BÀI THAM GIA KỈ YẾU NGỮ VĂN, TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG 2013
VỀ MỘT DẤU ẤN CỦA TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH TRONG
HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM
Nguyễn Kim Anh
GV Trường THPT Chuyên Hà Giang
Thạch lam bước vào văn đàn vào những năm ba mươi của thế kỉ XX,
khi văn học hiện thực và lãng mạn đều đã đạt được những thành tựu đáng kể,
việc xác lập một chỗ đứng đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi, dấn bước. Và có lẽ,
nhìn lại cả một văn nghiệp ngắn ngủi nhưng nhiều dấu ấn của Thạch Lam, ít
nhiều ta đã thấy được sự thành công của việc mở lối đi riêng ấy: nhà văn đã
đi thành một dòng riêng giữa hiện thực và trữ tình, đã “viết thơ” trong truyện
ngắn. Điểm độc đáo làm nên phong cách truyện ngắn Thạch Lam chính là
kiểu truyện ngắn trữ tình phi cốt truyện với bút pháp tâm lí trữ tình đặc sắc.
Bút pháp này được đánh dấu bởi việc nhà văn không thiên về những xung đột
gay gắt trong đời sống mà lại chủ yếu xoáy vào những rung động tâm hồn,
những khắc khoải trong tâm linh, tạo ra một loại truyện không có chuyện, ít
sự kiện nhưng thấm đẫm chất thơ, bàng bạc của cảm xúc. Lối viết này đã đưa
Thạch Lam vào dòng văn xuôi trữ tình thế giới với những tên tuổi như Xtêphan Xvaigơ của Áo, K.Pau-tốp-xki của Nga. Trong văn học Việt Nam, giai
đoạn 1930-1945, ngoài Thạch Lam còn có một số cây bút khác viết kiểu
truyện ngắn trữ tình này như Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh.
1
Hai đứa trẻ là một trong số những tác phẩm thành công nhất, tiêu biểu
cho phong cách truyện ngắn Thạch Lam. Soi rọi tác phẩm từ phía những đặc
điểm của kiểu truyện ngắn trữ tình, sẽ cho ta thấy sức hấp dẫn riêng và lí giải
được vì sao từ khi ra đời cho đến nay, trải qua nhiều thập kỉ Hai đứa trẻ vẫn
không thôi gây rung động trong tâm hồn bao thế hệ bạn đọc.
Dấu ấn đầu tiên và đậm nét nhất của kiểu truyện ngắn trữ tình trong Hai
của một thiên nhiên “êm mượt như nhung”. Dưới sự tinh tế của cái nhìn và
ngòi bút Thạch Lam, thiên nhiên khéo được gợi bằng một vài nét vẽ tinh tế,
nhẹ nhàng. Trước hết đấy là một bầu trời thoáng đãng mà đượm buồn lúc
hoàng hôn với “những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, một bầu
trời quê gợi một vũ trụ cao rộng mênh mông với “thăm thẳm sao” và ánh
sáng “lập lòe của những con đom đóm”. Và cũng như bầu trời kia, tất cả
những nét vẽ khác của bức tranh thiên nhiên phố huyện đều toát lên vẻ
“mượt” và “nhẹ”. Đó là bao thứ âm thanh mỏng nhẹ vô cùng: tiếng của ngọn
gió quê, tiếng muỗi vo ve, “văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo
gió nhẹ đưa vào” …Đó là một thứ mùi thoang thoảng, dìu dịu “hơi nóng của
ban ngày lẫn với mùi cát bụi” làm thành “một mùi âm ẩm bốc lên”. (Không ít
lần ta đã bắt gặp những mùi như thế trong văn Thạch Lam, một thứ mùi phải
tinh tế lắm mới nhận ra, mùi của đất hanh khô, của quần áo mùa đông năm
trước trong Gió lạnh đầu mùa, mùi hương hoàng lan dịu nhẹ trong Dưới bóng
3
hoàng lan…). Tất cả những bầu trời, âm thanh, mùi vị…ấy gợi một thiên
nhiên muôn thuở, tĩnh lặng, mênh mông, thi vị dễ đánh thức trong lòng người
đọc bao xúc cảm mong manh, quen thuộc vốn ngủ quên trong kí ức tuổi thơ
đồng quê.
Chất thơ trong Hai đứa trẻ không chỉ toát lên từ vẻ thơ mộng của bức
tranh thiên nhiên mà còn được đan dệt từ tâm hồn con người với tất cả chiều
sâu, sự vi diệu, vẻ phong phú vô tận của nó. Các nhân vật của Thạch Lam
thường có thái độ, cách nhìn đời đầy nâng niu, trân trọng, khiến người đọc
tưởng như đang đối diện với những con người nhạy cảm, tinh tế vô cùng. Đó
là Thanh trong Dưới bóng hoàng lan với những rung động khẽ khàng trong
vườn nhà bà, bên cô hàng xóm, là Tân với “những rung động khe khẽ như
cánh bướm non” của một người Lần đầu làm cha… Nhân vật Liên trong Hai
đứa trẻ cũng vậy, một thiếu nữ mới lớn giàu cảm xúc, nhạy cảm trước cuộc
nhìn nghiêm ngặt, tỉnh táo như bao cây bút hiện thực đương thời. Truyện của
Thạch Lam không hướng tới hiện thực áp bức, đấu tranh, không khai thác
cuốc sống nhiều ở phía đói nghèo cùng cực như truyện của Ngô Tất Tố, Nam
Cao…Truyện ngắn của ông là kiểu truyện trữ tình nên chất thực cũng mang
nét riêng, là chất của cuộc sống với bao cảnh đời, bao số phận trong cái “ao
đời” phẳng lặng, đơn điệu. Trong Hai đứa trẻ cũng vậy, phố huyện được nhà
văn khắc sâu ở phía buồn chán, sự luẩn quẩn, tẻ nhạt, tối tăm, vô nghĩa của
5
đời sống, của những kiếp người tàn tạ. Để miêu tả một đời sống như thế,
Thạch Lam tiếp tục bẫy người đọc vào những chuyện tưởng như chẳng có gì.
Nói cách khác là chất liệu hiện thực mà Thạch Lam dùng tưởng như vô cùng
đơn giản, vụn vặt: một cuộc sống uể oải ở một huyện lẻ heo hút, với một đám
người cứ đến tối lại lục tục kéo ra sân ga, vừa chờ tàu vừa mưu sinh, với hai
đứa trẻ trông nom một gian hàng tạp hóa có những buồn vui âm thầm. Nhưng
chính những cái vụn vặt ấy lại có ma lực gây ấn tượng nghẹt thở bởi cái buồn
chán của những kiếp người vô nghĩa, bế tắc. Xét một cách sâu xa, cái nghèo
đói chỉ là cái đói vật chất, nhưng buồn chán lại là cái đói tinh thần, âm ỉ hơn,
tê tái hơn. Nó là đối tượng mới của tình cảm nhân đạo trong Văn học 30-45, là
kết quả của sự thức tỉnh ý thức cá nhân, để nhà văn có thể đồng cảm với
những nỗi khổ khuất sâu trong tâm hồn con người, với nỗi đau riêng mà trước
đó tưởng như không có gì của mỗi cá nhân. Nhưng phản ánh cái buồn chán
cũng là một sự mạnh dạn của nhà văn, bởi nếu không đạt độ sâu, độ ám ảnh,
nó dễ khiến tác phẩm nhạt nhẽo, vô vị, dễ bị đánh đồng thành “ý nghĩa xã hội
mờ nhạt, non kém”.
Chất thực trong truyện ngắn Thạch Lam và trong Hai đứa trẻ nói còn có
một nét riêng, ấy là nhà văn thường đặt nhân vật vào một không gian hiu hắt
và ngập đầy bóng tối để cuộc sống với những tù túng, tẻ nhạt, tâm trạng con
người với những buồn thương bế tắc cùng đồng hiện. Trong Hai đứa trẻ,
Thạch Lam đặt vào hai khung cảnh. Trước hết ấy là cảnh chợ tàn, chợ vốn là
7
một dấu hiệu cho thấy mức độ của đời sống, ấm no hay đói nghèo, cơ cực.
Chợ được Thạch Lam bắt nhạy bằng hai tín hiệu, về thị giác là những phế thải
xác xơ của một chợ nghèo còn vương sót lại trên mặt đất với “vỏ bưởi, vỏ thị,
lá nhãn, lá mía”, về khứu giác là một thứ mùi âm ẩm bốc lên từ cát bụi và rác
rưởi…Cả hình ảnh và mùi vị đều cho thấy đây là một mùi của chợ tàn và cũng
là của đời tàn. Sau nữa, đó là cảnh đêm tối, tất cả cứ thầm lặng với vài tiếng
thở dài,“mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”, cứ đặc quánh trong bóng đêm,
chập chờn trong vài thứ ánh sáng yếu ớt. Trong nền cảnh đó là những kiếp
người tàn nơi phố huyện, là bà cụ Thi_người còn nhưng tâm hồn tàn lụi, là vài
đứa trẻ con nhà nghèo nhặt rác, là mẹ con chị Tí với gánh hàng nước, bác phở
Siêu với gánh phở ế ẩm, gia đình nhà bác xẩm bên manh chiếu rách, và cả hai
chị em Liên. Họ mỗi người một hoàn cảnh khác nhưng đều giống nhau ở lầm
lụi mưu sinh, vật vờ tồn tại. Có thể thấy, ngòi bút Thạch Lam đã vượt qua
trình độ miêu tả bề ngoài để lắng đọng vào hiện thực bên trong, để nghiền
ngẫm và phân tích, khám phá bản chất đời sống, một đời sống tưởng như
không có gì đáng kể. Cái hay của chất thực trong Hai đứa trẻ còn ở chỗ, nhà
văn đã giảm bớt chất thô mộc, xù xì, góc cạnh của cuộc đời, và lấy cuộc đời
như điểm xuất phát để vươn tỏa những ước mơ, khát vọng của nhân vật. Thế
nhưng cũng vì là chất thực nên những ước mơ đó cũng mong manh, vội tắt.
Ước mơ được chị em Liên và bao người dân phố huyện gửi cả vào một
chuyến tàu đêm. Chuyến tàu ấy như một nhu cầu tinh thần bức thiết để vượt
qua cái nhịp điệu mòn chán nơi phố huyện, nó còn là biểu tượng của “một
chút thế giới khác đi qua” với đầy âm thanh và ánh sáng. Với chị em Liên,
đợi tàu là để vui ghé, vui lây, nhúng mình vào một thế giới của niềm vui, hạnh
8
cảm xúc bàng bạc trong nhiều câu văn như thế “Trời đã bắt đầu đêm, một
đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát” hay “Một chiều êm ả như
ru, văng vẳng tiếng ếch nhái ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”… Chọn
chất giọng trữ tình làm bè chủ, Thạch Lam đã khiến cho Hai đứa trẻ in sâu
trong lòng người đọc như một bài thơ ngân nga, đầy dư ba, thấm đượm nỗi
buồn trong sáng mà day dứt.
Vậy là cả chất thực và chất thơ, hiện thực và trữ tình đã mang lại cho
truyện ngắn Thạch Lam và Hai đứa trẻ vẻ mềm mại, tinh tế, khả năng biểu
cảm với những rung động khẽ khàng nhưng không kém phần ám ảnh. Sự kết
hợp này là một lựa chọn thông minh, mang dấu ấn riêng của nhà văn. Bởi
chất thực khi được sự hỗ trợ của chất trữ tình của thơ thường giảm bớt đi cái
xù xì, góc cạnh, xô bồ của “chất liệu đời sống”. Còn chất thơ khi dựa trên nền
tảng vững chắc của hiện thực thì thường có sức ngân vang, lan tỏa mà vẫn
bám chắc vào thực tại, không bay bổng sáo rỗng.
Để lí giải hợp lí nhất sự kết hợp hài hòa chất thực và chất thơ này phải
nhìn từ quan niệm riêng của Thạch Lam về văn chương và nhà văn. Thạch
Lam quan niệm “văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để thanh
lọc tâm hồn con người. Thứ khí giới đó vì vậy để đắc lực được phải dựa vào
cái nền tảng hiện thực vững chắc nhưng theo sự lựa chọn riêng của nhà văn và
để tăng phần thanh cao có lẽ nhà văn đã lựa chọn chất thơ dịu nhẹ đưa vào
văn xuôi. Thêm vào đó, ảnh hưởng nhiều của quan niệm hiện đại Phương Tây,
10
Thạch Lam tin rằng cái ngẫu nhiên, bình thường, nhỏ bé trong cuộc sống có
khả năng đánh thức bao giá trị vô danh trong tâm hồn, khiến con người sống
nhân ái và sâu sắc hơn. Chắt lọc cái ngẫu nhiên đó cũng chính là chắt lọc chất
thơ trong hiện thực. Và nhà văn chỉ đóng vai trò người gợi mở, gợi ý một cách
tế nhị thế giới bao la, sâu thẳm ở trong tâm hồn và ở thế giới quanh ta. Với
quan niệm như thế, Thạch Lam viết truyện thiên về ghi lại những rung động,