Điều tra, phân loại, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải phát sinh từ làng nghề nuôi rắn xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 34

Luận văn thạc sĩ

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số làng
nghề đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, tiến
hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế làng nghề theo đó cũng phát triển mạnh. Theo
thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có khoảng hơn 1600 làng
nghề được công nhận và hơn 3200 làng có nghề [16]. Tuy nhiên, về cơ bản các làng
nghề vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, thiết bị thủ công, đơn giản, công nghệ lạc hậu,
mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp,... Với sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của các làng
nghề cùng với sự mất cân bằng giữa nhu cầu phát triển sản xuất và khả năng đáp
ứng của cơ sở vật chất, ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường, bảo vệ sức
khỏe và sự lỏng lẻo trong quản lý môi trường, hoạt động của các làng nghề đã và
đang gây áp lực rất lớn đến chất lượng môi trường tại các làng nghề.
Vĩnh Phúc thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của
Thủ đô Hà Nội và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Là
tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có vị trí thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội,
những năm gần đây cùng với các chính sách ưu đãi đầu tư và khuyến khích khôi
phục các làng nghề truyền thống của tỉnh, kinh tế làng nghề của tỉnh Vĩnh Phúc đã
có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế khu vực nông thôn. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của các làng nghề vẫn
còn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp thiết và
cần được quan tâm nhất.
Làng nghề chăn nuôi rắn xã Vĩnh Sơn đã có từ lâu đời và đã được Ủy ban
nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận là làng nghề truyền thống của tỉnh. Cùng với sự
phát triển kinh tế của tỉnh, làng nghề rắn Vĩnh Sơn cũng ngày càng phát triển với sự
gia tăng về quy mô cũng như chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm. Rắn không
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung

Sơn, tạo tiền đề xây dựng khu làng nghề - dịch vụ du lịch theo tiêu chí phát triển
kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Đồng thời, trở thành mô hình mẫu về bảo vệ môi
trường cho các làng nghề chăn nuôi rắn khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
và cả nước nói chung.

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

2


Luận văn thạc sĩ

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trang trại chăn nuôi rắn trên địa bàn
xã Vĩnh Sơn;
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: xã Vĩnh Sơn – huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh
Phúc;
+ Phạm vi về thời gian: Do thời gian và điều kiện có hạn nên các số liệu
phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài được điều tra và thu thập từ tháng
3/2014 đến tháng 2/2015.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
a. Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu do địa phương cung cấp;
- Tư liệu thu thập được từ quá trình đi điều tra, khảo sát trên địa bàn;
b. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra, khảo sát các
trang trại chăn nuôi rắn trên địa bàn xã Vĩnh Sơn để có những thông tin và cái nhìn
cụ thể, chính xác về thực trạng môi trường tại các trang trại chăn nuôi rắn trên địa

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

4


Luận văn thạc sĩ

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ RẮN VĨNH SƠN
1.1. Giới thiệu về nghề nuôi rắn
1.1.1. Nghề nuôi rắn ở Việt Nam
Nuôi rắn đã trở thành một nghề mang lại nhiều lợi ích kinh tế, tăng thu nhập
cho người dân và góp phần bảo tồn một số loài rắn đang có nguy cơ tuyệt chủng. Từ
hàng ngàn năm nay, con người đã tốn rất nhiều công sức để tìm hiểu về tập tính
sinh thái – sinh lý của con rắn để hình thành nên nghề nuôi rắn độc ở nhiều nơi trên
khắp đất nước Việt Nam.
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới nên được thiên nhiên ưu đãi cho
các hệ sinh học động, thực vật nên các loài rắn của Việt nam có môi trường để sinh
sống và phát triển. Tuy nhiên những năm gần đây, nạn săn bắt động vật hoang dã,
động vật quý hiếm để lấy thịt và xuất khẩu (trong đó có rắn) đang hoành hành gây
mất cân bằng sinh thái hoặc một số loài có nguy cơ tuyệt chủng. Theo thống kê của
Cục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ
3.400 tấn thịt động vật hoang dã [18]. Vì vậy, hoạt động chăn nuôi, chế biến và kinh
doanh các sản phẩm từ rắn của của nhân dân những năm gần đây được khuyến
khích phát triển một cách hợp pháp, thông qua hoạt động cấp phép của cơ quan
kiểm lâm.
Hoạt động chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ rắn ở nước ta hiện nay đang
có chiều hướng phát triển mạnh tại một số làng nghề truyền thống hoặc mới phát
triển ở một số vùng nông thôn, trang trại.

TPHCM,... [4]
Rắn thương phẩm từ các làng nuôi rắn nói trên chủ yếu được xuất khẩu sang
thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc. Ngoài ra, rắn còn được dùng để ngâm
rượu, nấu cao và bán cho người dân có nhu cầu để làm thực phẩm chức năng, bồi bổ
cơ thể, hỗ trợ điều trị một số bệnh về xương khớp và dây thần kinh,…
Nghề nuôi rắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người nông dân xóa
đói, giảm nghèo, ngoài ra còn giúp bảo tồn các nguồn gen quý hiếm. Vì vậy, Nhà
nước ta đã và đang tạo điều kiện, đưa ra các hành lang pháp lý phù hợp để người
dân có thể phát triển nghề chăn nuôi rắn, vừa góp phần phát triển kinh tế, vừa bảo
tồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì và phát triển đa dạng sinh học của đất nước.

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

6


Luận văn thạc sĩ

1.1.2. Nghề nuôi rắn ở tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Vĩnh Tường
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô, có lợi thế về địa lý, kinh tế và văn hóa.
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, kinh tế
liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản. Giá trị sản xuất công nghiệp, tổng thu ngân sách, tổng sản phẩm nội tỉnh,
chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số phát triển con người (HDI) của
Vĩnh Phúc luôn xếp trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu của cả nước. Về văn
hóa – xã hội cũng có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
không ngừng được nâng lên. [17]

Xã Vĩnh Sơn là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Vĩnh Tường, phía Đông
giáp xã Bình Dương, phía Tây giáp thị trấn Thổ Tang và xã Thượng Trưng, phía
Nam giáp xã Vũ Di, phía bắc giáp xã Đại đồng và Tân Tiến. Xã có diện tích tự
nhiên là: 327,34 ha; Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 236,27 ha, chiếm tỷ lệ
72,18%; Đất phi nông nghiệp 91,07 ha, chiếm tỷ lệ 27,82%.

huyện
Vĩnh Tường

Hình 1. 1. Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

8


Luận văn thạc sĩ


Vĩnh Sơn

Hình 1. 2. Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Tường

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

9


Luận văn thạc sĩ


10


Luận văn thạc sĩ

Trước đây, vào thời kỳ nông nhàn, người dân Vĩnh Sơn thường đi bắt rắn về
làm thức ăn, ngâm rượu làm thuốc hoặc đem bán để kiếm thêm thu nhập trang trải
cuộc sống. Xã hội phát triển, với sự tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và nhu cầu bồi
bổ sức khỏe của người dân, nhiều công dụng từ loài rắn đã được phát hiện. Người
dân Vĩnh Sơn với kinh nghiệm và sự am hiểu về loài rắn được đúc rút qua nhiều
năm đã hình thành lên nghề bắt rắn để bán. Nhưng có một thực tế là cứ khai thác
rắn trong tự nhiên thì đến một lúc nào đó nguồn rắn cũng sẽ cạn kiệt. Trước thực tế
nguồn rắn trong tự nhiên ngày càng cạn kiệt mà nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ
rắn ngày càng tăng cao, người dân Vĩnh Sơn đã chuyển hướng từ săn bắt sang nuôi
nhốt và gây nuôi sinh sản để tạo nguồn rắn cung cấp cho thị trường.
Nghề rắn ở Vĩnh Sơn đã trải qua rất nhiều thăng trầm theo dòng thời gian.
Trong thời kỳ bao cấp, phong trào nuôi rắn đã bị lắng xuống cùng với khó khăn
chung của nền kinh tế, nhiều gia đình đã phải bỏ nghề nuôi rắn để chuyển sang nghề
khác. Tuy nhiên, đến năm 1979, được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành,
một số nhà khoa học như: Gs.Ts Trần Kiên, Gs. Nguyễn Tài Lương, Gs. Đái Duy
Ban, Ts. Ngô Thị Kim,... và Trung tâm Sinh lý – Hóa sinh người và động vật (nay
là Viện Công nghệ Sinh học Việt Nam), Vĩnh Sơn đã khánh thành và đưa vào hoạt
động Trung tâm nhân giống rắn (thường gọi là Trại rắn Vĩnh Sơn). Trại rắn đi vào
hoạt động là sự kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền và tiến bộ khoa học kỹ thuật,
giúp người dân trong xã nâng cao hiệu quả hoạt động chăn nuôi rắn. [3]
Thực hiện nghị quyết của Trung Ương về đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện
đại hóa nông thôn và phát triển tiểu thủ công nghiệp, Đảng Ủy, HĐND, UBND xã
Vĩnh Sơn luôn chú trọng công tác khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở, các hộ
chăn nuôi rắn có cơ hội mở rộng sản xuất.

Nhưng để rắn Vĩnh Sơn thực sự trở thành hàng hóa thì cần xây dựng một thương
hiệu mạnh cho làng rắn, để thương hiệu “rắn Vĩnh Sơn” có thể vươn ra tầm thế giới.
1.2.3. Tình hình phát triển nghề rắn tại xã Vĩnh Sơn hiện nay
Hiện nay, toàn xã Vĩnh Sơn có khoảng hơn 850 hộ chăn nuôi rắn, trong đó
có khoảng 15 hộ chăn nuôi với quy mô lớn, 100 hộ có quy mô trung bình và khoảng
735 hộ chăn nuôi rắn với quy mô nhỏ, trong đó cơ bản các hộ đều nuôi rắn sinh sản.
Tính đến tháng 5/2014, sản lượng rắn đầu vào của toàn xã ước đạt trên 42 tấn, số
trứng đưa vào ấp khoảng 300.000 quả.
Chăn nuôi rắn hiện nay đã trở thành ngành sản xuất chính của người dân địa
phương. Theo thống kê của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn, trong năm 2013, tổng

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

12


Luận văn thạc sĩ

giá trị sản xuất từ hoạt động chăn nuôi đạt 38,4 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất từ
chăn nuôi rắn ước đạt 29,4 tỷ đồng.
Hiện nay, trên toàn xã có 02 hợp tác xã và 03 công ty chuyên chăn nuôi, chế
biến và kinh doanh các sản phẩm từ rắn, có 01 nhà hàng chuyên các món ẩm thực
về rắn, 01 trại rắn trung tâm của toàn xã và đã thành lập Hội làng nghề rắn Vĩnh
Sơn.
Các sản phẩm của làng nghề bao gồm: Rắn sống, thịt rắn, rắn ngâm rượu,
nọc rắn, da rắn, cao rắn, cao rắn ngâm mật ong,... đều có giá trị về sức khỏe và kinh
tế cao, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Sản phẩm từ rắn một phần được
người dân trong xã chế biến thành rắn ngâm rượu, cao rắn, cao rắn ngâm mật ong,
một phần được bán cho các nhà hàng đặc sản, còn lại rắn sống được bán để làm rắn

cầu mở rộng sản xuất, chăn nuôi chưa có điều kiện về mặt bằng để đầu tư.
- Do nghề rắn tồn tại và phát triển từ lâu đời và tự phát do vậy khu chăn nuôi
và sản xuất các sản phẩm từ rắn chủ yếu là làm trên diện tích đất thổ cư của gia
đình. Do vậy người ở xen lẫn với rắn và các vật nuôi khác (trâu, bò, lợn, gà chim
cút,...), từ đó chất thải chăn nuôi được tiêu thoát chung với các chất thải sinh hoạt
khác, dễ gây ô nhiễm môi trường và khó quản lý được các mầm bệnh lây lan từ
trang trại của gia đình này sang trang trại của gia đình khác. Vấn đề này ảnh hưởng
lớn đến công tác xử lý và cô lập những trang trại rắn đã mắc bệnh đồng thời gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư trên toàn xã.
- Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn khá chi tiết về các
thủ tục cần thiết để xin phép thành lập trại gây nuôi, nhưng một số nội dung hướng
dẫn nặng về các tiêu chuẩn khoa học, chưa phù hợp với đại đa số trình độ của người
nông dân “chân lấm, tay bùn”.
- Các trang trại gây nuôi rất muốn các cơ quan khoa học giúp đánh dấu sản
phẩm gây nuôi để tránh những đầu nậu trà trộn giữa con rắn gây nuôi với con rắn
khai thác ngoài tự nhiên (hiện nay các biện pháp đánh dấu quá phức tạp, giá cả lại
đắt chưa phù hợp với người dân chăn nuôi).
- Các chính sách của Nhà nước chưa đề cập đến việc hỗ trợ các hộ chăn nuôi
rắn về kinh phí nhằm mở rộng sản xuất nhằm mục đích sản xuất ra nhiều con giống
đáp ứng nhu cầu của các hộ chăn nuôi rắn thương phẩm, từ đó sản xuất ra nhiều sản
phẩm cung cấp cho thị trường tiêu dùng, đồng thời góp phần hạn chế nạn khai thác
rắn bừa bãi trong tự nhiên.

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

14


Luận văn thạc sĩ

Khóa: 2013A

15


Luận văn thạc sĩ

- Từ việc được Nhà nước cho phép gây nuôi rắn nhằm mục đích thương mại
đã tạo điều kiện cho người nông dân tiếp cận với các nguồn vốn vay từ các tổ chức
tín dụng để đầu tư cho phát triển chăn nuôi rắn - nghề truyền thống của địa phương.
Trước năm 2000 người dân muốn vay vốn chăn nuôi rắn gặp rất nhiều khó khăn,
các tổ chức tín dụng không cho vay vốn vào mục đích chăn nuôi rắn. Thực chất
người dân vay vốn chăn nuôi rắn đều phải chuyển sang lí do chăn nuôi gia súc, gia
cầm,... Do vậy số vốn vay được rất ít, không đủ để đầu tư mở rộng việc nhân nuôi
nên tốc độ phát triển của làng nghề có phần chậm chạp hơn, chưa xứng với tiềm
năng của một làng nghề truyền thống. Sau năm 2000, khi được phép gây nuôi rắn
hổ mang, các tổ chức tín dụng đã đầu tư cho việc gây nuôi rắn, từ đó nhân dân có
điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất chăn nuôi, do vậy mức tăng trưởng từ nghề chăn
nuôi rắn bắt đầu tăng mạnh.
- Cũng từ việc cho phép chăn nuôi rắn đã giúp người nông dân trong xã tiếp
cận nhanh hơn với cơ chế thị trường. Và một điều quan trọng khác là toàn bộ những
người nuôi có kiến thức từ cao đến thấp đều không ngừng tự tìm tòi học hỏi các
kiến thức khoa học kỹ thuật cũng như các văn bản của Nhà nước liên quan đến
động vật hoang dã và tự học hỏi lẫn nhau để tích luỹ kinh nghiệm cho đầu tư chăn
nuôi rắn.
- Cho phép chăn nuôi rắn nhằm duy trì và phát triển nghề truyền thống đã trở
thành động lực quan trọng giúp cho các đoàn viên, hội viên của các tổ chức chính
trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Từ đó họ tin
tưởng hơn vào tổ chức và hăng say tham gia các hoạt động xã hội. Và cũng từ các
hoạt động xã hội đó đã tạo điều kiện để họ gần gũi trao đổi thông tin, gắn kết với

đi lại;
+ Cách 2: Ụ được xếp đất tảng hoặc gạch mộc, gốc cây khô. Bên cạnh đó để
chỗ cho rắn đi lại và chỗ đặt khay ăn uống cho rắn.

Hình 1. 3. Chuồng nuôi rắn con

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

17


Luận văn thạc sĩ

* Chuồng nuôi rắn to (rắn thương phẩm, rắn hậu bị và rắn sinh sản):
- Diện tích mỗi ô tùy theo điều kiện có thể xây dựng kích thước (30x40x40)
cm để nuôi 01 con rắn hoặc có thể rộng hơn với kích thước (40x60x40) cm để nuôi
01 cặp rắn sinh sản, tường xây gạch, nền lát gạch thấm nước (loại gạch đỏ lát sân).
- Nắp chuồng ở: Có thể làm nắp bê tông có cửa (15 x 20 cm), có khung cửa
cố định, có bản lề cửa và chốt khóa cửa cẩn thận hoặc có thể làm bằng gỗ, cửa lưới.

Hình 1. 4. Chuồng nuôi rắn to
1.3.2. Quy trình chăn nuôi rắn
1.3.2.1. Quy trình ấp nở trứng rắn
* Khử trùng:
Trước khi tiến hành ấp trứng cần phải khử trùng phòng ấp trứng. Có một số
phương pháp khử trùng phòng ấp trứng như sau:
- Cách 1: Có thể dùng vôi bột rắc đều lên bề mặt phòng ấp. Sau 5 đến 7 ngày
thì quét sạch vôi bột. Lúc này có thể cho nguyên liệu ấp và trứng vào để tiến hành
ấp.


1.3.2.2. Quy trình nuôi rắn giống và rắn thương phẩm
a. Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn cho rắn
* Đặc điểm dinh dưỡng:
- Rắn là động vật thuộc nhóm ăn thịt, thành phần thức ăn của rắn thích ứng
với sự có mặt và mật độ thức ăn ở ngoài thiên nhiên. Rắn hổ mang có thể ăn các
loại thịt nói chung như cóc, nhái, chuột, gà, chim, trứng,...

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

19


Luận văn thạc sĩ

- Các loại rắn nói chung có khả năng ăn nhiều trong một bữa (30-40% so với
trọng lượng cơ thể). Song, trong tự nhiên, không phải lúc nào chúng cũng kiếm
được thức ăn. Trong điều kiện nuôi nhốt, rắn có thể ăn bằng 10-15% trong lượng cơ
thể và ăn cách 2-3 ngày một lần.
- Rắn là động vật có khả năng nhịn ăn tất tốt, từ vài tháng (ngủ đông) đến lâu
hơn. Khả năng nhịn ăn của rắn gắn liền với nhu cầu nước uống và sự thay đổi nhiệt
độ không khí. Nếu cung cấp nước uống đầy đủ hoặc khi nhiệt độ không khí giảm
thấp thì khả năng nhịn ăn của rắn có thể lâu hơn.
* Chuẩn bị thức ăn:
- Thức ăn cho rắn con: Con mồi làm thức ăn cho rắn con cần phải có xương
mềm và cần được cắt nhỏ để tránh rắn bị hóc mồi.
- Thức ăn cho rắn lớn: Kích cỡ con mồi phụ thuộc vào kích cỡ của rắn sao
cho rắn có thể ăn mồi dễ dàng và không bị hóc.
- Cách chế biến thức ăn: Thức ăn được cắt thành miếng phù hợp với kích cỡ

thấp dưới 200C, rắn có hiện tượng ngủ đông. Mọi hoạt động của rắn trong thời gian
này gần như bị dừng lại. Rắn cần chỗ trú ấm áp, khô ráo, yên tĩnh để ở.
- Đối với rắn con, có thể cho rắn ngủ đông ngay tại ô chuồng nuôi bằng cách
dùng vật liệu phủ lên ụ rắn sao cho ụ rắn không bị gió lùa, không bị ướt khi mưa và
có nhiệt độ, độ ẩm ổn định. Cũng có thể chuyển rắn vào trú đông trong nhà, song
vẫn cần vật liệu ủ ấm.
- Đối với rắn to, cần chuyển rắn tập trung từ vài con tới vài chục con vào một
chuồng rộng hơn với vật liệu ủ đông, tạo cho rắn môi trường ấm hơn. Trong thời
gian này, ta tận dụng để khử trùng chuồng nuôi cho năm sau.
- Vật liệu ủ đông cho rắn có thể là lá chuối khô, rơm rạ, cỏ khô, thậm chí cả
ruột chăn bông cũ.
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

21


Luận văn thạc sĩ

1.3.3. Một số bệnh thường gặp ở rắn, cách phòng và điều trị bệnh cho rắn [1]
a. Bệnh do dinh dưỡng
Do thức ăn cho rắn trong điều kiện nuôi nhốt thường đơn điệu, vì vậy rắn
thường mắc một số bệnh do thiếu vitamin, chủ yếu là các vitamin như: Vitamin A,
vitamin nhóm B, vitamin D2,...
Sự thiếu cân đối trong thành phần dinh dưỡng cùng với chế độ nuôi không
hợp lý, vệ sinh thức ăn không tốt dễ làm phát sinh một số bệnh về đường tiêu hoá
và tuần hoàn như bệnh tắc mạch máu do lắng đọng cholesterol và a xit uric là
nguyên nhân làm chết rắn đột ngột.
b. Bệnh do nhiễm trùng
Bệnh đường tiêu hoá do vi khuẩn Salmonella rất phổ biến ở rắn và có thể lây

Các vết thương của rắn do nhiều nguyên nhân gây ra như: Săn bắt, vận
chuyển, cắn nhau,... Nguyên tắc chung khi điều trị vết thương cho rắn là phải rửa,
sát trùng vết thương bằng các dung dịch sát trùng thông thường, nhốt rắn ở nơi sạch
sẽ, khô ráo để tránh nhiễm trùng và nấm từ môi trường.
f. Bệnh ướp xác
Biểu hiện: Xác rắn không lột được, nếu để lâu rắn kém ăn, khô kiệt và chết.
Điều trị: Rắn bị ướp xác cần bắt vào túi lưới, ngâm rắn khoảng 20 – 30 phút
trong dung dịch sát khuẩn (berberin, tertracyclin,... ) với nồng độ 0,5 – 1,0 g/lít
nước sạch.

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

23


Luận văn thạc sĩ

CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI PHÁT SINH
TỪ CÁC TRANG TRẠI NUÔI RẮN TẠI XÃ VĨNH SƠN
Chăn nuôi là một trong những ngành sản xuất tạo ra lượng chất thải nhiều
nhất ra môi trường. Và chăn nuôi rắn cũng không phải là một ngoại lệ. Chất thải
chăn nuôi chứa nhiều thành phần có khả năng gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và sức khỏe của con người. Vì
vậy, việc hiểu rõ lượng phát thải, thành phần và các tính chất của chất thải chăn
nuôi nhằm có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường,
tận dụng nguồn chất thải vào mục đích kinh tế là một việc làm cần thiết và ngày
càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
2.1. Hiện trạng các loại chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi rắn

gạch mộc hoặc đất phơi khô) hoặc chuồng nuôi không sử dụng chất độn (thường sử
dụng loại chuồng nuôi làm bằng gỗ), loại thức ăn cho rắn (sử dụng cóc làm thức ăn
sẽ có nhiều bộ phận thừa hơn là sử dụng gà, vịt con hoặc rắn nước), mùa sinh
trưởng của rắn (mùa nóng là mùa sinh trưởng nên con rắn sẽ tiêu thụ thức ăn nhiều
hơn, dẫn đến lượng chất thải phát sinh vào mùa nóng cũng nhiều hơn vào mùa
lạnh). Ngoài ra, do các trang trại chăn nuôi rắn đa phần đều sử dụng một phần diện
tích đất ở của hộ gia đình, vì vậy lượng chất thải rắn thông thường phát sinh từ các
trang trại chăn nuôi rắn còn bao gồm cả chất thải rắn sinh hoạt.
Theo số liệu thống kê từ 50 phiếu điều tra tại các trang trại chăn nuôi rắn trên
địa bàn xã Vĩnh Sơn (trong đó có 03 trang trại quy mô lớn, 18 trang trại quy mô
trung bình và 29 trang trại quy mô nhỏ) thì lượng chất thải rắn thông thường phát
sinh từ mỗi trang trại trung bình như sau:
Bảng 2. 1. Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh tại các trang trại
STT

Chất thải

Lượng phát sinh trung bình (kg/trang trại.ngày)
Quy mô nhỏ

Quy mô trung bình

Quy mô lớn

1

Chất thải rắn sinh hoạt

2,64


4,97

7,26

12,03

4

Chất thải rắn thông
thường khác
Tổng

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khóa: 2013A

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status