giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2014)
Đề tài:

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG CHỨNG TRONG
CÁC GIAO DỊCH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Giảng viên hướng dẫn:
CHÂU HOÀNG THÂN

Sinh viên thực hiện:
ĐÀO THỊ THÚY HUỲNH
MSSV: B110054
Lớp: Luật Hành chính K37, Bằng 2

Cần Thơ, tháng 05/ 2014


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất

LỜI MỞ ĐẦU
---------1. Lý do chọn đề tài :
Trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tốc độ đô thị
hóa ở các thành phố lớn diễn ra rất nhanh chóng và cũng là cơ sở cho sự phát triển
mạnh mẽ của các giao dịch về quyền sử dụng đất. Sự hiểu biết pháp luật nói chung và
pháp luật về đất đai nói riêng của người dân còn rất hạn chế, thủ đoạn của các đối
tượng tội phạm trong lĩnh vực đất đai, nhà ở, ngân hàng ngày càng tinh vi, xảo quyệt
thì vấn đề bảo đảm an toàn pháp lý cho người dân trong giao dịch phải được đặt lên

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Mục đích của luận văn là phân tích những quy định về giá trị pháp lý của công
chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất cũng như là hiệu lực thi hành của văn
bản đã được công chứng, đánh giá thực trạng pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản
công chứng, nhất là trong việc áp dụng pháp luật trên thực tế còn nhiều vướng mắc,
chưa phù hợp. Từ đó đề ra một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện pháp luật về giá trị
pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về công
chứng, các giao dịch về quyền sử dụng đất, giá trị pháp lý của công chứng trong các
giao dịch về quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phân tích và đối chiếu với các quy định của
pháp luật từ đó sẽ đánh giá và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cơ bản để hoàn thiện
pháp luật về giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài :
Trong quá trình viết luận văn, người viết đã vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu :
- Nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sưu tầm số liệu, ví dụ thực tế trong thực tiễn
và trên internet.
- Phương pháp phân tích luật viết để phân tích những quy định của pháp luật
hiện hành.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh những quy định của pháp luật về cùng một
vấn đề.
5. Bố cục đề tài :
Luận văn được kết cấu bao gồm :
- Lời nói đầu
- Phần nội dung
Chương 1 : Những vấn đề chung về công chứng và các giao dịch về quyền sử
dụng đất
Chương 2 : Những quy định của pháp luật hiện hành về công chứng trong các
giao dịch về quyền sử dụng đất.

của pháp luật trong lĩnh vực này, trước hết chúng ta phải làm rõ khái niệm công chứng
về mặt lý luận từ đó nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến công chứng. Theo các
thông tư, nghị định thì khái niệm công chứng được xác định như sau :
- Theo Thông tư số 574/ QLTPK ngày 10/ 10/ 1987 của Bộ Tư Pháp :
“ Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các
cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa
các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng
hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp
luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp
cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa ”.
Thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt nền móng cho hệ thống công chứng ở
Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi dù các quy định còn ở mức sơ khai và
chứa đựng nhiều hạn chế đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động
công chứng, nội dung công chứng cũng như chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng
với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.

GVHD : Châu Hoàng Thân

-4-

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
- Theo Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ Trưởng
(nay là Chính phủ) :
“ Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy



Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và
thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này1
Ngoài việc xác định khái niệm công chứng như trên thì khái niệm chứng thực cũng
được quy định:“ là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ,
hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực
hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này ”2
Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay đổi tên gọi
từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước đó thành "Phòng công
chứng". Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến tới chuyên môn
hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt Nam. Đi sâu vào phân
tích khái niệm này thấy rằng không có sự khác biệt nhiều so với Nghị định số 31/CP,
việc phân biệt công chứng và chứng thực vẫn chỉ dựa trên dấu hiệu duy nhất đó là chủ
thể của hai hoạt động này. Điểm mới nhất trong khái niệm này là nêu ra chủ thể của
hoạt động công chứng, đó là Phòng công chứng. Nhưng ở điểm này cũng chứa đựng
điểm bất hợp lý, vì chủ thể của hoạt động công chứng thực chất không phải là Phòng
công chứng mà là cá nhân Công chứng viên. Quy định như vậy, một mặt làm giảm đi
vai trò của Công chứng viên, đồng thời trách nhiệm cá nhân của Công chứng viên cũng
bị giảm đi, nó phản ánh không đúng bản chất của công chứng. Mặt khác, trong nội
dung của Nghị định này lại quy định người thực hiện công chứng là Công chứng viên,
như vậy dẫn đến sự mâu thuẫn ngay trong cùng một văn bản :
“ Người thực hiện công chứng, chứng thực bao gồm:
1.Công chứng viên của Phòng Công chứng;
2.Người được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xãgiao thực hiện việc chứng thực
theo quy định của Nghị định này;
3.Viên chức lãnh sự của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.”

1

thể của hoạt động công chứng đó là Công chứng viên. Có thể nói đây là bước đột phá
trong việc nhận thức bản chất của hoạt động công chứng của các nhà làm luật. Chính vì
nhận thức bản chất của chế định này nên trong nội dung của Luật Công chứng chứa
đựng nhiều quy định khác biệt, tiến bộ hơn so với những văn bản trước đây. Theo khái
niệm này, ngoài việc chứng nhận tính xác thực Công chứng viên còn phải chứng nhận
cả tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực thể hiện nội dung của hợp
đồng, giao dịch là có thật và đúng ý chí của các bên tham gia: Công chứng viên phải
khẳng định chính xác người yêu cầu công chứng, nội dung thỏa thuận giữa các bên là
hợp pháp và được xác lập dựa trên các giấy tờ, tài liệu đáng tin cậy, phù hợp với những

3

Điều 2 Luật Công chứng 2006

GVHD : Châu Hoàng Thân

-7-

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
gì xảy ra trên thực tế, ngoài ra còn phải xác định xem thỏa thuận của các bên có phản
ánh đúng với ý chí của họ hay không. Như vậy điều kiện cần và đủ để một hợp đồng,
giao dịch được công chứng đó là tính xác thực và tính hợp pháp. Việc quy định cụ thể
về tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch trong khái niệm công chứng là một điểm
mới so với các khái niệm công chứng trước đây.
1.1.1.2. Đặc điểm của công chứng:
Từ khái niệm nêu trên có thể thấy công chứng có những đặc điểm như sau :
Đặc điểm thứ nhất : chủ thể của hoạt động công chứng đó là Công chứng viên

Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
mà Công chứng viên tự soạn thảo hay kiểm tra, tư vấn, góp ý để các bên thể hiện ý chí,
nguyện vọng, thỏa thuận của mình một cách rõ ràng , chính xác trong văn bản. Trên cơ
sở hợp đồng đã lập, Công chứng viên chứng kiến sự ký kết giữa các bên và chứng nhận
tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và thể hiện bằng việc ghi lời
chứng theo hình thức và nội dung do Luật công chứng quy định và ký tên đóng dấu của
tổ chức công chứng nơi mình hành nghề vào văn bản.
Đặc điểm thứ hai : Tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác đƣợc Công
chứng viên xác nhận.
Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch khác là vô cùng
quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ. Trong pháp luật về tố tụng,
khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có
thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá
trị chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó là có
tính xác thực đã được Công chứng viên xác nhận. Tính xác thực này được Công chứng
viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những
tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau và do đó,
nếu không có Công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ tranh chấp mà Toà án không
thể xác minh được.
- Xác định "đúng người" là yêu cầu quan trọng nhất đối với công chứng. Việc nhận
diện chính xác cá nhân người yêu cầu công chứng là đòi hỏi tiên quyết và đóng vai trò
cốt lõi khi thực hiện công chứng . Xác định chính xác người yêu cầu công chứng không
những tạo điều kiện cho công chứng viên khẳng định được chủ thể, khách thể của hợp
đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo. Công chứng
viên xác định đúng người thông qua việc kiểm tra, nhận dạng từ giấy tờ tùy thân hợp lệ
của các đương sự.
- Ngoài việc phải nhận dạng chính xác người yêu cầu công chứng, công chứng viên
phải kiểm tra khả năng nhận thức, trạng thái tâm lý của anh ta khi tham gia giao kết
hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực có bao gồm cả tính xác thực của văn bản, tài liệu do


nhưng rất hạn chế đến khi Luật đất đai năm 2003 ban hành thì quyền sử dụng đất mới
hoàn chỉnh và đầy đủ bao gồm 08 quyền như : chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho,
cho thuê/ cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Vì
vậy, quyền chuyển quyền sử dụng đất cũng như quyền nhận chuyển quyền sử dụng đất
không phải được áp dụng đối với tất cả các chủ thể mà nó bị hạn chế bởi quyền lực nhà
nước. Điều này thể hiện ở chỗ, Nhà nước ban hành các quy định của pháp luật một

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 10 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
cách chặt chẽ về hình thức, thủ tục, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
quan hệ chuyển quyền.
Theo quy định tại điều 121 của Bộ luật dân sự năm 2005: “Giao dịch dân sự là
hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”. Giao dịch về quyền sử dụng đất bản chất là một giao dịch dân
sự tuy nhiên do đối tượng của giao dịch là đối tượng đặc thù nên pháp luật có các quy
định riêng.
Từ đó, giao dịch quyền sử dụng đất có thể hiểu là sự chuyển dịch quyền sử dụng
đất từ chủ thể này sang chủ thể khác theo quy định của pháp luật bằng các phương
thức: chuyển nhượng, tặng cho, thuê, thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, thừa kế
quyền sử dụng đất.
1.1.2.2. Đặc điểm của giao dịch quyền sử dụng đất
Thứ nhất, khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, những người tham
gia vào giao dịch phải tuân theo các quy định về điều kiện, nội dung, trình tự, thủ tục
chặt chẽ do pháp luật quy định. Vì người sử dụng đất không có toàn quyền định đoạt

niệm công chứng nhà nước đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng
yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, văn bản
này tất yếu còn một số hạn chế, đó là, chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt
động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động
công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Đồng thời trong giai đoạn
này, Luật đất đai đầu tiên năm 1987 được ban hành nhưng còn mang nặng tính hành
chính, bao cấp. Luật này quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống
nhất quản lý, vì vậy, Nhà nước là chủ sở hữu và giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng.
Người sử dụng đất không được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử
dụng đất: “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi
hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự
tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai”5.
Việc chuyển nhượng đất đai trong giai đoạn này thông qua thủ tục thu hồi giao đất, hợp
thức hoá quyền sử dụng đất. Luật Đất đai 1987 chưa thừa nhận các giao dịch về đất đai
và theo quy luật của phát triển kinh tế thì thị trường bất động sản ngầm vẫn phát sinh
và Nhà nước là người bị thiệt nhiều nhất vì không thu được bất kỳ một khoản thuế, lệ
phí nào. Việc mua bán nhà đất thực hiện theo hình thức “mua bán trao tay”, không có

5

Điều 5 Luật Đất đai năm 1987

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 12 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 13 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
chứng nói riêng phải được hoàn thiện một bước cho phù hợp. Nhất là sau khi Luật đất
đai năm 1993 và Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành.
Bộ luật dân sự năm 1995 quy định : “ Quyền sử dụng đất có thể được dùng để
thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật
về đất đai.”7 và “ Thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn
bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của Công chứng nhà
nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có thoả thuận
hoặc pháp luật có quy định.”8 Đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định về công
chứng thế chấp quyền sử dụng đất và được áp dụng rộng rãi.
Ngày 18/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt
động công chứng thay thế cho Nghị đinh 45/HĐBT ngày 27/02/1991. Nghị định này đã
cụ thể hoá một phần các quy định của BLDS, đổi mới một bước và tạo cơ sở pháp lý
cho việc tiếp tục phát triển hoạt động công chứng ở nước ta. Nghị định số 31/CP ngày
18/5/1996 cũng định nghĩa về công chứng như Nghị định 45/HĐBT và quy định
UBND quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh có thẩm quyền chứng thực một số việc và chứng
thực bản sao giấy tờ từ bản chính. UBND xã, phường, thị trấn chứng thực việc từ chối
nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định.
Sau hơn 04 năm triển khai thực hiện, nhiều quy định của Nghị định 31/CP đã tỏ
ra bất cập, không còn phù hợp với thực tế. Do vậy, ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực thay thế cho Nghị định
31/CP. Quy định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP bước đầu có sự tách bạch giữa công
chứng và chứng thực, tức là đã có sự phân biệt giữa hoạt động của cơ quan chuyên

Nam tương thích với pháp luật của các nước khác trên thế giới. Trước những đòi hỏi
đó, Luật đất đai năm 2003 đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004; Bộ luật dân sự năm 2005 đã được
Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2006. Trong các Luật này có một số quy định liên quan đến công chứng,
chứng thực, đặc biệt là phần quy định về thẩm quyền công chứng như :
“ Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có
chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của
công chứng nhà nước.”10
“ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công
chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia
đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc
chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.”11
Điều 2 Nghị định 75/2000/NĐ-CP
Điểm b Khoản 1 Điều 126 Luật đất đai năm 2003
11
Điểm b Khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003
9

10

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 15 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
“ Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà

Điều 2 Luật Công chứng 2006
12
13

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 16 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
giao về cho Phòng Tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã theo quy định tại Nghị định số
79/2007/NĐ CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ. Trong đó tại Điều 37 Luật công chứng
năm 2006 đã quy định cụ thể thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động
sản :
“ 1. Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công
chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công
chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản.”
1.3 Ý nghĩa của công chứng
1.3.1 Ý nghĩa của công chứng trong giao dịch dân sự:
Thứ nhất là, bảo đảm và tăng cường tính công khai, minh bạch trong các hợp
đồng, giao dịch: Những thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng, giao dịch được cơ
quan chuyên môn có thẩm quyền, khách quan, công tâm đánh giá, xem xét chứng nhận,
giúp cho thỏa thuận của các bên được công khai, minh bạch hóa. Từ đó, các bên có căn
cứ, cở sở để tôn trọng thực hiện các cam kết, thỏa thuận đã ký, ngăn chặn được các
giao dịch bất hợp pháp.

Ví dụ: với sự tham gia của công chứng, các vấn đề như lừa dối khi lập di chúc, cưỡng
ép lập di chúc sẽ không xảy ra trừ phi có sự thông đồng giữa một bên với công chứng
viên.
Ông Tuấn Đạo Thanh - Trưởng phòng công chứng số 1 Hà Nội khẳng định:
“Nếu tranh chấp mà chỉ có giấy viết tay thì Tòa án sẽ mất rất nhiều thời gian để tiến
hành xác minh, khi ấy, chi phí bỏ ra giải quyết tranh chấp còn lớn hơn nhiều so với chi
phí phòng ngừa (lập văn bản công chứng)”. Và Bộ trưởng Hà Hùng Cường khẳng định:
“Nếu công chứng thì tăng chi phí cho xã hội, cho sản xuất, kinh doanh, nhưng đổi lại
nó được sự an toàn. Nếu không an toàn mà dẫn đến tranh chấp, dẫn đến rủi ro thì chắc
chi phí của nó còn lớn hơn rất nhiều”.17
Tóm lại, việc công chứng các giao dịch về quyền sử dụng đất không chỉ có ý
nghĩa trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tăng cường công tác quản lý đất đai mà
còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
tham gia giao dịch.

17

http://diendancongchung.com/chi-tiet-gioi-thieu/154/cong-chung-vien

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 18 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
1.4.Phân biệt giữa công chứng và chứng thực
Đặc điểm
Khái niệm

công

chứng thực sao y giấy tờ, văn bằng,
chứng chỉ.
Thẩm quyền Công chứng viên của tổ chức Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng
hành nghề công chứng (bao gồm: Tư pháp cấp huyện (bao gồm:
Phòng Công chứng và Văn phòng huyện, quận, thị xã, thành phố
Công chứng) có thẩm quyền công thuộc tỉnh) có thẩm quyền chứng

Điều 2 Luật công chứng năm 2006
Điều 2 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP
20
Điều 2 Luật công chứng năm 2006
21
Điều 5 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP
18
19

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 19 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
chứng các hợp đồng, giao dịch về thực bản sao từ bản chính các giấy
bất động sản trong phạm vi tỉnh, tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;
thành phố trực thuộc Trung ương chứng thực chữ ký của người dịch
nơi tổ chức hành nghề công chứng trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG
CHỨNG TRONG CÁC GIAO DỊCH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
2.1 Nguyên tắc hành nghề công chứng
Nhằm xây dựng một đội ngũ công chứng viên khi hành nghề công chứng phải
luôn tuân thủ pháp luật, có đạo đức tốt, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, tận tuỵ
với công việc, có đủ trình độ chuyên sâu và có đủ năng lực để thi hành tốt nhiệm vụ
được giao. Nguyên tắc hành nghề công chứng được quy định tại Điều 3, Luật Công
chứng như sau:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
- Khách quan, trung thực.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng.
- Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
Có thể khẳng định rằng: chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đang ngày
càng phát triển và mang lại nhiều kết quả trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, quy
định về Nguyên tắc hành nghề công chứng lại càng cần thiết trong hoạt động công
chứng. Bởi vì, hoạt động công chứng trong đó công chứng viên là người được Nhà
nước giao quyền, thay mặt Nhà nước chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của
các hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng
hoặc tổ chức, cá nhân tự nguyện yêu cầu công chứng. Thông qua hoạt động nghề công
chứng, công chứng viên là người góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao
dịch tại tổ chức hành nghề công chứng. Do vậy, việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật;
khách quan, trung thực; chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng; tuân
theo đạo đức hành nghề công chứng là nguyên tắc không thể thiếu đối với hoạt động
hành nghề công chứng trong giai đoạn hiện nay.

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 21 -


chứng nguyên tắc này thể hiện qua việc các chủ thể phải tôn trọng và thi hành nghiêm

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 22 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Đề tài : Giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất
chỉnh các quy định của pháp luật nói chung và Luật công chứng nói riêng nhằm đảm
bảo an toàn pháp lý và trật tự kỷ cương xã hội cho các giao dịch.
2.1.2 Khách quan, trung thực.
Hoạt động công chứng trong đó công chứng viên là người được nhà nước giao
quyền thay mặt nhà nước chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hợp đồng,
giao dịch bằng văn bản mà theo quy định pháp luật. Nguyên tắc này yêu cầu công
chứng viên khi hành nghề, đó là: phải thật sự khách quan, trung thực, không thiên vị,
không vì lợi ích cá nhân, sự quen thân làm ảnh hưởng đến lợi ích người khác, không
công chứng hợp đồng, giao dịch có nội dung trái đạo đức xã hội. Công chứng viên phải
luôn coi trọng uy tín của mình đối với công việc chuyên môn, không thực hiện những
hành vi làm tổn hại đến danh dự cá nhân, thanh danh nghề nghiệp, không sử dụng trình
độ chuyên môn, hiểu biết của mình trong công việc để trục lợi, gây thiệt hại cho người
yêu cầu công chứng. Khi công chứng, công chứng viên phải thực hiện trình tự thủ tục
công chứng đúng quy định pháp luật và thực hiện việc công chứng căn cứ trên các
những thông tin tài liệu do đương sự cung cấp và giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của
các đương sự khi giao kết hợp đồng.
2.1.3 Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng.
Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng viên ký và đóng
dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Pháp luật quy định công chứng viên phải biết
việc yêu cầu, nội dung công chứng hợp đồng, giao dịch đó có trái pháp luật, đạo đức xã

trao quyền, công chứng viên phải gương mẫu trong hành vi, lối sống, tôn trọng người
dân, thực hiện công việc tuân theo quy định pháp luật. Đạo đức hành nghề công chứng
là việc thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín, thanh danh nghề nghiệp,
xứng đáng với sự ủy thác của Nhà nước, sự tôn trọng và tin cậy của nhân dân. Đạo đức
hành nghề công chứng là sự chuẩn mực về phẩm chất, chuẩn mực về xử sự trong khi
hành nghề. Sự chuẩn mực đó được thể hiện trong quan hệ với đồng nghiệp của tổ chức
mà công chứng viên đang hành nghề công chứng và cũng là mối quan hệ với đồng
nghiệp của các tổ chức hành nghề công chứng khác. Đó là, sự thể hiện chân tình, thân
thiện, giúp đỡ nhau, chia sẻ khó khăn và thuận lợi trong công tác về chuyên môn,
nghiệp vụ, trong đời sống hàng ngày đối với đồng nghiệp. Sự chuẩn mực về đạo đức
hành nghề công chứng luôn là điều kiện cần khi quan hệ với cá nhân, tổ chức có yêu
cầu công chứng.

GVHD : Châu Hoàng Thân

- 24 -

SVTH : Đào Thị Thúy Huỳnh


Trích đoạn Trách nhiệm của công chứng viên Trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng Thực trạng pháp luật về giá trị pháp lý của công chứng trong các giao dịch Các quy định về Công chứng viên Thiếu tính thống nhất giữa các văn bản Luật trong hệ thống pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status