tư tưởng hồ chí minh về nông nghiệp nông dân, nông thôn và quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh sóc trăng hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG DÂN, NÔNG THÔN VÀ QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Lê Thị Thúy Hương

Tào Thanh Tèo
MSSV: 6106648

Cần Thơ, Tháng 11/2013


MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài ......................................................................... 3

nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, và cũng hơn ai hết người đã khẳng
định mục tiêu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là độc lập tự do và hạnh phúc
cho nhân dân. Vì độc lập tự do mà không đem lại hạnh phúc cho nhân dân thì độc
lập ấy không mang lại ý nghĩa đích thực. Chính vì lẽ đó, sau khi đất nước được độc
lập, Bác luôn dành tình cảm đặt biệt đối với nhân dân, quan tâm chăm lo đến cuộc
sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân – một tầng lớp
chiếm tỉ lệ rất lớn trong nhân dân.
Tiếp tục phát huy tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày nay Đảng ta đã
đề ra và cố gắng thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh [8;tr.100]. Suy cho cùng thì mục
tiêu đó cũng là vì đất nước, vì nhân dân. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta đã tiến
hành hàng loạt các cuộc cách mạng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho người dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển văn hóa, giáo
dục, khoa học, kĩ thuật, v.v… Một trong những mục tiêu trên là phát triển nông
nghiệp, xây dựng các vùng nông thôn mới, từng bước cải thiện và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho người nông dân nông thôn, đây cũng là những vấn đề
đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay. Việc xây dựng nông thôn mới là một phần
trong dự án “3 nông” gồm nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Đảng ta. Hội
nghị Trung ương VII khóa X đã thông qua nghị quyết về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn như sau: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn có tầm chiến lược đặt biệt quan trọng” [6;tr.695]. Nghị quyết đã xác
định mục tiêu là:
1


Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông
thôn, hoài hòa giữa các vùng tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các
vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình
độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ
bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới [6;tr.695].

nghiệp, nông dân, nông thôn và vấn đề xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Sóc
Trăng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng từ năm
2010 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích
đánh giá để làm rõ vấn đề.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm mục lục, phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham
khảo. Trong đó trọng tâm nhất là phần nội dung được phân thành 2 chương 5 tiết.

3


Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN
1.1. Những khái niệm cơ bản về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Theo Bách khoa tri thức toàn thư Việt Nam, nông dân là những người lao
động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu
bằng làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất
đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác
nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định
trong xã hội. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và
nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên
liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều
chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản. Theo nghĩa rộng nông nghiệp
bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp.

Cho đến tháng 11 năm 1949, Việt Nam đã trải qua một quá trình chịu ách đô
hộ và khai thác của chủ nghĩa tư bản Pháp trên 90 năm, điều này đã tác động rất
nhiều đến thực trạng kinh tế - xã hội, nhưng Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “Nước
ta là một nước nông nghiệp. Hơn 9 phần 10 dân ta là nông dân. Hơn 9 phần 10
nông dân ta là trung, bần và cố nông” [14;tr.710]. Phú nông được coi là tiểu chủ,
phú hào. Nhiều lúc cố nông được Hồ Chí Minh gọi là vô sản nông nghiệp. Việc xác
định đặc điểm là nước nông nghiệp, mà là nông nghiệp lạc hậu trên cả hai phương
diện trình độ canh tác và chế độ sở hữu ruộng đất, cùng với đặc điểm giai cấp nông
dân có cơ cấu không thuần nhất và sự phân tầng giai cấp không đều trong nội bộ
nông dân, Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh tới cơ sở kinh tế để xác định lực lượng
cách mạng của cuộc cách mạng xã hội ở Việt Nam – cuộc cách mạng dân chủ mới
giải phóng nông dân.
Hồ Chí Minh đánh giá rất cao giai cấp nông dân với tư cách là lực lượng
cách mạng. Đây là quan điểm thống nhất với những nguyên lý mácxít về vai trò
quần chúng trong cách mạng. Không dừng lại ở việc xác định vai trò lực lượng
cách mạng chung chung mà Hồ Chí Minh còn chỉ rõ giai cấp nông dân Việt Nam
trong cuộc cách mạng dân chủ mới, đánh đổ đế quốc, phong kiến, do giai cấp công
nhân lãnh đạo giữ vị trí “chủ cách mạng, gốc cách mạng và động lực cách mạng.
Bởi lẽ vì bị áp bức mà sinh ra cách mạng, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì
lòng cách mạng càng bền, chí cách mạng càng quyết” [3;tr.72]. Nông dân bị ba
tròng áp bức: đế quốc thực dân, địa chủ phong kiến, tư bản; nông dân là lực lượng
5


đông nhất chiếm hơn 95% dân cư. Khi đã được giác ngộ, nông dân gan góc, dũng
cảm, có quyết tâm cao. Ở Nga, Lênin cho rằng nhân tố thắng lợi của cách mạng là
ở chỗ vô sản nắm được sự ủng hộ của những người nông dân nghèo bị phá sản chứ
không phải là do nắm được ưu thế về số lượng trong nhân dân. Ở Việt Nam lại nhờ
toàn dân đoàn kết mà Cách mạng tháng Tám thành công, hai cuộc kháng chiến
thắng lợi [3;tr.72-73].

danh là những người đi khai hóa thấy rằng dân tộc Việt Nam có nền văn hiến lâu
đời. Con người Việt Nam là những người nhân đức. Người nông dân Việt Nam có
tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Yêu nước trước hết là đấu tranh bảo tồn dân
tộc không bị đồng hóa lai căng, bảo tồn nền văn hóa dân tộc, yêu nước xuất phát từ
tình yêu quê hương, làng xóm yên bình phát triển thành tình yêu đất nước hòa bình,
độc lập. Mười thế kỷ Bắc thuộc, nông dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh để không
bị đồng hóa.
Ở Việt Nam, quan hệ huyết tộc là cao cả và thiêng liêng. Chẳng ai sống mà
lại không có gia đình và không một ai sinh ra mà không bắt đầu từ một dòng họ. Ở
Việt Nam, người nông dân đề cao tính huyết tộc. Bởi lẽ xuất phát từ kiểu sản xuất
của công xã nông thôn lấy gia đình làm tế bào và huyết tộc làm cơ sở. Đặc điểm
này có mặt tích cực và cũng có những mặt tiêu cực cần hạn chế. Cái cần khắc phục
trước tiên là tư tưởng địa phương cục bộ, đầu óc bản vị, gia trưởng. Sự quyến luyến
gia đình, tôn trọng quy định của làng xã là cần thiết, nhưng nếu đẩy quá cái tình
cảm một giọt máu đào hơn ao nước lã, phép vua thua lệ làng có thể dẫn đến xem
thường kỷ cương phép nước [3;tr.75].
Nông dân Việt Nam cần cù, chăm chỉ, đoàn kết hợp tác trong lao động sản
xuất trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, đất đai ít màu mỡ nhất là miền Bắc
và miền Trung, công cụ thủ công thô sơ đã tạo ra ở nông dân Việt Nam đức tính
cần cù, chăm chỉ, chấp nhận khó khăn, sẵn sàng hi sinh cho nông nghiệp vì nông
nghiệp. Sản xuất lấy công làm lãi không phải là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết mà
là thực tế lấy sản phẩm làm thước đo hiệu quả. Vì sản phẩm và tính thời vụ trong
nông nghiệp đã tạo ra tinh thần hợp tác, trao đổi công sức, truyền thống đoàn kết
tương trợ trong sản xuất của nông dân Việt Nam. Như vậy, các truyền thống dân tộc
in dấu ấn đậm nét trong nông dân và cũng được bộc lộ qua nông dân.
1.2.2. Tiềm năng của nông dân Việt Nam
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề giải phóng nông dân cần được đặt ra
trên cả hai phương diện: nông dân phải được sống trong môi trường xã hội tốt đẹp,
đồng thời phải được đáp ứng những đòi hỏi vật chất ngày càng cao. Ở Việt Nam,
một nước thuộc địa nửa phong kiến trước đây, một nước nông nghiệp kém phát

gốc, làm người chủ cách mạng. Khi đó sức nông dân mới mạnh và chỉ mạnh khi nó
được tổ chức lại và đặt trong các tổ chức cách mạng. Như vậy, giai cấp nông dân
chỉ mạnh và sức mạnh được nhân lên gấp bội khi giai cấp nông dân nằm trong các
tổ chức cách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Để duy trì sức mạnh của nông dân, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tổ chức nông
dân thật chặt chẽ. Đoàn kết nông dân thật khăng khít. Huấn luyện nông dân thật
8


giác ngộ. Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ
quốc” [14;tr.710]. Điều này đồng nghĩa với việc đưa nông dân vào các tổ chức,
đoàn kết họ trong nông hội. Nông hội – theo đánh giá của Hồ Chí Minh “là một cái
nền cách mạng của dân ta” [14;tr.459]. Bởi lẽ “có hội hè rồi tức là có tình thân ái,
sau thì khuyên nhau học hành. Đã biết “cách mệnh” tinh thần; “cách mệnh kinh tế”
thì “cách mệnh chính trị cũng không xa” [3;tr.78].
Theo Hồ Chí Minh, vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà nông dân thường có
tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp tổ
chức họ và lãnh đạo họ là một lực lượng rất to lớn, vững chắc. Thế là công nông
liên minh. Hồ Chí Minh chỉ rõ, ngay trong tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất,
trong khối đoàn kết toàn dân thì công – nông luôn là nồng cốt, là lực lượng cơ bản
nhất. Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh cho rằng nông dân đã cung cấp
sức người, sức của nhiều nhất cho kháng chiến. Báo cáo trước Quốc hội khóa I kỳ
hợp thứ 3, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tối đại đa số nhân dân ta là nông dân. Mấy
năm nay nhờ lực lượng nông dân mà kháng chiến được thắng lợi. Sau này cũng
nhờ lực lượng nông dân mà kháng chiến được hoàn toàn thắng lợi, kiến quốc đi đến
thành công” [16;tr.179].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tính chất ác liệt và sự tàn phá
của chiến tranh tới mức hủy diệt. Trong hoàn cảnh đó, nông dân góp sức người, sức
của cho tiền tuyến và họ cũng là chiến sĩ ngay trên đồng ruộng. Hầu như gia đình
nông dân nào cũng có người tham gia bộ đội hoặc thanh niên xung phong. Máu của

đánh đuổi đế quốc, lật đổ chế độ phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày
có ruộng, rồi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh xác định
nông dân nước ta là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Cho nên Người đã cùng Đảng ta kịp thời đề ra đường lối, chính sách
phù hợp với những nhiệm vụ của sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội, nhằm không ngừng củng cố, phát triển nông thôn, nông nghiệp,
nông dân, tăng cường khối liên minh công nông trí ngày càng thêm vững chắc.
1.3.1. Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân
1.3.1.1. Về vấn đề nông dân
Có thể thấy những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được hình thành qua những cuộc hành trình
của Người qua nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Đó là việc tham gia vào các tổ
chức hoạt động vì lợi ích nhân dân, đặc biệt là lợi ích của nông dân, đó là sự tiếp
xúc với quần chúng nông dân các nước. Qua đó Hồ Chí Minh thấy được sự bần
10


cùng, khổ cực của giai cấp nông dân và Người cho rằng họ không khác gì những
người nô lệ thời trung cổ. Nhờ sự hiểu biết về nông dân và phong trào nông dân, về
chống đế quốc và phong kiến đã giúp Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng sản Việt
Nam giải quyết thành công, triệt để những vấn đề này trong cách mạng dân tộc dân
chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhìn chung, vấn đền nông dân Việt Nam trong cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân được Hồ Chí Minh thể hiện ở những nội dung sau:
Một là, nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc
“Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân” hay vấn
đề nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc. Luận điểm này được Hồ
Chí Minh nêu rõ vào ngày 25/1/1953, khi Người đọc báo cáo trước
Hội Nghị là thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng lao Động Việt

chính quyền thực dân mà bị cả nhà thờ Kitô giáo cướp đoạt bằng mọi thủ đoạn như:
lừa gạt, dụ dỗ, mua chuộc hay thậm chí là đi ăn cướp ruộng đất của nông dân để lập
nên những đồn tiền phục vụ mục đích làm giàu cho họ.
Không chỉ có như vậy, thực dân Pháp còn bóc lột nhân dân ta bằng cách đặt
ra và thu các loại thuế vô lý gấp trăm lần thuế đất thời phong kiến như thuế thân,
thuế muối. Thuế khóa nặng nề, địa tô lợi tức quá mức, vì vậy nông dân nghèo An
Nam dưới chế độ thực dân phong kiến quanh năm đói khổ, bần hàn. Những năm
mất mùa do thiên tai gây ra có rất nhiều nông dân chết đói. Trong khi mỗi năm
chính quyền thuộc địa ở Đông Dương xuất khẩu tới 1,5 triệu tấn lương thực. Từ
tháng giêng đến tháng 7 năm 1945, nạn đói đã cướp đi hơn hai triệu người Việt
Nam, trong số đó chủ yếu là nông dân ở những tỉnh đồng bằng vựa lúa của Bắc kỳ
như Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên…Nông dân Việt Nam phải chịu
nạn đói khủng khiếp này, như Hồ Chí Minh khẳng định là “vì chính sách độc ác
của bọn thực dân Pháp, như ép thu thóc, bắt trồng đay…” [13;tr.93].
Để kìm giữ mãi người An Nam trong vòng nô lệ đế quốc Pháp còn rất ưa
dùng phương pháp “làm cho u mê để thống trị”. Vì vậy, cho đến năm 1925 chỉ có
10 trường học, nhưng có tới 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện cho 1.000 làng ở Việt
Nam [11;tr.38]. Vì thế, hầu hết người dân An Nam không biết chữ. Càng nghèo
khổ, số người thất học càng nhiều, nhất là nông dân, mặc dù người An Nam rất
hiếu học. Theo Hồ Chí Minh, từ những năm 20 của thế kỷ XX, trong xã hội Việt
Nam thuộc địa nửa phong kiến, nông dân là bộ phận chiếm tuyệt đại đa số trong
dân cư. Họ vừa là người dân mất nước, vừa là người nô lệ hiện đại bị thực dân,
phong kiến áp bức, bóc lột hơn hết trong dân tộc và nặng nề hơn cả chế độ phong
kiến độc lập. Do đó, mâu thuẫn dân tộc trong xã hội này chủ yếu là mâu thuẫn giữa
nông dân với chủ nghĩa đế quốc, phong kiến tay sai. Từ nhận thức đó Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Nội dung cách mạng dân chủ căn bản là giải phóng nông dân, chia ruộng
12


đất cho nông dân. Nội dung cách mạng dân tộc cũng là giải phóng cho nông dân”

cách mạng Việt Nam: “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng
13


thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc” [11;tr.280]. Trong sách
lược vắn tắt của Đảng – một văn kiện do Hồ Chí Minh soạn thảo, thông qua trong
Hội nghị thành lập Đảng đã chỉ rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân
cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại
địa chủ và phong kiến” [12;tr.3]. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, nông dân Việt
Nam là lực lượng cách mạng to lớn. Nếu giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản
không lôi kéo được lực lượng đông đảo nhất này về dân tộc về phía mình thì không
thể đưa cách mạng đến thành công.
Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đánh giá vai trò của
nông dân như một lực lượng không thể thay thế được, như là lực lượng vô địch,
Người nói: “Khi chỉ có hai bàn tay trắng, với một số đồng chí bí mật, len lỏi trong
rừng, ta còn gây nên cơ sở kháng Nhật, kháng Pháp. Huống gì bây giờ, ta có quân
đội, có nhân dân” [13;tr.434]. Trên thực tế, nông dân Việt Nam, như Hồ Chí Minh
nhiều lần nhấn mạnh, đã đóng góp sức người, sức của nhiều nhất cho cuộc kháng
chiến chống Pháp. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong kháng chiến kiến quốc, 90% bộ đội ta
là nông dân, lực lượng dân công phục vụ kháng chiến hầu hết là nông dân; cung
cấp cái ăn, cái mặc cho bộ đội ăn no, mặc ấm đánh giặc là nông dân…
Bọn xâm lược chiếm mất đô thị, nhưng 95% đất đai là nông thôn đồng bằng,
rừng núi còn là của ta. “Mỗi làng là một pháo đài”; “rừng rẫy là chiến trường, cuốc
cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ” đánh giặc; “tối đại đa số nhân dân ta là nông
dân và nền kinh tế của ta hiện nay là nông nghiệp”, v.v…từ những nhận thức đúng
đắn đó càng thấy rõ hơn vai trò quan trọng, vị trí đặc biệt của nông dân, nông thôn
Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong báo
cáo trước Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa I, kỳ họp thứ ba, ngày
1/12/1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng
bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng tổ chức và lãnh đạo để

“Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự đảm bảo chắc
chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có liên minh công
nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để
đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính
quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách
mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội” [20;tr.303-304].
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra nguyên nhân khách quan tạo nên sự liên minh tự
nhiên giữa giai cấp nông dân và giai cấp công nhân Việt Nam trong đấu tranh
chống đế quốc, chống phong kiến. Theo Người, đó là vì công nhân và nông dân là
hai giai cấp đông đảo nhất; làm ra nhiều của cải nhất cho xã hội, nhưng lại nghèo
khổ nhất vì bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề nhất. Trong hoàn cảnh
15


Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, công nhân và nông dân Việt Nam còn có mối quan
hệ mật thiết về nguồn gốc xuất thân, có quyền lợi trước mắt và quyền lợi lâu dài
thống nhất, gắn bó với nhau. Vì vậy, hai giai cấp này dễ dàng xích lại gần nhau, tập
hợp, đoàn kết thành một khối trong đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc,
phong kiến, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có đường lối đáp ứng
được nguyện vọng sâu xa của nông dân là độc lập dân tộc và “người cày có ruộng”.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới liên minh công nông trong cách mạng
dân tộc dân chủ còn vì, theo Người, sự liên minh này “làm cái nền tảng trên đó có
thể thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi và vững chắc” [20;tr.475].
Trên cơ sở khối liên minh công nông vững mạnh, Người thực hiện đoàn kết tất cả
các lực lượng, Đảng phái, cá nhân có tinh thần dân tộc, dân chủ trong mặt trận dân
tộc thống nhất phấn đấu cho một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Theo Hồ
Chí Minh, mặt trận dân tộc thống nhất càng rộng rãi, càng chặt chẽ thì lực lượng
cách mạng càng to lớn. Muốn vậy, giai cấp công nhân trước hết phải thu phục được
nông dân, phải liên minh chặt chẽ với nông dân, coi nông dân là bạn đồng minh

thấy rằng cần thiết phải tiến hành cải cách ruộng đất để bồi dưỡng nông dân. Cuộc
cải cách này, như Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ là một bước mới, kiên quyết hơn của quá
trình cải cách ruộng đất được bắt đầu thực hiện từ ngay sau thắng lợi của cuộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp tục thực hiện chương trình “Việt Nam nông
dã tất canh kỳ điền” [12;tr.201] của Mặt trận Việt Minh. Hồ Chí Minh cho rằng,
Cách mạng tư sản Pháp đã chia ruộng đất cho nông dân. Tôn Trung Sơn – lãnh tụ
của giai cấp tư sản Trung Quốc cũng nêu ra khẩu hiệu “dân cày có ruộng”....Như
vậy, giành lại ruộng đất cho nông dân từ tay giai cấp địa chủ phong kiến, theo Hồ
Chí Minh, là nhiệm vụ tất yếu của cách mạng dân chủ, dù là cách mạng dân chủ
kiểu cũ do giai cấp tư sản lãnh đạo hay cách mạng dân chủ kiểu mới do giai cấp
công nhân lãnh đạo, dù ở phương Tây, hay phương Đông.
Tháng 12 năm 1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết tâm mở
chiến dịch Điện Biên Phủ. Về phía địch, đế quốc Mỹ - Pháp tuyên bố “độc lập”,
“dân chủ”, tổ chức “cải cách ruộng đất” nhằm lừa bịp nông dân ở vùng tạm chiếm.
Để động viên nông dân đóng góp sức người sức của nhiều hơn cho kháng chiến ở
giai đoạn quyết liệt nhất và làm thất bại chính sách lừa bịp về chính trị của địch,
Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch quyết định tiến hành tổ chức cải cách ruộng đất.
Ngày 1/12/1953, kỳ họp thứ ba (khóa I), Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa thông qua Luật cải cách ruộng đất. Báo cáo trước Quốc hội trong kỳ họp này,
Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nông dân ta chiếm 90% dân số mà chỉ được 3 phần 10
ruộng đất, quanh năm khó nhọc, suốt đời nghèo nàn. Giai cấp địa chủ phong kiến
17


không đầy 5% dân số mà chúng và thực dân chiếm độ 7 phần 10 ruộng đất, ngồi
mát ăn bát vàng. Tình trạng ấy thật không công bằng. Nước ta bị xâm lược, dân ta
lạc hậu và bần cùng cũng vì đó. Trong mấy năm kháng chiến, tuy Chính phủ đã
thực hiện chính sách giảm tô, tạm cấp ruộng đất của Pháp và Việt gian và tạm chia
ruộng công điền cho nông dân ở vùng tự do, nhưng vấn đề mấu chốt là vấn đề quần
chúng nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất vẫn chưa được giải quyết.

năm 1955 – 1957, miền Bắc ngày càng dồi dào lương thực. Đến cuối năm 1957,
sản lượng đã vượt qua năm 1939 – năm kinh tế Việt Nam đạt mức cao nhất thời kì
thuộc Pháp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế,
văn hóa sau chiến tranh. Thắng lợi này đã đưa miền Bắc bước vào thời kỳ thực hiện
cách mạng xã hội chủ nghĩa.
1.3.1.2. Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân
Trong cách mạng dân tộc dân chủ thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn được
Hồ Chí Minh hết mực quan tâm, nó có vai trò to lớn về mặt kinh tế. Chúng ta biết
rằng đầu năm 1950, Hồ Chí Minh có chuyến công cán tại Trung Quốc và Liên Xô.
Người đã có cuộc gặp gỡ và làm việc với một số nhân vật lãnh đạo của Trung Quốc
và Liên Xô, trong đó có Xtalin. Các vị đó có gợi ý vấn đề cải cách ruộng đất ở Việt
Nam trong cách mạng dân tộc, dân chủ. Hồ Chí Minh có suy nghĩ về những gợi ý
đó. Song, trong tư duy của Người lại hướng về điều kiện Việt Nam, hoàn cảnh Việt
Nam trong một giải pháp hợp lý cho một chính sách ruộng đất và cải cách ruộng
đất ở Việt Nam. Vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2
năm 1951), trong Báo cáo chính trị, Người đã nói rõ chính sách ruộng đất của Đảng
ta là:
“Ở những vùng tự do, phải triệt để thi hành giảm tô, giảm tức,
tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian, tạm cấp cho
dân cày nghèo và nâng cao tinh thần cùng lực lượng kháng
chiến của họ” [15;tr.38].
Để chuẩn bị cho một chính sách ruộng đất đúng đắn ra đời, ngay từ năm
1950, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết và tổ chức thực hiện một cuộc điều tra
lớn về nông thôn Việt Nam, qua đó thấy được một cách cơ bản thực trạng nông
thôn Việt Nam. Đầu năm 1953, tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa II), Đảng thông
qua cương lĩnh ruộng đất, chủ trương bước đầu là phát động nông dân, triệt để
giảm tô, thực hiện giảm tức, củng cố, giành ưu thế chính trị cho nông dân lao động
ở nông thôn. Đến tháng 11 năm 1953, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã thảo luận đề
án Luật cải cách ruộng đất đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 (tháng 12

lịch sử. Khi miền Bắc nước ta bước vào thời kì xây dựng, khôi phục kinh tế, quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số luận điểm mới đối với nông
dân Việt Nam. Một trong những luận điểm đó là giải phóng người nông dân về mặc
xã hội, thoát khỏi tàn tích phong kiến, đưa người nông dân vào con đường làm ăn
có tổ chức. Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện chế độ sở hữu tư nhân và sở hữu
hợp tác xã về tư liệu sản xuất. Người chủ trương phát triển nông nghiệp trước, sau
20


đó là phát triển nông – công nghiệp, rồi tiến tới giai đoạn phát triển công – nông
nghiệp. Những nguyên tắc về văn hóa và sinh hoạt lành mạnh ở nông thôn được
xác lập.
Về phương pháp tiến hành cải cách nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh
có nhiều bước: “Bước ngắn, bước dài tùy theo hoàn cảnh…” [16;tr.224]. Người
phản đối chủ trương đốt cháy giai đoạn: “làm ít có chắc chắc hơn làm nhiều, làm
rầm rộ mà không chắc chắn. Đi bước nào vững vàng, chắc chắn bước ấy, cứ tiến tới
dần dần” [16;tr.226]; với hoàn cảnh Việt Nam, thì “không nên tổ chức quá to vì quá
to thì khó nắm, sẽ chệch choạc, dễ thất bại” [16;tr.227]. Điều quan trọng là “Không
được cưỡng ép ai hết. Phải tuyên truyền, giải thích cho nhân dân thấy tổ đổi công,
ai muốn vào thì vào, tuyệt đối không được ép buộc ai” [6;tr.226]. Hồ Chí Minh chỉ
rõ rằng, vì trong nông dân có nhiều vấn đề phức tạp, cho nên để giải thích vấn đề
phức tạp đó, phải thực hiện dân chủ ở nông thôn. Hãy để cho người nông dân được
suy nghĩ trên quê hương, mảnh đất của họ, khi ấy họ thấy tự do.
Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng mô hình tình làng nghĩa sớm trong nông
thôn Việt Nam. Người coi đó là cội nguồn có từ đời xa xưa. Tư tưởng trên của
Người đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của nông thôn Việt Nam. Nó đang
là nguồn cảm hứng tư tưởng cho nông thôn Việt Nam hiện nay và mai sau. Những
tư tưởng của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, tạo những tiền đề cho
việc tiến hành cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng ở nông thôn, củng cố niềm tin và
tinh thần cách mạng của nông dân đối với việc xây dựng kết cấu kinh tế - kỹ thuật

mạng của Đảng và Nhà nước. Tháng 6 năm 1955 Hồ Chí Minh nói, chính sách của
Đảng và chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Phải kiên
quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân, đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp
của nông dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả đường lối, phương châm, chính
sách…của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của
nông dân nói riêng” [19;tr.380]. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tất cả mọi việc Đảng phải lo.
Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giành thống nhất nước nhà Đảng phải lo.
Ngay cả đến tương, cà, mắm, muối của dân Đảng cũng phải lo. Vì vậy, cán bộ và
chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống nông dân.
Hồ Chí Minh nói “có thực mới vực được đạo”. Bởi vậy dân đủ ăn, đủ mặc thì
những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ được thực hiện. Nếu dân đói,
rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được.
Chính sách của Đảng và Chính phủ phải thể hiện rõ mục đích xây dựng chủ nghĩa
xã hội và nâng cao đời sống của nông dân, đó là yêu cầu đầu tiên. Nhưng theo Hồ
Chí Minh, chính sách ấy trở thành hiện thực hay không lại do chính nông dân quyết
định. Người thường giảng giải cho nông dân hiểu là:
22


“Do cái óc, cái tay của mình nà cải thiện đời sống của mình. Đảng và
Chính phủ rất mong muốn đời sống của công nhân, công chức và bộ
đội càng khá hơn. Do công nhân và nông dân cố gắng tăng gia sản
xuất, đời sống sẽ khá lên mãi” [17;tr.141]. “Việc cải thiện đời sống
cho nhân dân củng phải do nhân dân tự giúp lấy mình là chính” chứ
không trông chờ vào sự hỗ trợ, giúp đỡ của Đảng, Chính phủ hay bất
kì ai [17;tr.150]. Như vậy có chủ nghĩa xã hội và đời sống nhân dân
được nâng cao hay không là do nhân dân quyết định.
Để nông dân phát huy được sức mạnh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội và nâng cao đời sống của mình, theo Hồ Chí Minh cán bộ có vai trò quan trọng
trong lãnh đạo và tổ chức nông dân. Người căn dặn: “Các cô, các chú là cán bộ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status