ tịch nước (35 tuổi trở lên).
Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân, có
nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn
vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bình
của nhân dân.
1.1.3. Hiến pháp 1980: Một số điểm đáng lưu ý: Đây là bản HP có lời nói đầu dài nhất
(1709 từ), gồm 12 chương, 147 điều, được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua
ngày 18 tháng 12 năm 1980.
Lần đầu tiên hiến định vai trò của ĐCSVN: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên
Sau chương quy định về chế độ chính trị là chương quy định về quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây cũng là một điểm mới, thể hiện tầm quan
trọng của quyền con người trong Hiến pháp. Trong Hiến pháp 1992, vấn đề này được
quy định tại chương 5 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Với việc ghi nhận
trong Hiến pháp về quyền con người đã đảm bảo phù hợp với các điều ước quốc tế về
quyền con người mà nước ta tham gia ký kết. Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền,
nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực
hiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta.
Hai điểm mới đó là ghi nhận về quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn
chế trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng và mọi người có quyền sống.
Đáng chú ý, Hiến pháp mới tiếp tục khẳng định vai trò của Nhà nước và kinh tế
Nhà nước trong việc định hướng, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Thừa nhận các hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế;
các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước
khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác
đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây
dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh
được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Hiến pháp làm rõ thẩm quyền của
Chủ tịch nước trong từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và làm rõ hơn vai trò
của Chủ tịch nước trong thống lĩnh lực lượng vũ trang; giữ chức Chủ tịch Hội đồng
quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng,
chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng
tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân. Quy định làm cơ
sở để lực lượng vũ trang tham gia vào việc bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới,
từng bước nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc tổ chức chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân hiện nay đều giống nhau ở các loại đơn vị hành chính đã tạo ra sự rập khuôn, cứng
nhắc, ít phân biệt được sự khác nhau trong quản lý hành chính Nhà nước ở đô thị,
nông thôn, miền núi, hải đảo và cũng không bảo đảm được tính tập trung cao từ trung
Chuyên đề: Luật Hành Chính
1. Những vấn đề chung của Luật hành chính.
1.1. Khái niệm luật hành chính: Luật Hành chính là một ngành luật trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, là một hệ thống các quy tắc và các quy phạm pháp luật,
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan hành chính nhà nước
với các tổ chức và công dân trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
1.2. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
- Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới
Vd: Công an xã, phường với Công an huyện.
Vd: Phòng giáo dục với Sở Giáo dục hay Bộ Giáo dục…
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội
Vd: Tỉnh ủy, UBND tỉnh với các tổ chức Tôn giáo, Với Hội cựu chiến binh, Hội
nông dân, Hội khuyến học, đoàn TNCSHCM…
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với công dân
Vd: Công an khu vực với người dân nơi cư trú, cảnh sát giao thông với người
đang điều khiển các phương tiện giao thông…
1.1. Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của luật là cách thức tác động của luật lên các mối quan
hệ xã hội. Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn
phương.
2. Một số nội dung cơ bản của luật hành chính
19
2.1. Khái niệm về cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Cơ quan quản lý hành
chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước lập ra để quản lý
hành chính nhà nước.
2.2. Khái niệm quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan
hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước được áp dụng 1 lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng cụ thể về 1 vấn đề cụ thể trong
lây lan bệnh tật do hành vi vi phạm gây ra.
- Buộc phải tiêu hủy những vật phẩm có hại cho người và vật nuôi
Vd:.băng đĩa đồi trụy, thức ăn bị nhiễm khuẩn, thuốc trừ sâu không rõ nguồn
gốc….
Các biện pháp xử lý hành chính khác:
- Giáo dục tại địa phương, gia đình.
- Đưa vào trường giáo dưỡng
- Đưa vào các cơ sở giáo dục.
- Đưa vào các cơ sở chũa bệnh
- Quản chế hành chính.
Chuyên đề Luật Dân Sự
20
1. Khái niệm và các nguyên tắc của Luật Dân sự
1.1 . Khái niệm Luật dân sự: Là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
là tổng thể các quy tắc và quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân, trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và độc lập với các chủ thể tham gia các
quan hệ đó.
Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tranh chấp về tài sản, nhân
thân, nó phát sinh qua những hành vi của con người và có dấu hiệu phạm tội..
VD: Tranh chấp đất đai, tranh chấp cây cối.v.v…
1.2. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lực
pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
(điều 14)
- Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
+ Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được
pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật,
21
không trái đạo đức xã hội.Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không
bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.Cam kết, thoả
thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân,
pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.
1.4.2. Nguyên tắc bình đẳng
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về
dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ
văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.
1.4.3. Nguyên tắc thiện chí, trung thực
Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực
hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào.
1.4.4. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự
Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách
nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tự
nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.
1.4.5. Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân
tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết,
tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị
đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.Đồng bào các
dân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ dân sự để từng bước nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của mình.Việc giúp đỡ người già, trẻ em, người tàn
tật trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự được khuyến khích.
1.4.6. Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và
pháp của công dân, góp phần đảm bảo sự an toàn và trật tự xã hội. Trong hệ thống
pháp luật Việt Nam chỉ có luật hình sự mới định tội danh và hình phạt.
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ, những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, gây tổn hại đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân,
xâm phạm đến đạo đức, văn hóa chuẩn mực xã hội…
1.2. Những nguyên tăc của luật hình sự:
- Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời , xử lý nhanh chóng và công
bằng trước pháp luật
- Mọi phạm nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam , nữ, dan
tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần xã hội ...
- Đối tượng phạm tội lần đầu mà ít nguy hiểm biết ăn năn, hối cải có thể áp dụng
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù (án treo )..giao họ cho các cơ quan, tổ chức họăc gia
đình giáo dục
- Đối với tội danh phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam,
nếu có nhiều tiến bộ sẽ được giảm án, được hưởng khoan hồng... ( đặc xá )
- Người chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương
thiện và hòa nhập cộng đồng , nếu có điều kiện sẽ xóa án tích.
2. Tội phạm hình sự :
2.1. Khái niệm về tội phạm hình sự:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những
lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định
trong Bộ luật hình sự, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà
trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
- Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh
khác Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh
khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Phòng vệ chính đáng: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của
người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các
lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.Vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Tình thế cấp thiết: Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một
nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt
hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
không phải là tội phạm.Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của
tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Chuẩn bị phạm tội : Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương
tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.Người chuẩn bị phạm một
tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội định thực hiện.
- Phạm tội chưa đạt: Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không
thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
- Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội
định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác,
thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
- Đồng phạm: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực
một số quyền công dân, tịch thu tài sản, trục xuất...
25