BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
[ \
NGUYỄN THANH VÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN
PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
MỲ KẾ PHƯỜNG DĨNH KẾ - THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN DANH THÌN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, Khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban giám
hiệu trường Cao đẳng Kỹ thuật công nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Danh Thìn, Khoa
Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việ
t Nam. Người thầy đã tận tình định
hướng chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quả trình thực hiện luận văn. Qua đây tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo đã giảng dạy cung cấp kiến
thức cơ bản trong quá trình học tập.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các hộ dân các tổ dân phố Phú
Mỹ, Phú Mỹ 2, Phú Mỹ 3, phường Dĩnh Kế, thành phố
Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang đã xắp xếp thời gian, cung cấp thông tin trong luận văn này.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, xin gửi đến gia đình, bạn bè đã
luôn động viện giúp đỡ tôi để hoàn thành công trình nghiên cứu này./.
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
1.3.2 Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường ở các làng nghề 17
1.3.3 Ảnh hưởng của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng 20
1.4. CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI
VIỆT NAM 22
1.4.1. Một số văn bản pháp lý trong lĩnh v
ực quản lý vệ sinh môi
trường làng nghề. 22
1.4.2. Một số biện pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường làng nghề. 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
1.5. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA BẮC GIANG 25
1.5.1. Tình hình phát triển làng nghề truyển thống của Bắc Giang 25
1.5.2. Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh 26
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29
2.3.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn 29
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu, phân tích: 30
2.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 34
2.3.5. Phương pháp đánh giá 34
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHƯỜNG DĨNH KẾ 36
3.1.1. Vị trí đị
a lý 36
3.1.2. Địa hình 37
3.1.3. Khí hậu 37
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 7
Bảng 1.2: Số lượng các ngành nghề phân theo ngành sản xuất chính 9
Bảng 1.3: Thực trạng làng nghề truyền thống tại một số tỉnh 10
Bảng 1.4: Làng nghề vùng nông thôn phân theo địa phương 11
Bảng 1.5: Thu hút lao động và thu nhập bình quân theo vùng và theo
lĩnh vực hoạt động 13
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu không khí
30
Bảng 2.2: Phương pháp phân tích mẫu khí 31
Bảng 2.3. Vị trí lấy mẫu nước 32
Bảng 2.4: Phương pháp phân tích mẫu nước mặt 33
Bảng 2.5: Phương pháp phân tích chất lượng nước ngầm 33
Bảng 2.6: Phương pháp phân tích nước thải 34
Bảng 3.1: Thực trạng sản xuất làng nghề Mỳ Kế 44
Bảng 3.2 : Kết quả phân tích chất lượ
ng không khí xung quanh 56
Bảng 3.3: Kết quả phân tích chất lượng môi trường khu vực sản xuất 57
Bảng 3.4: Kết quả phân tích nước thải 59
Bảng 3.5: Thống kê so sánh các thông số với QCVN 40:2011 (B) 60
Bảng 3.6: Kết quả phân tích nước ngầm 61
Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 64
Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả điều tra thực trạng môi trường làng ngh
ề
Mỳ Kế 66 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
VLXD : Vật liệu xây dựng
KCN : Khu công nghiệp
DN : Doanh nghiệp
TN&MT : Tài nguyên và Môi trường
GCNQSD : Giấy chứng nhận quyền sử dụng
QLDA : Quản lý dự án
QLTT-GTXD&MT : Quản lý trật tự - giao thông xây dựng và môi trường
VSMT : Vệ sinh môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Làng nghề - là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam – đóng
vai tròng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự phát triển làng
nghề đã góp phần, nâng cao chất lượng cuộc sống,… Bên cạnh những lợi
ích về mặt kinh tế đem lại thì hoạt động c
ủa các làng nghề cũng gây ra sức ép
không nhỏ lên môi trường bởi lượng chất thải phát sinh hàng ngày gia tăng,
đa dạng về chủng loại, số lượng trong khi việc đầu tư cho xử lý chất thải ở
các cơ sở còn hạn chế, gây ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi.
Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước có 2.790 làng
nghề, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử khoả
ng 300 năm. Làng nghề phát
triển chủ yếu ở hai bên sông Hồng và khu vực lân cận, thu hút khoảng 20
triệu lao động, trong đó 30% số lao động thường xuyên còn lại là lao động
thời vụ. Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn, gìn giữ và
phát triển văn hoá truyền thống, đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị mới cho nông
trong những làng nghề lâu năm. Năm 2009, theo chủ trương của thành phố
Bắc Giang và hướng dẫn của các cấp, các ngành ở tỉnh giúp phường Dĩnh Kế
xây dựng nhãn hiệu tập thể “Mỳ K
ế” đã nhận được Giấy chứng nhận bảo hộ
của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Mỳ gạo Dĩnh
Kế. Tuy nhiên, hiện tại việc sản xuất mỳ của người dân Dĩnh Kế vẫn chủ yếu
theo phương pháp thủ công, chưa theo một quy trình thống nhất. Điều kiện
sản xuất của người dân cũ
ng chưa được đầu tư cải thiện, không gian sản xuất
chật hẹp, vật dụng làm mỳ còn tạm thời, chưa mang tính chuyên nghiệp; hiện
tượng phơi mỳ cạnh cống rãnh ô nhiễm, đường giao thông, là phổ biến,
điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
cho sản phẩm mỳ. Hơn nữa việc đầu tư cho xây dự
ng các hệ thống bảo vệ
môi trường rất ít được quan tâm, các chất thải của làng nghề được thải trực
tiếp ra môi trường không qua xử lý hoặc xử lý sơ bộ chưa đảm bảo quy định,
ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
người lao động còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường tại làng
nghề Mỳ Kế đã và đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm và giải quyết.
Từ những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề
xuất các biện pháp bảo vệ môi trường làng nghề Mỳ Kế - phường Dĩnh Kế
- thành phố Bắ
c Giang”.
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề mỳ Kế phường
Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số biện
pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững làng nghề mỳ Kế
trường quốc gia, 2008)
1.1.1.1. Làng nghề truyền thống
Theo nghị định 66/NĐ-CP củ
a chính phủ tiêu chí công nhận nghề truyền
thống gồm:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận;
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc;
- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi
của làng nghề.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
Làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống khi có đủ điều
kiện là một làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo tiêu chí trên.
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn thứ nhất và thứ hai theo tiêu
chí công nhận làng nghề tại thời điểm 2 năm nhưng có ít nhất một nghề được
công nhận theo quy định của thông tư thì cũng được công nhận là làng nghề
truyền thố
ng (Nghị định 66/NĐ- CP của chính phủ về việc phát triển ngành
nghề nông thôn, 2009)
1.1.1.2. Làng nghề mới
Làng nghề mới là làng nghề không phải là làng nghề truyền thống. Các
làng nghề này được hình thành trong thời gian gần đây, chủ yếu xuất phát từ:
- Việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh
xuất nhập khẩu;
- Việc học tập kinh nghiệm của các làng nghề lân cận, của vài hộ nhạ
y
bén đối với thị trường và có điều kiện đầu tư cho sản xuất;
- Tự hình thành do nhu cầu mới thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị
thành lên sự phát triển của hoạt động sản xuất làng nghề. Đa số các làng ngh
ề,
nhất là các làng nghề truyền thống đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm
năm, song song với quá trình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và nông
nghiệp của đất nước.
Thông qua quá trình sinh hoạt và phát triển của xã hội mà yêu cầu cần
sản xuất ra các vật dụng thiết yếu, từ đó mà nghề được hình thành và dần dần
phát triển cho tới ngày nay. Có thể nói làng nghề là một trong các đặc thù của
nông thôn Việt Nam.
Nhiều sản phẩm sản xuất tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm
trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động dư thừa
lúc nông nhàn.
Đa số các làng nghề trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song
song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất
nước, ví dụ: Làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 n
ăm phát triển,
làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã có gần 500 năm tồn tại, làng nghề trạm
bạc Đồng Xâm (Thái Bình) đã hình thành cách đây hơn 400 năm…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Trước đây, làng nghề sản xuất ra các vật dụng để phục vụ nhu cầu sản
xuất, sinh hoạt của con người trong vùng. Những năm gần đây, trong cơ chế
thị trường làng nghề đang thay đổi nhanh chóng. Hoạt động của làng nghề
hiện nay không chỉ phục vụ cho nhu cầu của con người trong và ngoài vùng
mà còn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và phát triển hoạt động du lị
ch.
Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế của đất nước, nhu cầu tiêu thụ sản
phẩm của thị trường trong và ngoài nước thay đổi do đó mà những làng nghề
phù hợp với thị trường có xu thế phát triển mạnh, còn những làng nghề không
(Nguồn: Đề tài KC 08-09,2008)
Ghi chú: -1: suy thoái; 0: duy trì, không phát triển;
1: phát triển vừa; 2: phát triển mạnh
Quá trình phát triển làng nghề được phân làm 3 giai đoạn trong 50 năm
gần đây, gồm:
Giai đoạn 1954-1978:
Hàng hóa chủ chủ yếu là thủ công, mỹ nghệ …xuất khẩu đi các nước
trong khối xã hội chủ nghĩa. Hàng hóa phụ thuộc vào chủng loại, số lượng và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối chính sách của nhà nước theo
kế hoạch hóa tập trung.
Giai đoạn 1978-1985:
Đây là giai đoạn khó khăn, các nước xã hội chủ nghĩa và Việt Nam rơi
vào thời kỳ khủng hoảng về chính trị và kinh tế. Các hộ nông dân và tiểu thủ
công nghiệp gặp khó khăn làm cho các làng nghề phải thu hẹp sản xuất và
nhiều làng nghề đã bị mai một và suy thoái d
ần.
Giai đoạn 1986-1992:
Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi cơ chế bao cấp sang cơ
chế thị trường. Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và
phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ thuật
được tăng cường. Ở nhiều địa phương phát triển làng nghề đã thu hút và giả
i
quyết được việc làm cho nhiều lao động, đồng thời tăng nhanh sản phẩm phục
vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Giai đoạn 1993 đến nay:
Nhiều nghành nghề và làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển.
Cũng trong giai đoạn này, trước nhu cầu của thị trường và giải quyết việc làm
Nam Trung Bộ 6 12 9 38 5 17 87
Tây Bắc 63 1 - 11 1
•
76
Tây nguyên 1 -
•
2 -
•
3
Đông Nam Bộ 8 9 2 20 4 8 51
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)
Làng nghề có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế,
xã hội. Ở Việt Nam, nông nghiệp đang là nguồn sinh kế của hơn 60% dân số
cả nước, với 44% số hộ nông thôn thuộc diện khó khăn vì thu nhập thấp. Làng
nghề tạo ra một số khối lượng công việc lớn thu hút người nông dân tham gia
để tăng thêm thu nhập cho gia đình, giúp cuộc sống ổn định hơn. Bên cạnh
đó, làng ngh
ề đã thu hút lao động thời kỳ nông nhàn, giảm áp lực cho các đô
thị về giao thông và tệ nạn xã hội.
Làng nghề thu hút vốn khu vực nông thôn, tận dụng thời gian hoạt động
của vốn để sản xuất kinh doanh. Các hộ gia đình trong làng nghề thường sử
dụng đất đai rộng rãi vốn có để sản xuất, giảm chi phí thuê đất trong kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
doanh. Vì nâng cao hiệu quả sử dụng đất nên đời sống vật chất và văn hóa ở
nông thôn ngày một tăng lên.
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, làng nghề là một hình thức sản xuất sôi nổi, đắc lực trong việc
42.758 6.524
Chạm khảm, mây tre
đan, tái chế kim loại…
2 Nam Định 40
29
(72,5%)
53.344 28.956
Dệt, may mặc, mây tre
đan, tái chế kim loại…
3 Hưng Yên 39
37
(94,9%)
11.558 5.079
Mây tre đan, sản xuất
vật liệu xây dựng…
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Làng nghề phát triển rất phong phú, đa dạng và tồn tại với quy mô gia
đình là chính, có tính chất liên kết các hộ. Các làng nghề sản xuất phổ biến là
hàng mỹ nghệ, mây tre đan, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng.
Làng nghề có số lao động vài nghìn người, phát triển sau thời kỳ đổi mới vì vậy
lao động chỉ có thâm niên dưới 10 năm, có 4% thâm niên trên 30 năm.
Lịch sử phát triển nền vă
n hóa Việt Nam luôn gắn với sự phát triển của
các làng nghề. Các hình vẽ trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ diễn đạt phong
cảnh sinh hoạt của con người ,cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống.
1.2. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ
Theo kết quả tổng điều tra nông thôn năm 2010 nước ta có hơn 2000
- Kết quả phân loại hoạt động sản xuất của làng nghề cho thấy, làng
nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren chiếm 41,23 %, làng nghề chế biến lương
thực, thực phẩm chiếm 13,99%, ươm tơ dệt vải và đồ da chiếm 12,86%.
Cơ cấu loại ngành làng nghề của cả nước
- Hoạt động làng nghề đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,
xã hội nông thôn đặc biệt là trong việc t
ạo công ăn việc làm lúc nông nhàn.
Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp và phải cạnh tranh khốc liệt với
ngành công nghiệp, đô thị hoá, do vậy việc tạo công ăn việc làm cho nông
thôn được đánh giá rất quan trọng. Vùng Đồng bằng sông Hồng vốn là vùng
có mật độ dân số đông, lao động thường xuyên của vùng chiếm tới 74,77%
của cả nước, tạo công ăn việc làm cho 647 ngàn người có việc làm ổn định,
kế
t quả này cho thấy hoạt động sản xuất làng nghề vùng Đồng bằng sông
Hồng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm.
- Theo lĩnh vực hoạt động, hoạt động thủ công mỹ nghệ, thêu ren là loại
hoạt động làng nghề thu hút nhiều hộ vào lao động tham gia nhất trên 104
ngàn hộ (chiếm 42% tổng số hộ) và 331,9 ngàn lao động chiếm 48,8% tổng số
lao động. Kết quả này cho hoạt động thủ
công, mỹ nghệ và thêu ren có vai trò
quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn. Qua
khảo sát thực tế tại Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội cho
thấy nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren hoạt động theo hình thức tận dụng thời
gian nông nhàn nên thu hút được nhiều đối tượng tham gia.
- Về thu nhập, thu nhập bình quân khoảng 33,4 nghìn đồng/tháng/lao
động. Vùng Đông Nam Bộ mặc dù có ít hộ và lao động tham gia nhưng thu
nhập bình quân lao động từ hoạt động s
ản xuất làng nghề cao nhất với 743
nghìn/tháng/lao động. Thu nhập theo các lĩnh vực, mặc dù hoạt động thủ công
6 Tây Nguyên 292 0.13 474 0.07 325.0
7 Đông Nam Bộ 4,581.0 2.04 33,081.0 5.11 743.0
8 ĐBSông Cửu Long 4,530 2.02 11,092.0 1.71 106.0
II
Phân theo linh vực
224,499.0 100.0 647,132.0 100.0 354.7
1 Ươm tơ, dệt vải 4,530.0 2.0 11,092.0 1.7 152.0
2 Dệt nhuộm 26,682.0 11.9 77,440.0 12.0 335.0
3 Chế biến lương thực 56,842.0 25.3 147,341.0 22.8 328.0
4 Tái phế liệu 13,162.0 5.9 48,416.0 7.5 400.0
5 Thủ công mỹ nghệ 104,312.0 46.5 313,937.0 51.3 360.0
6 Vật liệu xây dựng 804.0 0.4 3,578.0 0.6 313.0
7 Nghề khác 18,167.0 8.1 27,298.0 4.2 595.0
(Nguồn: Tổng điều tra nông thôn,2011) Hình 1.1: Lao động bình quân trên làng nghề
(Nguồn: Đề tài KC 08-09,2008)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
- Kết quả trên biểu đồ cho thấy mặc dù có số lượng làng nghề lớn
nhưng Thái Bình và Hà Nội không phải là vùng có số lao động bình quân làng
nghề cao. Cụ thể, trung bình làng nghề tại Hà Nội có dưới 650 lao động. Thái
Bình có dưới 600 lao động trong khi tại Bắc Ninh có gần 1200 lao động, Ninh
Bình có gần 1000 lao động, Nam Định có trên 800 lao động/làng.
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
1.3.1. Các nhân tố tác động đến môi trường làng nghề
a. Quy mô sản xu
ất
năm 1950 vẫn còn tồn tại đế
n ngày nay (Lê Huy Bá, 2005).
Công nghệ sản xuất nêu trên không chỉ làm hạn chế năng suất chất lượng
sản phẩm của các cơ sở ngành nghề mà còn trực tiếp gây ra các hệ quả xấu về
môi trường. Hiệu suất sử dụng nhiên liệu không cao, trung bình khoảng 60%
(50% đối với ngành nghề chế biến NSTP, 60% đối với ngành tái chế chất thải,
80% đối với ngành dệt nhuộm và may mặc, 90% đối với ngành thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu). Các loại vật liệu không được tận dụng, điển hình là ở các
làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, bã thải rắn sau sản xuất vẫn chứa
một lượng lớn tinh bột, vừa gây lãng phí vật liệu, vừa gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng do thải ra một lượng lớn các chất hữu cơ (Cục kiểm soát ô
nhiễm, 12/2010).
c. Vốn
đầu tư
Một mặt, do sản xuất tự phát nên không có kế hoạch lâu dài khó khăn
trong việc huy động tài chính và vốn đầu tư từ các nguồn lớn (Quỹ tín dụng,
Ngân hàng.Mặt khác, tình trạng thiếu vốn đầu tư vẫn còn tồn tại khá phổ
biến.Số hộ thiếu vốn hoặc có nhu cầu vay vốn ở nhiều xã nghề, làng nghề
chiếm tới 60-70%.Tuy nhiên, khả năng, nhu cầu và đi
ều kiện về tài chính, vốn
đầu tư của các hộ là rất khác nhau giữa các loại hình ngành nghề giữa các xã
nghề, làng nghề.Ở các làng nghề phát triển nhu cầu vốn đầu tư cho sản xuất
kinh doanh của các hộ ngành nghề kiêm nông nghiệp thường khoảng 25-30
triệu đồng.Còn ở các làng nghề làm đồ mây tre, đan lát, chế biến nhỏ thực
phẩm, thêu ren, dệt chiếu cói…nhu cầu về vốn đầu tư là 5 triệ
u đồng/hộ. Do
vậy, không chủ động sản xuất và đầu ra sản phẩm nên khó thay đổi công nghệ
mới và đặc biệt là không muốn và không thể đầu tư cho bảo vệ môi trường
(Lê Huy Bá, 2005).
quản lý chuyên môn của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất,
trang thiết bị còn thiếu, sự phối hợp và trao đổi thông tin không kịp thời, công
tác thanh tra kiểm tra chưa triệt để, do vậy hiệu quả thực thi công tác quản lý
chưa cao (Lê Huy Bá, 2005).