LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường chính nhờ được thầy cô chỉ bảo, truyền đạt những
kiến thức hữu ích. Cuối cùng em cũng đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Chính
trong quá trình làm luận văn đã giúp cho em mở mang được rất nhiều điều, thấy được
mức độ vận dụng lý thuyết vào thực tế, mong muốn được học hỏi hơn nữa. Với luận văn
tốt nghiệp này chính là bước khởi đầu để em có thể tự tin bắt tay vào công việc chuyên
môn của mình sau này.
Em xin được tỏ lòng biết ơn của mình đến thầy TS. Võ Đình Long là người trực
tiếp hướng dẫn em làm luận văn này. Người đã tận tình hướng dẫn, cho em rất nhiều lời
khuyên và góp ý để em hoàn thành luận văn này. Cảm ơn thầy đã tạo điều kiện cho em
tiếp thu kiến thức mới.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị và cô chú ở trung tâm y tế dự phòng quận 8
Thành phố Hồ Chí Minh. Các cô chú trong trung tâm đã tận tình chỉ dẫn, đóng góp ý
kiến, cung cấp tài liệu cho em trong quá trình khảo sát thực tế tại bệnh viện để bổ sung
cho phần trình bày luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo của trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí
Minh, Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường, đã luôn động viên và giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn.
Con xin cảm ơn ba mẹ đã nuôi nấng, chăm sóc dạy dỗ con nên người. Cảm ơn cả gia
đình đã luôn quan tâm đóng góp ý kiến, cho con những lời khuyên và tạo mọi điều kiện
để con hoàn thành tốt luận văn của mình.
Cuối cùng mình xin cảm ơn các bạn đồng khóa đã giúp đỡ mình rất nhiều trong
học tập cũng như thực hiện luận văn này.
Mặc dù được sự giúp đỡ của nhiều người, nhưng với lượng kiến thức còn hạn chế
nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những sai sót. Em mong được sự đóng góp ý kiến
chân thành của thầy cô, anh chị và các bạn để em có thể sửa chữa những sai sót cũng như
để nâng cao được kiến thức của mình.
TP. Hồ Chí Minh, ngày
tháng 5 năm 2014
lực quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn quận 8; 02 giải pháp cụ thể, bao gồm giải
pháp công nghệ và giải pháp quản lý.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Văn Lâm, là sinh viên thực hiện luận văn “ Đánh giá hiện trạng
và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải y tế trên địa bàn Quận 8 Thành phố Hồ Chí
Minh ”, xin cam đoan như sau:
Luận văn này là đề tài nghiên cứu của sinh viên dưới sự hướng dẫn của TS. Võ Đình
Long cùng với sự giúp đỡ của lãnh đạo Viện khoa học Công nghệ và Quản lý Môi
trường, bạn bè và các đơn vị có liên quan. Các tư liệu được tham khảo, tổng hợp và
trích dẫn có nguồn gốc đáng tin cậy.
Tôi xin cam đoan các nội dung ghi trên là đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách
nhiệm về toàn bộ nội dung nghiên cứu và kết quả của Luận văn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày
tháng 5 năm 2014
Nguyễn Văn Lâm
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của
nghành Y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không
ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện. Tính đến năm 2010, Việt Nam có 1.186
Kim Thái, Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị & Khu công nghiệp đã nghiên cứu đề tài
"Xây dựng tiêu chuẩn thu gom, lưu giữ, vận chuyến, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại"
(2007); Báo cáo kết quả khảo sát chất thải tò 36 bệnh viện Hà Nội; Nghiên cứu đề xuất
các giải pháp xử lý chất thải bệnh viện ở Hà Nội (1998).
Bộ Y tế tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống
xử lý chất thải rắn nguy hại y tế đến năm 2025. Theo đó, đến năm 2015, 100% lượng
chất thải rắn nguy hại y tế tại các cơ sở y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển đến
các cơ sở xử lý, trong đó 70% lượng chất thải rắn nguy hại y tế được xử lý đảm bảo các
tiêu chuẩn về môi trường. Giai đoạn đến năm 2025, 100% lượng chất thải rắn nguy hại
y tể tại các cơ sở y tế được thu gom, vận chuyển và xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về
môi trường.
Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận 8 nói riêng, tình hình quản lý chất thải y
tế cũng nằm trong tình hình chung của cả nước, nhưng hiện nay ngoài Quy hoạch phát
triển ngành y tế Thành phố Hồ Chí minh đến năm 2020 đã triển khai và đang thực hiện bổ
sung Quy hoạch, cùng với các báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án xây dựng
một số bệnh viện, trung tâm y tế chuyên khoa thì có thể xem hoàn toàn chưa có công trình
nghiên cứu nào về tình hình phát sinh và quản lý chất thải y tế để có giải pháp quản lý
thích hợp.
1.2. Tính cấp thiết
Quận 8 là môt trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh nằm Với
những yếu tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và vị trí phân bố lãnh
thổ của quận 8 được xem là một trong những địa phương giàu tiềm năng về phát triển
kinh tế, đặt biệt phát triển thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến và tốc độ đô thị hoá
diễn ra nhanh, điều này tạo ra một động lực lớn để đẩy mạnh tiến trình phát triển kinh tế
quận 8.
Năm 2011 tốc độ tăng trưởng GDP của quận 8 là 19,1 %.Tốc độ đô thị hóa diễn ra
nhanh chóng kéo theo dân số tăng, theo số liệu thống kê, năm 2011 dân số quận 8 có
423.129 người. Như vậy tăng trưởng về kinh tế, cuộc sống người dân được cải thiện, bên
xã hội của quận 8 và đảm bảo các quy định của pháp luật cần lượng hóa được nguồn
phát sinh chất thải rắn y tế và dự báo khả năng phát sinh của nó trong tương lai để làm cơ
sở đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp. Đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh” được lựa chọn
nghiên cứu nhằm đáp ứng các yêu cầu cấp thiết trên.
1.3. MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN
Đánh giá được hiện trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn Quận 8 ,
từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả và khả thi phù hợp vói điều kiện kinh tế xã
hội của Quận 8 theo các quy định của pháp luật.
1.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
1.4.1. Tóm tắt các nội dung nghiên cứu chính
1.4.1.1 Xác định phạm vi nghiên cứu và đổi tượng nghiên cứu, lập danh sách các cơ
sở y tế trong toàn quận :
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bệnh viện, Trung tâm y tế dự phòng; phòng
khám đa khoa khu vực, trạm y tế và các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân thuộc Quận 8
Thành phố Hồ Chí Minh..
1.4.1.2 Xác định mục tiêu nghiên cứu để xây dựng phiếu điều tra thông tin:
Phiếu điều tra được xây dựng với các thông tin sau:
-
Thông tin chung về cơ sở y tế được điều tra;
-
Các thủ tục về môi trường đã thực hiện liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế;
-
(phòng Y tế, ƯBND các quận 8, Công ty môi trường đô thị thành phố, Ban Quản lý các
dự án y tế, các dự án và báo cáo ĐTM của các cơ sở y tế, các sổ đăng ký chủ nguồn
thải chất thải rắn của các cơ sở y tế.. )
Khảo sát nhận dạng chất thải rắn y tế, thu thập kết quả phân tích mẫu chất thải rắn y tế
-
của các đối tượng điều tra để xác định mức độ ô nhiễm của các loại chất thải rắn y tế
đến môi trường phát sinh tại từng cơ sở và khả năng xử lý môi trường của các hệ thống
xử lý đã được đầu tư tại cơ sở y tế.
-
Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải rắn y tế gây ra cần so sánh kết quả
phân tích, đo đạc thu thập được với các QCVN sau:
•
Chất thải rắn y tế ban hành tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 03/12/2007
và Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, ngày 14/4/2011 quy định về quản lý chất thải nguy
hại;
•
Các chất ô nhiễm trong khí thải lò đốt CTNH y tế so sánh theo QCVN
02:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế.
•
Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các loại CTNH y tế tác động đến môi trường
với quy định của pháp luật và tình hình phát triển KT - XH của Quận 8.
Tham khảo ý kiến của chuyên gia về cách tính toán, dự báo và các giải pháp đề
xuất nhằm quản lý thích hợp chất thải rắn y tế.
1.5. Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
1.5.1. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Cung cấp luận cứ khoa học để nghiên cứu các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế
phù họp với tình hình từng địa phương, bảo đảm việc phát triển mạng lưới chăm sóc
sức khỏe nhân dân phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, giảm thiểu được áp
lực phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù
hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của Quận 8 và các quy định của pháp luật,
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và chăm sóc sức khỏe của người dân, tiến tới phát
triển bền vững.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm chất thải y tế :
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, nghiên cứu..chất thải rắn y tế là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ
thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá
chất, chất phóng xạ... thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYT được xếp là chất thải nguy hại,
cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây hại sức khoẻ,
an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ.
Theo Điều 3,của Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, ngày 03/12/2007 của Bộ trưởng
hành kèm theo Quy chế quản lý Chất thải y tế).
-
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (tò nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất
thải từ hoạt động nha khoa); cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc
vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
2.1.2.3 Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh tò các
hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị
ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Y tế.
2.1.2.4 Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng oxy, C02, bình gas, bình dung khí. Các bình này dẽ gây cháy,
gây nổ khi thiêu đốt.
2.1.2.5 Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy
hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
-
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
-
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai
huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải
này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
nghệ xử lý chất thải rắn y tế thân thiện môi trường.
-
Thu thập các thông tin có sẵn từ các cơ quan quản lý các cơ sở dịch vụ y tế liên quan
(Phòng y tế, Uỷ ban nhân dân quận 8, Ban Quản lý các dự án y tế, Công ty môi trường
Đô thị thành phố, Công ty Dịch vụ Công ích quận 8 và các cơ sở y tế trên địa bàn
quận.
-
Điều tra bằng phiếu đối với các cơ sở y tế
-
Khảo sát nhận dạng chất thải rắn y tế, thu thập kết quả phân tích mẫu chất thải rắn y
tế của các đối tượng điều tra để xác định khối lượng, thành phần và nồng độ, mức độ ô
nhiễm của các loại chất thải rắn y tế đến môi trường phát sinh tại từng cơ sở.
-
Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải y tế nguy hại gây ra cần so sánh
kết quả phân tích, đo đạc thu thập được với các quy chuẩn Việt Nam như sau:
Chất thải rắn y tế nguy hại phân loại theo Quy chế Quản lý chất thải y tế
ban hành tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 03/12/2007 và Thông tư
12/2011/TT-BTNMT, ngày 14/4/2011 quy định về Quản lý chất thải nguy hại;
Quy định quản lý chất thải rắn nguy hại theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP
điều tra và các tài liệu, số liệu sẵn có của cơ quan quản lý về môi trường để đánh giá tình
hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế cũng như công tác quản lý chất thải
rắn y tế tại địa phương.
Lượng và loại chất thải y tế theo mã số quản lý chất thải do Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định và phân loại theo quy định của Quy chế Quản lý chất thải y tế tại Quyết
định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 03/12/2007 của Bộ Y tế.
2.2.5. Phương pháp tổng quan tài liệu:
Phương pháp này đòi hỏi việc tìm kiếm, tham khảo các tài liệu từ nhiều nguồn
khác nhau có nội dung liên quan đến đề tài luận văn nhằm chọn lọc những nội dung cần
thiết, sau đó tổng hợp lại để làm nổi bật vấn đề cần đề cập.
2.2.6. Phương pháp đánh giá:
Đánh giá hiện trạng phát sinh, quản lý chất thải rắn y tế, tính chất của từng nhóm
rác thải y tế, công nghệ xử lý và dự báo lượng chất thải rắn y tế trong tương lai, phân tích
nguyên nhân tác động đến công tác quản lý chất thải rắn y tế và đề xuất các giải pháp tăng
cường quản lý chất thải y tế trên địa bàn quận phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã
hội và các quy định của pháp luật.
Đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế, lượng hóa chúng, sau
đó dựa vào các chỉ số phát triển kinh tế xã hội trong các Quy hoạch phát triển liên quan và
các số liệu tổng hợp được để tính toán, dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh đến năm
2020;
Đánh giá hiện trạng năng lực quản lý chất thải y tế của Quận (công tác tổ chức
thu gom, phân loại ,vận chuyển, xử lý, quản lý cơ sở dữ liệu, cấp sổ đăng ký chủ nguồn
thải chất thải nguy hại, kiểm tra giám sát công tác thực hiện của các cơ sở y tế, xử lý vi
phạm…) và dự báo đến năm 2020;
Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý chất thải y tế từ khâu phát sinh đến
thải bỏ trong giai đoạn hiện nay đến năm 2020 phù hợp với quy định của pháp luật và tình
3.1.2. Diện tích:
Diện tích tự nhiên của Quận 8 là 19,17 Km2.
3.1.3. Điều kiện tự nhiên:
Quận 8 chịu ảnh hưởng khí hậu chung của Thành phố HCM.
o
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.939 mm.
o
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 270C.
o
Chịu ảnh hưởng của gió mùa.
o
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 79,5%.
3.1.4. Địa hình:
Địa hình Quận 8 tương đối thấp, trũng. Cao độ trung bình là 1,2m. Cao độ thấp
nhất là 0,3m (Phường 7), cao động cao nhất 2,0m (Phường 2).
3.1.5. Thổ nhưỡng:
Đất đai Quận 8 hầu hết đều bị nhiễm phèn nặng và nhiễm mặn. Cường độ chịu
lực của đất rất thấp (khoảng 0,05kg/cm2 đến 0,2kg/cm2).Khu vực đất nhiễm phèn ít là
Quận là đúng hướng, thích ứng với xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình
đô thị hóa nhanh của một đô thị. Trong những năm tới khi quá trình công nghiệp hóa đã
bước vào giai đoạn phát triển ổn định, cần tiếp tục phát huy lợi thế của các hoạt động
thương mại dịch vụ, tăng nhanh tỷ trọng
khu vực này trong cơ cấu kinh tế, đồng thời từng bước giảm tỷ trọng ngành công
nghiệp. Có như vậy, nền kinh tế của Quận mới phát triển cân đối, bền vững, tương xứng
với vị trí, vai trò và tiềm năng của Quận.
3.2.2.Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
3.2.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp
Do tiến trình đô thị hoá nhanh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị giảm mạnh
để chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp, người nông dân không còn
đất để sản xuất nông nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, trong những năm qua với bản
tính năng động vốn có của mình, người dân đã chủ động chuyển đổi hướng làm ăn mới
sang các ngành nghề như kinh doanh thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, thay
đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Về trồng trọt, trong những năm qua bên cạnh việc phát triển đô thị làm giảm trực
tiếp diện tích đất nông nghiệp, còn có nguyên nhân khác là trong quá trình xây dựng đô
thị do thiếu tính đồng bộ đã tạo nên những tình trạng ngập úng kéo dài và ô nhiễm
nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp làm giảm phần nào năng suất, sản
lượng đối với phần diện tích đất nông nghiệp còn lại hiện đang sản xuất. Ngoài ra do
các dự án xây dựng đang trong thời gian chờ triển khai nên người dân không yên tâm
đầu tư sản xuất, nhất là đối với diện tích cây lương thực dẫn đến năng suất bị hạn chế.
Tuy nhiên với lợi thế cách các quận nội thành không xa, có thị trường tiêu thụ các sản
phẩm hàng hoá nông nghiệp phong phú và đa dạng nên người dân đã đầu tư sản xuất
các sản phẩm như rau đậu các loại thay cho trồng cây lương thực.
Về chăn nuôi, trong giai đoạn vừa qua ngoài bị ảnh hường do diện tích đất nông
nghiệp giảm; còn bị dịch cúm gia cầm (H5N1), dịch tai xanh ở lợn nên quy mô đàn gia
bao gồm hệ thống chợ, các cửa hàng bán lẻ dọc các tuyến đường chính của Quận.
Nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng, Quận đã
xây dựng đề án thực hiện chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn
Quận giai đoạn 2009 - 2011, định hướng đến năm 2015 - 2020, triển khai xây dựng kế
hoạch phát triển hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ trên địa bàn Quận từ nay đến
năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
Tuy nhiên, nhịp độ tăng trưởng của Quận năm 2011 chậm hơn so với cùng kỳ, do
hoạt động của nhiều doanh nghiệp kém hiệu quả; các chương trình, chính sách hỗ trợ
trực tiếp từ thành phố không nhiều và doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận. Tỷ trọng
ngành dịch vụ vẫn còn thấp, chủ yếu phát triển tự phát, tập trung vào các ngành ăn
uống, vận tải, kho bãi, môi giới địa ốc, lưu trú... Lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao chưa
được định hướng quy hoạch phát triển như tài chính, ngân hàng, sàn giao dịch bất động
sản, giáo dục, dạy nghề, y tế chất lượng cao... Lĩnh vực thương mại còn chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu ngành dịch vụ, chủ yếu từ doanh thu chợ đầu mối nông sản thực phẩm
Bình Điền. Loại hình siêu thị phát triển chưa nhiều (hiện có 03 siêu thị với qui mô nhỏ:
Co-op mart Tuy Lý Vương, siêu thị Fahasa Lý Thái Tổ, siêu thị Plentydays). Siêu thị
hiện vẫn chưa thay thế vai trò, chức năng của chợ truyền thống, chưa đáp ứng yêu cầu
phục vụ cho đại bộ phận dân cư. Việc phát triển mạng lưới trung tâm thương mại, siêu
thị tại Quyết định số 17/2009/QĐ -UBND của ủy ban nhân dân thành phố còn chậm so
với yêu cầu. Các tuyến đường, khu vực chuyên doanh chưa hình thành rõ nét. Việc xử
lý một số điểm kinh doanh tự phát, lấn chiếm lòng lề đường chưa triệt để do việc xử
phạt và phương án tái bố trí kinh doanh cho tiểu thương chưa hiệu quả, nên tình trạng
tái lấn chiếm vẫn còn tiếp diễn sau mỗi đợt ra quân ngắn hạn.
3.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
3.2.3.1. Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2011, dân số Quận 8 là 423.129 nhân khẩu (trong đó:
202.802 nam, 220.327 nữ); dân số phân bố tập trung chủ yếu ở các phường: phường 4
(44.155 nhân khẩu, chiếm 10,44%), phường 5 (41.478 nhân khẩu, chiếm 9,80%),
-Chương trình xóa đói giảm nghèo có sự lãnh đạo tập trung của các cấp ủy đảng,
chính quyền, sự phối hợp các ban ngành, tập trung tạo nguồn vốn đáp ứng các nhu cầu
vay vốn tạo việc làm của người nghèo, kết hợp thực hiện chính sách ưu đãi, chăm lo
tích cực cho các đối tượng trong chương trình cải thiện đời sống, nâng thu nhập. Với sự
chăm lo của xã hội, đã tác động ý thức của người nghèo vươn lên thoát nghèo; năm
2011 số hộ nghèo của toàn Quận là 3.915 hộ (giảm 1.540 hộ so với năm 2010).
3.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
3.2.4.1 Giao thông
Trong những năm qua hạ tầng giao thông đã được cải thiện đáng kể, các tuyến
đường kết nối liên thông giữa Quận 8 với các Quận lân cận đã được đầu tư đưa vào sử
dụng như: cầu đường Nguyễn Văn Cừ, nâng cấp cầu Chà Và, cầu Chữ Y, mở rộng
đường Dương Bá Trạc, đường Phạm Hùng; các tuyến giao thông huyết mạch của quận
như đường Tạ Quang Bửu, đường Phạm Thế Hiển đã được cải tạo nâng cấp từng phần;
một số tuyến đường giao thông nội bộ đã được sửa chữa như đường Trương Đình Hội,
đường Thanh Niên, đường 41, đường vào Trung tâm Thương mại Bình Điền phường
7...,các hẻm chính được mở rộng và bê tông hóa,..
Tuy nhiên, mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn Quận 8 trong thời gian qua
phát triển chậm, chắp vá và tạm bợ, nhất là khu vực dân cư mới (khu vực giáp ranh
Bình Chánh, Quận 7 thuộc các phường 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 16); cấp đường và chất lượng
đường nhiều tuyến còn chưa đảm bảo, một số tuyến đường chính kết nối với các quận,
huyện lân cận chưa được đầu tư kịp thời; tỷ lệ đất giao thông so với tổng diện tích đất
tự nhiên mới chỉ chiếm 12,85%, trong khi theo chỉ tiêu ngành xây dựng phải đạt từ 18 20% tổng diện tích đất tự nhiên.
Trong những năm tới cần tiếp tục có sự quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa của các cấp,
các ngành nhằm tòng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông, đáp ứng kịp thời cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của Quận.
Ngoài mạng lưới giao thông đường bộ, trên địa bàn Quận 8 được bao bọc bởi hệ
thống sông ngòi và kênh rạch, có mạng lưới giao thông đường thuỷ tương đối phát
triển, có tiềm năng chuyên chở hàng hoá với khối lượng lớn từ Miền Tây lên Thành phố
góp phần quan trọng trong việc trao đối thông tin trên địa bàn Quận. Tỷ lệ sử dụng điệ
n thoại (cả cố định và di động) tăng nhanh trong những năm qua, và gần như đã đạt tới
ngưỡng bão hòa. Đây là điều vô cùng quan trọng đối với một quận đang chuyển mình
mạnh mẽ trong quá trình đô thị hóa, góp phần đáp ứng yêu cầu phục vụ chỉ đạo của
chính quyền các cấp, các ngành xuống cơ sở cũng như nhu cầu giao lưu trao đổi thông
tin, liên lạc của nhân dân trong toàn Quận.