Hoàn thiện công tác huy động vốn tại NHNN&PTNT Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội - Pdf 31

Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
Lời nói đầu
Ngày nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một su thế tất yếu của
mọi nền kinh tế trên thế giới. Bởi vì, chỉ có sự hội nhập vào nền kinh tế thế
giới thì nền kinh tế của một quốc gia mới có thể phát huy hết những thế mạnh
của mình, đồng thời tiếp thu được những tinh hoa của thế giới. Và cùng với
sự hội nhập thì một điều tất yếu là các doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với sự
cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài,
điều đó đời hỏi các doanh nghiệp luôn phải đổi mới công nghệ, mở rộng quy
mô sản xuất, đổi mới trang thiết bị công nghệ. Do đó cần có một thị trường tài
chính hiện đại để đáp ứng nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp, cũng
như các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc đẩy
mạnh vai trò của các ngân hàng trên thị trường tài chính là một điều tất yếu.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đã đạt được những
bước phát triển rất mạnh mẽ, và đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu
thành sự vận động liên tục của nền kinh tế. Cùng với các thành phần khác
trong thị trường tài chính hệ thống ngân hàng thương mại đóng một vai trò
quan trọng trong việc tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kìm chế lạm phát,
phát triển thị trường ngoại hối. Trong những năm qua các ngân hàng thương
mại nước ta đã thực hiện huy đông được một lượng vốn đánh kể cho việc phát
triển kinh tế, từ đó tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh
Nam Hà Nội là một chi nhánh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, ngân hàng đã không ngừng từng bước
lớn mạnh bắt nhịp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và đáp ứng nhu
cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Thấy được tầm quan trọng của công
tác huy động vốn đối với hoạt động của mình, chi nhánh đã đề ra rất nhiều
những biệm pháp để tăng cường công tác huy động vốn. Vì vậy, sau quá trình
1
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
thực tập tại chi nhánh em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác huy động vốn

gửi tiền và người rút tiền đều không thực hiện cùng một lúc, đã tạo số dư
thường xuyên trong két. Do vậy, họ có thể sử dụng tạm thời khoản tiền này để
thực hiện hoạt động cho vay, từ đây bắt đầu hình thành các hoạt động tín
dụng sơ khai của ngân hàng thương mại.
Mặt khác, với việc mỗi một quốc gia đều có một đồng tiền riêng được
sử dụng trong hoạt động lưu thông trao đổi mua bán hàng hoá đã tạo điều kiện
cho những người thợ vàng thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ bằng
cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi nhuân thu được là chênh lệch
giữa giá mua và giá bán. Đó là hoạt động mua bán ngoại tệ sơ khai, từ đó hính
thành lên hoạt động trao đổi mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật cũng như
của toàn bộ nền kinh tế thế giới, thì quá trình hoạt động kinh doanh trên thị
trường của các ngân hàng thương mại cũng đã có rất nhiều thay đổi quan
trọng. Ngày nay, các ngân hàng hoạt động dưới rất nhiều các hình thức khác
3
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
nhau để đáp ứng nhu cầu hoạt động riêng. Quá trình gia tăng nguồn vốn để
đưa và kinh doanh đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của các ngân hàng cổ
phần. Và để tăng cường khả năng kiểm soát, cũng như điều tiết kinh tế của
nhà nước đã dẫn đến sự hình thành lên các ngân hàng quốc doanh, ngoài ra
các ngân hàng còn tồn tại dưới hình thức là các ngân hàng liên doanh, các tập
đoàn ngân hàng… Và song song với quá trình đó là quá trình đa dạng hoá
trong hoạt động của các ngân hàng, nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới đang
ngày càng phát triển. Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là
chủ yếu đã đi đến cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động
sản. Ngoài ra, nhiều ngân hàng còn tiến hành cho vay tiêu dùng, kinh doanh
chứng khoán, cho thuê… Bên cạnh đó, các hình thức huy động vốn cũng trở
lên ngày càng phong phú. Bên cạnh các hình thức huy động vốn truyền thống
như nhận tiền gửi, các ngân hàng còn mở rộng các hình thức đi vay như vay
ngân hàng trung ương, vay trên thị trường tín dụng.

Việt Nam được Quốc hội khoá X ( kỳ họp thứ hai, từ ngày 21 tháng 11 đến
ngày 12 tháng 12 năm 1997) thông qua thì “ Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán”.
Như vậy, ta có thể thấy có rất nhiều những quan điểm cũng như những
cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm ngân hàng thương mại. Các quan
điểm nhìn nhận về khái niệm ngân hàng thương mại tuỳ thuộc vào từng quốc
gia, từng khu vực, cũng như từng khía cạnh. Tuy nhiên nhìn chung thì các
quan niệm này đều cho thấy các hoạt động và các dịch vụ mà các ngân hàng
cung cấp.
Đặc điểm
Đặc điểm đầu tiên phải kể đến của các ngân hàng thương mại chính là
nó có một sự ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế. Bởi vì, ngân
hàng là tổ chức huy động tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
5
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã
hội đều gửi tiền trong ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ
của toàn xã hội. Thu nhập từ ngân hàng là thu nhập quan trọng của nhiều
ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các
doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước ( thành phố,
tỉnh ). Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng là tổ chức cung cấp hệ thống tín
dụng để phục vụ cho việc mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà máy, mua
hàng hoá dự trữ. Khi doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng phải thanh toán cho
các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ
tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi cần thông tin tài chính hay lập kế
hoạch tài chính, họ thường đến các ngân hàng để được tư vấn. Các khoản tín
dụng của ngân hàng cho Chính phủ ( thông qua mua chứng khoán Chính
phủ ) là nguồn tài chính qua trọng cho đầu tư và phát triển. Ngân hàng thực

thay thế cho tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phươn tiện cất trữ nó
trở thành tiền giấy. Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các
khách hàng nhận thấy họ có số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán, họ có thể
chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện
đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu
thông, thứ hai là số dư tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại
ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các khoản tài khoản gửi tiết kiệm và tiền gửi
có kỳ hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư tiền gửi trên tài khoản của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng mua hàng hoá hay dịch vụ. Do đó bằng
việc cho vay, các ngân hàng đã tạo ra phương tiên thanh toán. Toàn bộn hệ
thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi
được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi
khách hàng sử dụng một khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo lên một khoản thu
( tức làm tăng số dư tiền gửi ) của một khách hàng khác tại một ngân hàng
khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng nào
có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể toạ
ra một khối lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay
7
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
Ngoài ra các ngân hàng thương mại còn đóng vai trò của trung gian
thanh toán. Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hoá dịch vụ. Để việc thanh toán được nhanh chóng và thuận tiện, đồng thời
tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán khác nhau như
thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng
lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng
cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng
Trung ương hoặc thông qua các trung gian thanh toán.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của kinh tế, thì các hoạt động của ngân hàng

- Cho vay thương mại và chiết khấu thương phiếu: Ngay ở thời kỳ đầu,
các ngân hàng thương mại đã chiết khấu thương phiếu mà thực ra là cho vay
đối với người bán ( người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để
lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng ( là
người mua ), giúp họ có vốn để mua hàng hoá để mở rộng sản xuất kinh
doanh.
- Cho vay tiêu dùng:Trong giai đoạn đầu thành lập, các ngân hàng
thương mại đều không tích cực với hoạt động cho vay đối với cá nhân và hộ
gia đình trong việc tiêu dùng, bởi vì họ tin rằng hoạt động cho vay tiêu dùng
hàm chứa rủi ro cao, rất dễ dẫn đến phá sản. Tuy nhiên sau đó, cùng với sự
phát triển không ngừng của các nền kinh tế, kéo theo sự tăng kên của thu nhập
cá nhân, nhu cầu cho tiêu của cá nhân, cũng như hộ gia đình tăng cao hoạt
động cho vay tiêu dùng cũng theo đó mà trở thành một hoạt động sinh lới cao.
Mặt khác, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị
trường ngày càng trở lên khốc liệt trong việc huy động vốn, điều này đã buộc
các ngân hàng phải hướng đến các cá nhân và hộ gia đình như một khách
hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước
có nền kinh tế phát triển. Mặc dù hiện nay tốc độ đã chậm lại do cành tranh
9
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
tín dụng ngày càng lớn trong khi nền kinh tế phát triển chậm lại. Tuy nhiên
cho vay tiêu dùng vẫn luôn là một hoạt động quan trong của các ngân hàng
thương mại.
-Cho vay tài trợ cho các dự án: Ngày nay, ngoài các hoạt động mang
tính truyền thống như là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng thương mại còn
tham gia vào các hoạt động tài trợ và đồng tài trợ cho các dự án như xây
dựng nhà máy , phát triển công nghệ cao, một số ngân hàng còn tham gia vào
hoạt động cho vay để đàu tư vào đất. Hoạt động cho vay tài trợ cho các dự án
nói chung thường hàm chứa rủi ro cao. Do vậy, hoạt động này thường được

hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức
thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi , nhờ thu, đã phát triển hình thức thanh toán
mới bằng thẻ…
Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và tiền gửi của phần lớn các doanh
nghiệp và cá nhân. Nhờ đó, các ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều khách hàng. Đó cũng là điều kiện để ngân hàng có nhiều kinh nghiệm
trong việc quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng
đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong dó ngân hàng
đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư
phần thặn dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn
hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ
Các hoạt động của ngân hàng thương mại luôn có tác động cũng như
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Vì vậy, ngay từ khi
được thành lập các ngân hàng đã phải hoạt động theo những quy định chung
của chính phủ các nước. Mặt khác, ngân hàng thương mại có một khả năng
huy động vốn vay rất lớn. Do đó, các ngân hàng thương mại đã trở thành
trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu của chính phủ thường là
lớn và cấp bách trong khi các nguồn thu không đủ, nên chính phủ các nước
đều muốn tiếp cận với các khoản vay của ngân hàng. Ngày nay m chính phủ
11
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
các nước đều giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng.
Các ngân hàng được cấp phép thành lập với cam kết họ phải cam kết thực
hiện với mức độ nào đó các chinh sách của chính phủ và tài trợ cho chính
phủ. Các ngân hàng thường mua trài phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định
trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của một ngân hàng cho một khách hàng là rất

nói chung và giữa các ngân hàng nói riêng, đã buộc các ngân hàng phải ngày
càng lỗ lực trong việc thực hiện cung cấp ngầy càng đầy đủ các dịch vụ cho
khách hàng, nhằm thoả mãn mọi nhu cầu cho khách hàng. Và đây cũng là một
trong những ly do khiến các ngân hàng bán các dịch vụ môi giới chứng
khoán, cung cấp cho khách hàng mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán
khác. Hiện nay, các ngân hàng còn thành lập ra các công ty chứng khoán hoặc
các công ty môi giới chứng khoán đẻ cung cấp các dịch vụ về chứng khoán
cho khách hàng.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Ngày nay hoạt động của các ngân hàng đã lan sang cả lĩnh vực bảo
hiểm. Các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc
hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế do gặp rủi ro trong
hoạt động mất khả năng thanh toán. Ngoài ra ngân hàng còn liên doanh với
các công ty bảo hiểm, hoặc tổ chức ra các công ty bảo hiểm con, ngân hàng
cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm
hưu trí…
Cung cấp các dịch vụ đại lý
Do nhiều yếu tố khác nhau lên nhiều ngân hàng không thể thiêt lập các
chi nhánh và văn phòng đại diện ở khắp mọi nơi. Vì vậy một nhu cầu tất yếu
sinh ra đó là nhu cầu về dịch vụ đại lý. Chính vì vậy, mà các ngân hàng lớn có
khả năng sẽ cung cấp các dịch vụ đại lý cho các ngân hàng khác không có
điều kiện. Các dịch vụ đó có thể là thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ
tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối cho đồng tài trợ…
13
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
1.1.3.Vai trò của công tác huy động vốn trong hoạt động của ngân hàng
thương mại
Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho
vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Vì vậy công tác huy động vốn- hoạt
động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại đóng một vai trò hết sức quan

nhân là thuộc sở hữu tư nhân.
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt
động các ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau
tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể. Nguồn từ lợi nhuận, trong điều kiện thu nhập
dòng lớn hơn không, chủ ngân hàng có su hướng gia tăng vốn của chủ bằng
cách chuyển một phần thu nhập dòng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích luỹ tuỳ
thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích luỹ và tiêu dùng. Những ngân
hàng lâu năm, thu nhập dòng lớn hơn, nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận sẽ cao
sơ với vốn của chủ hình thành ban đầu. Nguồn vốn bổ sung từ quá trình phát
hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động,
hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu tăng vốn của chủ. Đặc
điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân
hàng có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
- Các quỹ: Ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có một mục đích riêng.
trước tiên là dự phòng tổn thất. Quỹ này được trích lập hàng năm và được tích
luỹ lại nhằm bù đắp lại những tổn thất có thể xảy ra. Quỹ bảo toàn vốn mục
đích bù đắp sự hao mòn của vốn dưới tác động của lạm pháp. Quỹ thặng dư là
phần đánh giá lại tài sản của khách hàng và chênh lệnh giữa thị giá và mệnh
giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Tuỳ theo quy định của từng nước,
các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng quỹ giám đốc…
Các quỹ của ngân hàng thuộc chủ sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn
hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên một số quỹ
ngân hàng không thể sử dụng lâu dài.
15
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
- Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung
và dài hạn của ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành vốn
cổ phần có thể coi là bộ phận của vốn sở hữu của ngân hàng ( vốn bổ sung )
do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà
cửa, đất đai, và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.

ứng các nhu cầu bất khả kháng. Khi đó, ngân hàng sẽ tiến hành vay vốn từ các
tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cẩu trước mắt. Tuy nhiên, nguồn này
thường có tỷ trọng rất thấp, tính ổn định không cao và không thường xuyên.
Các ngân hàng thường rất hạn chế sử dụng tới nguồn huy động này.
Theo mục đích gửi tiền:
- Tiền gửi tiết kiệm: đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nguốn vốn huy động của ngân hàng. Theo tình hình cụ thể của bản thân ngân
hàng, cũng như tình hình thực tế trên thị trường, mà các ngân hàng thương
mại sẽ có những chính sách phù hợp để huy động nguồn vốn thông qua tiết
kiệm. Công cụ chính mà các ngân hàng sử dụng để huy động tiền gửi tiết
kiệm chính là lãi suất, thông qua lãi suất các ngân hàng sẽ thu hút khách hàng
gửi tiền vào ngân hàng.
- Tiền gửi thanh toán: nguồn tiền này thường có mục đích là phục vụ
cho việc thanh toán thường xuyên hay tiêu dùng hàng ngày của khách hàng.
Do vậy nó có tính ổn định không cao, tuy nhiên ngân hàng có thể sử dụng
một phần nguồn này để phục vụ cho các mục đích nhất định trên cơ sở tính
toán hợp lý quy luật biến động của loại tiền gửi này.
- Tiền gửi uy thác đầu tư: hiện tại có nhiều doanh nghiệp có lượng vốn
để đưa vào hoạt động đầu tư, tuy nhiên họ lại thiếu kinh nghiêm trong lĩnh
vực tài chính, hoặc thiếu thông tin trên thị trường. Khi đó họ có thể uỷ thác
đầu tư cho ngân hàng theo thoả thuận. Hoặc có những doanh nghiệp hay tổ
chức không được phép gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, nên họ biến tướng
dưới hình thức uỷ thác đầu tư
Các nguồn vay khác như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu…
17
Chuyên đề Thực tấp Tốt nghiệp Khoa: NH-TC
1.2.2.Các phương pháp huy động vốn của ngân hàng thương mại
Tiền gửi : Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp
vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status