TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo Dục Công dân
Mã ngành: 52140204
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. GVC. TRẦN THỊ TUYẾT HÀ
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN VẠN THẢO
MSSV:6106649
MÃ LỚP:ML1068A2
CẦN THƠ /28 /11 / 2013
LỜI CẢM ƠN!
Được làm luận văn tốt nghiệp là mong muốn hầu hết của các bạn sinh viên
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Cần Thơ nói chung và
bản thân em nói riêng. Lời đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu
trường Đại học Cần Thơ, quý thầy cô trong Khoa Khoa học Chính trị đã tận tình
truyền đạt những kiến thức quý báu, bổ ích cho em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường và đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Tuyết Hà,
người đã trực tiếp hướng dẫn cho em, quan tâm, giúp đỡ tận tình tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho em để em có thể hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình. Nhân đây em xin chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe để tiếp tục
cống hiến hết mình vì sự nghiệp trồng người.
2.2 Những hạn chế về kỹ năng giao tiếp của học sinh trường THPT huyện Cầu Kè
tỉnh Trà Vinh thời gian qua................................................................................ 36
Chương III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT
HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY ......................................... 46
3.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng cùng tham gia nhằm tăng cường kỹ
năng giao tiếp cho học sinh trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh ............ 45
3.2Tăng cường tổ chức các loại hình hoạt động nhằm mở rộng đối tượng, phạm vi,
nội dung giao tiếp cho học sinh trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh theo các
chuẩn hành vi ứng xử của học sinh .................................................................... 47
3.3 Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mọi hoạt động nhằm tăng
cường tính tự chủ cho học sinh trong quá trình giao tiếp.................................... 50
3.4 Xã hội hóa việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT huyện Cầu Kè,
tỉnh Trà Vinh ..................................................................................................... 53
C. KẾT LUẬN ................................................................................................. 58
DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 60
A – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của mọi sự phát triển, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là muốn phát triển
kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước thì phải phát triển con người. Vì vậy hầu hết các
quốc gia trong khu vực và trên thế giới đều rất quan tâm đến phát triển con người, coi
giáo dục - đào tạo là " quốc sách hàng đầu". Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta đã
có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục - đào tạo, coi "Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư phát triển" và "Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của
Nhà nước và của toàn dân". Đồng thời xác định rõ mục tiêu giáo dục trong thời kỳ
mới của đất nước: "chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng,
trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tin dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức
ngôn ngữ của các em chưa được hỗ trợ nhiều bởi nét mặt, cử chỉ, điệu bộ và thiếu tự
tin trong quá trình giao tiếp, bên cạnh đó các em không giữ được bình tĩnh trước
những lời khích bác, trêu trọc của người khác, năng lực kiềm chế bản thân các em
tương đối khó nên không giữ được bình tĩnh trong giao tiếp. Hạn chế này do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân kỹ năng giao tiếp của họ chưa cao.Trong
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục hiện nay của đất nước nói chung và
của huyện Cầu Kè nói riêng, học sinh không thể thiếu những kỹ năng giao tiếp cơ
bản. Kỹ năng giao tiếp là hành trang quý giá giúp họ thành công trong nghề nghiệp
nói riêng và cuộc sống nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Giáo dục kỹ năng giao tiếp
cho học sinh ở trường THPT huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp của học sinh
trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh. Qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường THPT
huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là: Khái niệm kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và các yếu tố tác động đến giáo
dục kỹ năng giao tiếp.
Hai là: Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp của học sinh trường THPT
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thời gian qua.
Ba là: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục kỹ
năng giao tiếp cho học sinh trường THPT huyện Cầu kè, tỉnh Trà Vinh hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Học sinh trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh từ năm 2009 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
như; phương pháp logic, phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp thu thập số
liệu và lập bảng thống kê.
cũng đi đến chỗ khó giải thích một số trường hợp giao tiếp tham gia vào hoạt động
có đối tượng như là điều kiện thiết yếu của hoạt động.Từ đó nhiều nhà tâm lý học
cho rằng, hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý người.
Giao tiếp là một dạng hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể.
Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể. Hai khái niệm
Trang6
này ngang bằng nhau và có mối quan hệ gắn bó khắng khít với nhau trong phạm trù
hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý,
có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Hoạt động có đối tượng
Hoạt động
Hoạt động giao tiếp
Platon (428 – 374 TCN) , Socrate (460 – 348 TCN) đã đưa ra những khá i niệm về giao
tiếp, các tác giả trên coi đối thoại là sự giao lưu trí tuệ của những người biết suy nghĩ
[5] [33].
C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu giao tiếp như là "một quá trình thống nhất, hợp
tác, tác động qua lại giữa người với người". Như vậy, khái niệm giao tiếp được
khai thác dưới góc độ là một quá trình hợp tác giữa con người với con người. Tuy
nhiên trong cuộc sống không phải có hợp tác là có giao tiếp, đôi khi giao tiếp không
có sự hợp tác mà lại là sự xung đột. Nhà tâm lý học người Anh M.Acgain đã khẳng
định "giao tiếp là quá trình hai mặt của sự thông báo, thành lập sự tiếp xúc, trao
đổi thông tin". Lúc này, khái niệm giao tiếp được khai thác với chức năng trao đổi,
tiếp nhận thông tin giữa con người với con người trong xã hội.
Trong nghiên cứu về giao tiếp, P.Oathavut, G.Bivans, D.Giactson là các nhà
Tâm lý học Pháp đã coi giao tiếp là một tổ hợp hành vi hay nói cách khác, giao tiếp là
một quá trình xã hội thường xuyên diễn ra giữa con người với nhau, quá trình này tích
diễn ra trong xã hội loài người.
- Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người.
- Giao tiếp thể hiện thông qua sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết, rung cảm và
ảnh hưởng lẫn nhau.
- Giao tiếp chứa đựng những nội dung của xã hội, được thực hiện trong một
hoàn cảnh xã hội cụ thể và chịu sự quy định của các yếu tố văn hóa, xã hội.
1.1.2 Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm
khác nhau với cách nhìn và khai thác khác nhau. Mỗi nhà nghiên cứu nhìn nhận,
khai thác nó dưới góc độ nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, tác giả Hoàng Anh quan niệm về kỹ năng
giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp. Đó là các khả
năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ... là hệ thống các
thao tác cử chỉ, điệu bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa. Trong thực tế,
kỹ năng giao tiếp của con người không chỉ phụ thuộc vào phương tiện mà nó phụ
thuộc khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, phụ thuộc vào những nét văn hóa
đặc trưng vùng miền mà người đó sinh sống, có khi còn chịu ảnh hưởng của sự giáo dục,
Trang8
quản lý của gia đình.
Dưới góc độ nhìn nhận khả năng tri giác những biểu hiện bên ngoài và
những diễn biến bên trong của hiện tượng....tác giả Ngô Công Hoàn đã coi kỹ năng
giao tiếp "là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những
diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng
giao tiếp". Như vậy, ta thấy rằng: kỹ năng giao tiếp của mỗi người bao hàm cả khả
năng vận dụng vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của bản thân chủ thể giao tiếp, khả năng
điều khiển đối tượng giao tiếp.
Quan niệm kỹ năng giao tiếp là nhóm những kỹ năng giao tiếp, Tác giả
Nguyễn Bá Minh coi "kỹ năng giao tiếp là nhóm kỹ năng giao tiếp bao gồm các hành
giao tiếp. Điều này giúp các em học sinh nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của kỹ
năng giao tiếp.
* Cách thức tổ chức quản lý của nhà trường
Hiện nay nhà nước ta đang khuyến khích xã hội hoá rất nhiều lĩnh vực, trong
đó có Giáo dục. Số lượng trường lớp ngày càng mở rộng, nhưng có nhiều thực trạng
đang tồn tại, trong đó có vấn đề văn hoá học đường ngày càng xuống cấp trầm
trọng. Do hiện nay nề nếp nhiều trường chưa quy cũ, chưa quan tâm đúng mức đến
việc tạo ra môi trường giao tiếp thật sự văn minh cho học sinh
Để có môi trường giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp tốt nhà trường
cần đưa ra những quy định, nội quy, cách thức giao tiếp cho học sinh của trường.
Tất cả những quy định, quy tắc… của nhà trường có những vấn đề ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho các em. Nhà trường nên
tạo ra một môi trường mà ở đó các em thấy mình được tôn trọng, thấy bản thân có
giá trị và có một niềm tự hào khi là học sinh của trường. Đây là những điều sẽ ảnh
hưởng trực tiếp vào vô thức của học sinh giúp học sinh giao tiếp tốt. Bởi lẽ, các em
thấy bản thân được tôn trọng, có giá trị thì tự khắc sẽ cố gắng sống sao cho xứng
đáng với điều đó, trong đó có việc giao tiếp đúng và giao tiếp tốt.
* Phương pháp dạy học
Những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của nguời học có tác
dụng rất lớn giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp. Trong quá trình học, học
sinh chủ động tìm kiếm tri thức, trao đổi với bạn bè, thầy cô, trình bày sản phẩm của
cá nhân hoặc nhóm. Từ đó các em có nhiều cơ hội tương tác với người khác, cơ hội
rèn luyện KNGT cho bản thân.
- Năng lực giao tiếp của giáo viên toàn trường
Năng lực giao tiếp của giáo viên là bài học sinh động, quý báu để cho học
sinh học tập. Người giáo viên có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ làm cho mình đẹp hơn và
được tôn trọng trong mắt học sinh. Được học một người thầy vừa có chuyên môn
giỏi, vừa có năng lực giao tiếp tốt sẽ là tác nhân kích thích lớn lao để học sinh rèn
luyện và phấn đấu.
- Năng lực chuyên môn của giáo viên giảng dạy các môn về giao tiếp
giao tiếp được mở ra và thu hút được sự chú ý của rất nhiều em, trong đó có các em
học sinh trường THPT Cầu Kè. Nhiều em rất tích cực trong việc tham gia các hoạt
động Đoàn, hoạt động tình nguyện.Các hoạt động đó giúp định hướng cho các em
học sinh rèn luyện và phát triển những kỹ năng cần thiết cho công việc ngay khi
ngồi trên ghế nhà trường đồng thời tạo cơ hội cho các em tiếp xúc với môi trường
làm việc thực tế ngay khi các bạn còn trên ghế nhà trường. Tuy nhiên bên cạnh
những em học tập chăm chỉ, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của tập thể, tích cực tìm
Trang12
kiếm thông tin về những lĩnh vực học tập để tiếp thu bài giảng trên lớp của thầy cô
tốt nhất, tham gia nhiệt tình các giờ thảo luận trên lớp đóng góp vào sự thành công
của những buổi thảo luận thì cũng có một bộ phận không nhỏ các em vẫn còn thờ ơ
với việc học tập hiện nay.Với những em đó việc nhận thức về rèn luyện và phát triển
kỹ năng giao tiếp dường như không có.Tuy nhiên một số lượng lớn các bạn sinh
viên vẫn chưa thay đổi cách học vẫn dựa vào thầy cô không tìm và tiếp thu những
kiến thức xã hội những kiến thức thực tế đồng thời không nhận thức được những cơ
hội cho việc rèn luyện kỹ năng mềm.
*Ý thức rèn luyện kỹ năng giao tiếp của bản thân mỗi học sinh
Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp, nhưng tại sao nhiều
em học sinh vẫn chưa tận dụng được cơ hội học tập trên lớp, các hoạt động ngoại
khóa để rèn luyện trau dồi kỹ năng giao tiếp? Đó là do ý thức rèn luyện của các em.
Vẫn còn tình trạng nhiều em không tự tin, mất bình tĩnh khi đứng trước đám đông,
không có kỹ năng thuyết trình cũng như nhạy cảm trong giao tiếp.Các hoạt động
đoàn trong trường cũng rất phổ biến.Những hoạt động đó gián tiếp rèn luyện cho các
em rất nhiều kỹ năng.Nhưng một thực tế là có rất ít các em tham gia vào các hoạt
động của đoàn và đội.Những em tham gia hoạt động đoàn, đội đó là những gương
mặt rất quen thuộc còn những gương mặt mới thì rất ít. Lý do mà các em đưa ra khi
không tham gia vào các hoạt động đó là các hoạt động ít và không rộng rãi cũng như
cần số lượng các bạn tham gia ít nên các em không có điều kiện tham gia.Những em
động giao tiếp với mình.
* Nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp: Thể hiện kỹ năng thu hút đối
tượng, tìm ra đề tài giao tiếp, duy trì nó, xác định được nguyện vọng hứng thú của
đối tượng và biết sử dụng toàn bộ các phương tiện giao tiếp, làm chủ các trạng thái
cảm xúc bản thân.
- A.Cubanora và M.Rakkmatulina thì chia kỹ năng thành ba nhóm lớn:
* Nhóm các kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp
* Nhóm các kỹ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp
* Nhóm các kỹ năng độc đáo hướng quá trình giao tiếp theo các định hướng
giá trị
Thành phần kỹ năng trong ba nhóm kỹ năng này là kỹ năng nghe thấy, kỹ
năng nhìn thấy, kỹ năng tiếp xúc, kỹ năng hiểu biết lẫn nhau, kỹ năng tổ chức điều
khiển quá trình giao tiếp.
- V.P.Dakharop đã chia các kỹ năng giao tiếp thành bốn nhóm cơ bản:
* Nhóm kỹ năng đóng vai tích cực chủ động trong giao tiếp
* Nhóm kỹ năng thể hiện sự thụ động trong giao tiếp
* Nhóm kỹ năng điều chỉnh sự phù hợp cân bằng trong giao tiếp
* Nhóm kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu
Trang14
Ông cho rằng bốn nhóm kỹ năng giao tiếp trên có thể phân chia thành 10 kỹ
năng giao tiếp.
Dưới đây chúng tôi xin trình bày ra 10 kỹ năng giao tiếp cụ thể của
V.P.Dakharop.
Qua bảng trắc nghiệm Tâm lý của ông chúng tôi rút ra được các năng lực cần
có để có một kỹ năng giao tiếp. Dưới đây xin đưa ra các năng lực cụ thể và có phân
tích nhỏ.
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp
- Biết cách làm quen với người lạ; biết làm cho người lạ gần gũi mình
- Tập trung lắng nghe
- Nhận biết đối tượng giao tiếp lạc đề
Tâm lý học phân biệt giữa nghe và lắng nghe. Nghe thấy là sóng âm tác động
vào màng nhĩ và tín hiệu truyền lên não. Lắng nghe là từ tín hiệu não nhận được con
người hiểu nghĩa của lời nói.
Lắng nghe để hiểu bao gồm: sự tập trung chú ý - hiểu - hồi đáp – ghi nhớ.
Thực tế, có mắt không đồng nghĩa với nhìn thấy, có trí não không đồng nghĩa với
biết nghĩ, có tai không đồng nghĩa với biết lắng nghe. Ngạn ngữ Nga có câu: “Ba
tuổi đủ để học nói, nhưng cả cuộc đời không đủ để biết lắng nghe”.
Lắng nghe không phải bản năng mà là nghệ thuật, kỹ năng cần phải rèn luyện
lâu dài. Lắng nghe chính là hùng biện nhất nhưng ít ai biết được điều này. Trong
giao tiếp với nhau chúng ta thường tranh nhau thể hiện mà ít có ai tranh nhau để
lắng nghe.
Để có kỹ năng lắng nghe tốt cần tuân thủ các bước sau đây của quy trình lắng
nghe:
- Tập trung: yếu tố đầu tiên để lắng nghe hiệu quả là tập trung. Tập trung có
nghĩa là trong một thời điểm chỉ làm một việc. Nhiều người giao tiếp không thành
công vì trong khi lắng nghe người khác truyền tải thông điệp thì để các công việc
khác xen vào. Kết quả là thông điệp được truyền tải từ ngươì nói đến người nghe
không có một cách hiểu như nhau. Tập trung lắng nghe cũng là biểu hiện tôn trọng
người nói, giúp người nói có thêm sự tin tưởng để giao tiếp cởi mở hơn.
- Tham dự: Có người nói phải có người nghe, người gửi phải có người nhận.
Tham dự trong lắng nghe được biểu hiện bằng sự chú ý của đôi mắt, những cái gật
đầu của người nghe; về ngôn từ là những từ đệm: dạ, vâng, ạ, thế à, thật không?
- Hiểu: Nhiều cuộc giao tiếp diễn ra theo kiểu “Ông nói gà, bà nói vịt” vì
không hiểu được thông điệp của giao tiếp. Để hiểu được thông điệp của người gửi,
yêu cầu người nghe phải xác định lại thông điệp bằng cách trình bày lại nội dung
của người nói theo ý hiểu của mình hoặc bằng cách đặt câu hỏi để xác định như: tôi
hiểu như thế này có đúng không?, hoặc ý anh là…?
- Ghi nhớ: Ghi nhớ thông điệp chính.
- Biết nhiều lời trong giao tiếp là không tốt.
- Nhận ra người khác nói chuyện rời rạc.
Khi trao đổi thông tin với ai đó, để đạt được mục đích giao tiếp ta phải trải
qua quá trình truyền thông. Tuy nhiên, làm thế nào để thông điệp bạn muốn gửi cho
người nhận đến “đích” và đạt hiệu quả cao, bạn phải hiểu được quá trình truyền
thông và kỹ năng diễn đạt.
Trang17
Theo thầy Huỳnh Văn Sơn: Khi yêu cầu một số SV giới thiệu về bản thân
mình một cách đầy đủ và ấn tượng trong thời gian có hạn, nhiều bạn trẻ đã tỏ ra lúng
túng, họ không biết phải diễn đạt thế nào. (Theo Dai-ich-life.com.vn)
Thầy cũng cho rằng : “Một lời truyền thông tốt phải thật sự to, rõ, cụ thể, chi
tiết và chính xác. Khi diễn đạt thông tin, người phát hãy trình bày suy nghĩ và ý
tưởng của mình một cách thân thiện, cởi mở, tâm huyết. Chính ngôn ngữ bằng lời sẽ
gây những hiệu ứng đặc biệt khi truyền thông”.
Trong kỹ năng này sử dụng ngôn ngữ lời nói là chủ đạo. Tuy nhiên ông bà ta
có dạy: “ Rượu nhạt uống lắm cũng say, người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”.
Trong giao tiếp, chúng ta không nên lạm dụng lời nói quá nhiều dẫn đến nhiều lời,
dong dài; chỉ nên nói những gì cần nói, nói nhiều quá sẽ làm giảm giá trị lời nói của
bản thân.
Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp.
- Tiếp thu ý kiến, quan điểm của người khác.
- Chú ý tới lý lẽ mới của đối tượng giao tiếp.
- Không bảo thủ giữ khư khư ý kiến trong tranh luậ nếu biết nó sai lầm.
- Biết được “gió chiều nào che chiều đó” là không tốt.
- Biết được thái độ, phản ứng của đối tượng giao tiếp là những thông tin rất
quan trọng cần để ý tới.
- Thay đổi quan điểm trong tình thế câu chuyện đã theo hướng khác.
Kỹ năng thuyết phục đối tượng trong giao tiếp.
- Tự tin trong khi trò chuyện.
Sự nhạy cảm trong giao tiếp.
- Áy náy khi làm phiền người khác.
- Biết được thái độ của đối tượng giao tiếp đối với mình.
- Động lòng trước đứa trẻ khóc.
- Nhạy cảm với nỗi đau của bạn bè và người thân.
- Áy náy, băn khoăn với sự khó chịu của bạn bè, người thân.
- Nắm bắt trạng thái của người khác.
- Động lòng khi thấy người bên cạnh đau khổ.
Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách phân loại kỹ năng giao tiếp của
V.P.Dakkarop để giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh ở trường THPT Cầu Kè,
tỉnh Trà Vinh hiện nay
Trang19
Chương II: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH THỜI
GIAN VỪA QUA.
2.1 Những mặt đạt được về giáo dục kỹ năng giao tiếp của học sinh
trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh thời gian qua.
Kết quả điều tra cho thấy phần lớn học sinh trường THPT huyện Cầu Kè tự
đánh giá bản thân mình có được các kỹ năng mạnh như; Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo
trong giao tiếp, kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp, kỹ năng điều khiển quá
trình giao tiếp, kỹ năng diển đạt cụ thể dể hiểu, kỹ năng nghe đối tượng đối tượng
giao tiếp,… cũng không quá khó hiểu khi học sinh trường THPT huyện Cầu Kè tự
nhận thấy bản thân được trao dồi những kỹ năng đó, bởi các em tự tin khẳng định
bản thân trội về kỹ năng đó nhờ một phần môi trường học tập đã rèn luyện cho các
em có kỹ năng đó. Phương pháp giáo dục ngày càng tiến bộ khoảng cách giữa thầy
cô giáo và học sinh ngày càng được rút ngắn lại. Vì vậy môi trường học tập đã giúp
36%
Thấp
15%
12%
18%
4%
HỌC SINHLỚP 10
HỌC SINHLỚP 11
HỌC SINHLỚP 12
Trong bảng khảo sát 10 kỹ năng giao tiếp, kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong
giao tiếp là có tỉ lệ trung bình % ở mức cao nhất ở ba khối lớp chiếm 59% cao hơn
so với các kỹ năng khác trong bảng khảo sát.
Người linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp là người không bảo thủ suy nghĩ ý
kiến của mình đối với người khác. Mỗi người có một sự hiểu biết nhất định, nên qua
giao tiếp mỗi người có thể nhận ra được sai lầm, hạn chế trong suy nghĩ, quan điểm
của mình từ đó rút kinh nghiệm sửa chữa. Trong giao tiếp, nếu một người nào đó
quá bảo thủ có nghĩa người đó đánh mất đi nhiều cơ hội hoàn thiện mình.
Qua khảo sát chúng ta thấy rằng, học sinh khối lớp 10 nhận thấy kỹ năng linh
hoạt mềm dẻo trong giao tiếp của mình ở mức cao là 47%, bên cạnh đó khối lớp 11
mức cao đạt đến 52% cao hơn 5% so với khối lớp 10, và đáng ngạc nhiên hơn ở
khối lớp 12 kỹ năng này mức cao lên đến 78% cao hơn 31% so với khối lớp 10 và
cao hơn 26% so với khối lớp 11. Điều này cũng không gì là khó hiểu bởi các em
79%
61%
Cao
39%
32%
Trung Bình
29%
30%
Thấp
9%
HỌC SINHLỚP 10
HỌC SINHLỚP 11
15%
6%
HỌC SINHLỚP 12
Kỹ năng nghe đối tượng giao tiếp ở trường THPT Cầu Kè đã được xem là kỹ
năng mạnh trong nhóm 10 kỹ năng được khảo sát bởi tỷ lệ trung bình ba khối lớp ở
mức cao là 58% chỉ thấp hơn kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp là 1%.
Không phải ngẫu nhiên mà có câu thành ngữ “ nói là bạc, im lặng là vàng,
lắng nghe la kim cương”, được mọi người công nhận là đúng. Từ bé ta được dạy
nói, dạy đọc, dạy viết rất nhiều nhưng kỹ năng nghe chiếm 53% thời gian giao tiếp
lại không được dạy. Biết lắng nghe, điều này có vẽ đơn giản, nhưng cũng không
phải ai cũng có thể làm được, vì lắng nghe là một hoạt động thường nhật, cho nên