C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN Trịnh Thị Phượng ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA LUÂ
̣
N VĂN THA
̣ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 3
1.2. Các khái niệm về ô nhiễm môi trường nước 6
1.2. 1. Khái niệm về ô nhiễm môi trƣờng nƣớc 6
1.2. 2. Nguồn gốc về ô nhiễm nƣớc 7
1.2. 3. Các thông số cơ bản đánh giá chất lƣợng nƣớc 7
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội lưu vực sông Ba 8
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.3.1.1. Vị trí địa lí 8
1.3.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo 8
1.3.1.3. Đặc điểm địa chất thổ nhƣỡng 11
1.3.1.4. Đặc điểm sinh vật 12
1.3.1.5. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 13
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 20
1.3.2.1. Dân cƣ và phân bố 20
1.3.2.2. Đặc điểm kinh tế 22
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 32
2.2. Nội dung nghiên cứu 32
2.3. Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu 32
2.3.2 Phƣơng pháp điều tra, khảo sát ngoài thực địa 33
2.3.3. Phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng nƣớc dựa vào chỉ số chất lƣợng nƣớc
(WQI) 36
2.3.4. Phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng nƣớc dựa vào quy chuẩn Việt Nam
QCVN 08:2008/ BTNMT 40
2.3.5. Phƣơng pháp thống kê 41
2.3.6. Phƣơng pháp sử dụng hệ thông tin địa lí 41
2.3.7. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp 41
Chƣơng 3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG MÔI TRƢỜNG NƢỚC LƢU VỰC
SÔNG BA – NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42
3.4.2.1. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn 76
3.4.2.2. Thu gom và xử lí nƣớc thải 79
3.4.2.3. Xây dựng hệ thống trạm quan trắc 79
KẾT LUẬN 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
BOD
5
: Lượng oxy sinh hóa cần thiết để vi khuẩn sử dụng sau 5 ngày lấy mẫu
CLN : Chất lượng nước
COD : Lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước
CN : Công nghiệp
DS : Hàm lượng chất rắn hòa tan
DO : Lượng oxy từ trong không khí có thể hòa tan vào nước
LVS : Lưu vực sông
NMTĐ : Nhà máy thủy điện
NN : Nông nghiệp
KT – XH : Kinh tế xã hội
TSS : Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng
SS : Hàm lượng chất rắn lơ lửng
WQI : Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index)
i
và q
i
đối với thông số pH 39
Bảng 2.5: Bảng so sánh giá trị WQI 40
Bảng 3.1: Kết quả tính toán WQI cho LVS Ba năm 2011 54
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí địa lý LVS Ba 9
Hình 1.2: Bản đồ địa hình LVS Ba 10
Hình 2.1: Vị trí lấy mẫu nước 35
Hình 2.2: Một số hình ảnh đo đạc, khảo sát tại LVS Ba 36
Hình 3.1: Biến đổi độ pH trong nước sông theo chiều dòng chính sông Ba 43
Hình 3.2: Biến đổi chất rắn lơ lửng trong nước sông theo chiều dòng chính sông
Ba 44
Hình 3.3: Biến đổi độ đục trong nước sông theo chiều dòng chính sông Ba. 45
Hình 3.4: Biến đổi DO trong nước sông theo chiều dòng chính sông Ba 46
Hình 3.5: Biến đổi BOD
5
trong nước sông theo chiều dòng chính sông Ba 46
Hình 3.6: Biến đổi COD trong nước sông theo chiều dòng chính sông Ba 47
Hình 3.7: Biến đổi hàm lượng N - NH
4
+
trong nước sông theo chiều dòng chính
sông Ba 48
Hình 3.8: Biến đổi hàm lượng N - NO
3
-
trong nước sông theo chiều dòng chính
sông Ba. 48
Hình 3.22: Cống xả nước thải của Nhà máy Đường An Khê. 62
Hình 3.23: Sông Ba đoạn qua thị xã An Khê, Gia Lai vào mùa kiệt 72
1
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường và quản lí tổng hợp lưu vực sông mới được quan tâm từ vài chục năm trở lại
đây. Việc hình thành các tổ chức lưu vực sông được coi như là một hình thức hữu
hiệu để quy hoạch trị thủy các dòng sông, bảo vệ môi trường phát triển kinh tế, xã
hội. Trong một số năm gần đây, ở nước ta có nhiều đề án nghiên cứu và bảo vệ môi
trường được tiến hành ở các lưu vực sông lớn ở Bắc Bộ và Nam Bộ, còn ở miền
Trung các công trình nghiên cứu về tài nguyên – môi trường theo lưu vực sông còn
ít, tản mạn, chưa cung cấp được luận cứ khoa học cho việc quản lí thống nhất, tổng
hợp tài nguyên – môi trường theo lưu vực sông.
Sông Ba là con sông lớn nhất miền Trung, chảy qua 4 tỉnh Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk và Phú Yên với diện tích lưu vực 13.900 km
2
. Hiện nay lưu vực sông
Ba đang chịu áp lực mạnh mẽ của sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, các hoạt
động phát triển kinh tế, xã hội. Trong xu thế phát triển kinh tế, xã hội, dưới tác động
của các hoạt động con người và các yếu tố tự nhiên, tình hình diễn biến môi trường
của lưu vực sông đã nảy sinh hàng loạt các vấn đề môi trường, đặc biệt là ô nhiễm
nguồn nước. Trên lưu vực sông có hàng trăm các nhà máy, khu công nghiệp và khu
dân cư xả nước thải không qua xử lý trực tiếp xuống các dòng sông và ven biển đã
làm cho chất lượng môi trường nước ngày càng suy giảm.
Trước những vấn đề về suy thoái tài nguyên và môi trường trên lưu vực sông
Ba, trong những năm qua một số chương trình, đề tài, đề án cấp Nhà nước đã được
triển khai. Kết quả của các chương trình, đề tài, đề án đã góp phần không nhỏ cho 3
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên và môi trường theo LVS hiện nay đang
được quan tâm rất nhiều cả trên thế giới và Việt Nam. Tại Hội nghị Quốc tế về nước
và môi trường (Dublin, 1992) vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên nước và môi
trường là vấn đề trọng tâm được thảo luận. Trong chương trình hành động 21
(Agenda 21) đã giành quan tâm đặc biệt đến quản lí tổng hợp tài nguyên nước và
môi trường nước LVS như ở Australia, Hoa kì, Đức, Đan Mạch, Pháp, Nhật Ở các
nước phát triển, chính phủ và các cơ quan, đặc biệt là cơ quan kiểm soát ô nhiễm và
cơ quan quản lí nước, NN và lâm nghiệp đã coi LVS như những đơn vị tự nhiên của
việc quản lí đất và nước. Việc đánh giá, dự báo và kiểm soát chất lượng môi trường
theo LVS đã trở thành qui trình, qui phạm trong quản lí LVS bao gồm: các biện
pháp giảm thiểu chất thải bằng việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch và kiểm toán
chất thải, thu gom tái sử dụng các chất thải, xử lí một phần và toàn bộ các chất thải,
nước thải trước khi đổ vào sông, quy hoạch khai thác hợp lí nguồn nước phục vụ
phát triển KT – XH của LVS, quan trắc lượng và chất lượng môi trường, cảnh báo
sự khuếch tán chất độc hại trong sông và dự báo sinh thái – chất lượng trên toàn LVS.
Ở Việt Nam, vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường và quản lí LVS cũng được quan tâm từ vài chục năm trở lại đây. Việc hình
thành các tổ chức lưu vực được coi như là phương tiện hữu hiệu để quy hoạch trị
thủy dòng sông, bảo vệ môi trường và phát triển KT – XH. Trong những năm qua
có nhiều chương trình, đề tài, đề án của Nhà nước đã được triển khai:
1. Đề án cấp nhà nước: “Xây dựng đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực
sông Hương” thuộc chương trình Nhiệm vụ quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường.
(2010) do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư, Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ
môi trường thực hiện. Báo cáo đã đưa ra hiện trạng, nguyên nhân, dự báo ô nhiễm
ba lưu vực sông lớn nhất Việt Nam. Từ đó đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường
nước của 3 lưu vực và đưa ra những biện pháp quản lí, các giải pháp thích hợp để
bảo vệ môi trường lưu vực.
5
Trên lưu vực sông Ba có các công trình nghiên cứu sau:
7. Đề tài KC.08.30/06-10: “Nghiên cứu xây dựng công nghệ điều hành hệ
thống liên hồ chứa đảm bảo ngăn lũ, chậm lũ, an toàn vận hành hồ chứa và sử dụng
hợp lí tài nguyên nước về mùa kiệt lưu vực sông Ba” (2010) Do PGS. TS. Nguyễn
Hữu Khải chủ nhiệm. Đề tài đã góp phần thu thập và xử lý một nguồn số liệu phong
phú về địa hình, khí tượng thủy văn, hồ chứa, KT - XH trên LVS Ba làm đầu vào
cho bài toán vận hành liên hồ; áp dụng nhiều công cụ thống kê và mô hình toán hiện
đại để xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa;
sử dụng mô hình HEC-RESSIM để phân tích và đưa ra các quy tắc xả lũ bảo đảm
an toàn hồ chứa, cắt lũ hợp lý để giảm lũ cho hạ lưu, làm cơ sở cho quy trình vận
hành liên hồ chứa mùa lũ…
8. Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo
vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn” (2005) do PGS.TSKH Nguyễn Văn
Cư, Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì. Từ việc xác định
các nguyên nhân chính và dự báo khả năng suy thoái tài nguyên và môi trường, đề
tài đã xây dựng giải pháp tổng thể quản lý tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường cho hai lưu vực sông.
Các nhà khoa học cũng đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên,
tài nguyên thiên nhiên môi trường kinh tế - xã hội của LVS Ba và sông Côn, nhằm
giúp cho các nhà khoa học và quản lý tài nguyên môi trường nắm bắt thông tin
nhanh chóng và đồng bộ trên toàn lưu vực, làm cơ sở cho công tác quản lý và quy
hoạch phát triển KT - XH bền vững.
9. Đề tài độc lập cấp nhà nước: “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải
pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả lũ lụt đối với lưu vực sông Ba”(2003) do
về nước, định nghĩa về ô nhiễm nước: “Là sự biến đổi nói chung do con người đối
với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho
công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, đối với hoạt động vật nuôi và
các loài hoang dại”.[11]
7
1.2.2. Nguồn gốc ô nhiễm nước.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo. Nguồn gốc tự nhiên của ô
nhiễm nước là do mưa, tuyết tan, gió, bão lụt. Các tác nhân trên đưa vào môi trường
nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại, kể cả xác chết của chúng.
Nguồn gốc nhân tạo là sự thải chất độc hại như các chất thải sinh hoạt, CN, NN,
giao thông vào môi trường nước. [11]
1.2.3. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
Để đánh giá CLN cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa vào một
số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn của từng chỉ tiêu đó theo Luật môi trường
của một quốc gia hoặc tiêu chuẩn Quốc tế qui định cho từng loại nước sử dụng cho
các mục đích khác nhau. Kết hợp các yêu cầu về CLN và các chất gây ô nhiễm có
thể đưa ra một số chỉ tiêu phù hợp. Theo tài liệu [3] đã đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản
để đánh giá CLN:
a. Các chỉ tiêu vật lý bao gồm: nhiệt độ, màu sắc, độ đục, tổng hàm lượng
chất rắn (TS -Total Solids), chất rắn lơ lửng (SS- Suspended Solids), chất rắn hòa
tan (DS - Dissolved Solids).
b. Các chỉ tiêu hóa học bao gồm: độ pH, độ cứng, hàm lượng oxy hòa tan
(DO: Dissolved Oxygen, đơn vị đo mg/l), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD -
Biochemical Oxygen Demand), nhu cầu oxy hóa học (COD - Chemical Oxygen
Demand).
Một số chỉ tiêu hóa học khác trong nước: sắt; mangan; phốt pho; nitơ (tồn
tại các dạng: amoni; nitrit, nitrat); kim loại nặng (Pb, Cu, Ni, Cd, Hg, Sn, Cr );
hàm lượng chất dầu mỡ.
c. Chỉ tiêu vi sinh của nước: thường dùng coliform tổng (total coliforms) để
tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và một tỉnh duyên hải Nam Trung
Bộ là Phú Yên.
1.3.1.2. Đặc điểm địa hình địa mạo
LVS Ba với đại bộ phận diện tích nằm ở phía đông nam dãy Trường Sơn,
nhưng ảnh hưởng của dãy đến khu vực này đã yếu dần và thay thế bằng phông
chung của nền cấu trúc khối tảng cao nguyên.
Phần thượng lưu của LVS, chủ yếu là các nhánh núi bị chia cắt mạnh bởi các
dòng chảy thường xuyên và tạm thời với hướng địa hình chính kéo dài theo hướng á
kinh tuyến. Chiều dài phần trung lưu của LVS rất ngắn và có xu hướng như là thực
thể địa hình đồi núi trung bình, thấp, phân cắt với phần hạ lưu dưới dạng chuyển
tiếp các bậc địa hình. Điều này làm cho các dòng sông gần như không có phần trung
lưu, nước từ thượng lưu đổ thẳng xuống vùng đồng bằng ven biển.
9
Hình 1.1. Sơ đồ vị trí địa lý LVS Ba
10
Trên bề mặt đồng bằng này được cấu thành bởi những gò đồi sót của các bề
mặt địa hình cổ hơn bị bóc mòn, cùng với những bậc thềm, bãi bồi, đụn cát, cồn cát
nguồn gốc biển, gió biển, sông – biển và sông.
Hình 1.2. Bản đồ địa hình LVS Ba
Ngoài ra do nhánh núi đâm ngang ra biển, đặc biệt ở phía tây, tây nam lưu
vực nên dòng sông bị đổi hướng khá nhanh, từ chảy gần như hướng á vĩ tuyến quay
sang gần á kinh tuyến tại đoạn sông đi qua Ea Ba đến cửa Đà Rằng.[8, 26]
11
Độ cao địa hình LVS Ba được thể hiện hình 1.2, có hai khu vực thuộc tỉnh
Kon Tum, Đắk Lắk có độ cao trên 1600m chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Trên bản đồ địa hình
chua, nghèo dinh dưỡng, cấu trúc kém bền vững dễ bị xói mòn rửa trôi, độ trữ ẩm
kém.
1.3.1.4. Đặc điểm sinh vật
a. Đặc điểm thảm phủ thực vật
LVS Ba có thảm thực vật phong phú, tuy rằng hiện nay bị suy giảm nhiều do
khai thác thiếu hợp lí. Các kết quả nghiên cứu và thống kê cho thấy, hệ thực vật
LVS Ba có ít nhất là 2000 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 939 chi thuộc
204 họ thực vật thuộc 6 ngành thực vật bậc cao.
Theo thống kê thì trong vùng nghiên cứu có 204 họ của các loài thực vật
trong đó các họ có số loài nhiều nhất như: họ thầu dầu, họ đậu, họ cà phê, họ cỏ, họ
cúc, họ na, họ trúc đào… ; có 10 chi thực vật có nhiều loài nhất trong hệ thực vật
như: chi Ficus thuộc họ Moraceae số loài là 25, chi Symplocos thuộc họ
Symplocaeae số loài là 17…
Thành phần dạng sống của hệ thực vật LVS Ba khá đa dạng. Phân tích dạng
sống của 2000 loài thực vật đã được ghi nhận tại vùng nghiên cứu cho thấy kết quả
như sau: dạng sống phổ biến nhất là các cây thân thảo (573 loài) cây thân gỗ nhỏ
(363 loài), tiếp đó là cây gỗ trung bình (206 loài), cây bụi (351) và cây dây leo
(219), …tiếp sau là các thân sống khác. [8]
b. Đặc điểm động vật
* Động vật trên cạn: mang đậm tính chất đặc điểm động vật Tây Nguyên nên
khá đa dạng và phong phú về thành phần loài. Quần thể động vật sông Ba có đầy đủ
các loài như nai, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, cầy, vượn, chim Trong các loài động
vật, có một số loài đặc hữu cho Việt Nam và Đông Dương như hổ, vượn má hung,
voọc vá và mang lớn, ngoài ra còn có một số loài được ghi trong sách đỏ của Việt
Nam và thế giới. Theo thống kê, hiện nay trên lưu vực có khoảng: 28 bộ, 90 họ, 378
loài và 66 loài quí hiếm.
13
* Đặc điểm động vật dưới nước: Các loại hình thuỷ vực nội địa ở vùng LVS
Ba rất phong phú và đa dạng. Các loại hình thuỷ vực cũng là các kiểu hệ sinh thái
18,7-29,0
0
C, chênh lệch giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất lên đến 10
0
C. Trong khi
đó biên độ dao động nhiệt độ không khí ngày đêm là đáng kể, đặc biệt vào mùa khô
đạt tới 10
0
C. Các tháng nóng nhất thường là các tháng 4, 5, 6 các tháng lạnh nhất
thường là tháng 12 và 1.
* Số giờ nắng trung bình năm trên LVS Ba dao động trong phạm vi 2.200 –
2.500 giờ. Nắng trên LVS Ba vào loại phong phú nhất ở nước ta, chỉ sau các tỉnh
cực Nam Trung bộ.
* Độ ẩm không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng
mưa. Các tháng mùa khô độ ẩm không khí nằm trong khoảng 70 - 80%, độ ẩm
không khí thấp nhất có thể xuống tới mức 20 - 25%, trong trường hợp cực đoan độ
ẩm đạt > 15%. Thời kỳ từ tháng 10 - 12 và thời kỳ từ tháng 1 đến 4, do hoạt động
của các hình thái thời tiết gây mưa như bão, áp thấp nhiệt đới hoặc gió mùa Đông
Bắc nên độ ẩm tăng lên rõ rệt, có thể đạt tới 90%.
* Bốc hơi: Có sự biến đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu trên LVS Ba nên
lượng bốc hơi cũng khác nhau, theo số liệu đo đạc thời kì 1978 – 2007 lượng bốc
hơi Piche trung bình năm tại An Khê đạt 1.313 mm, tại Cheo Reo đạt 1.440 mm tại
Sơn Hòa đạt 1.450 mm. Thời kì bốc hơi lớn nhất trong năm từ tháng 4 đến tháng 7,
lượng bốc hơi đạt 150 – 160 mm/ tháng. Thời kì bốc hơi nhỏ nhất thường từ tháng
10 đến tháng 12, lượng bốc hơi đạt 65 – 70 mm/ tháng.
* Chế độ mưa
LVS Ba có vị trí đặc biệt nằm ở cả hai sườn đông và tây của dãy Trường Sơn
nên lưu vực chịu tác động của chế độ mưa mùa hè, mưa mùa thu - đông và từ hè
sang đông. Lượng mưa tháng trong năm phân hoá khá phức tạp, biến đổi rất lớn
theo không gian - thời gian, phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố địa hình và hoàn lưu khí quyển.
vùng đồng bằng, ở vùng thượng lưu tốc độ gió lớn nhất thấp hơn so với vùng đồng
bằng, còn ở vùng trung lưu tốc độ thấp hơn so với hai vùng trên.
16
b. Đặc điểm thủy văn
* Mạng lưới sông suối
LVS Ba có thượng và hạ lưu hẹp, giữa phình ra với độ rộng bình quân lưu
vực 48,6 km, nơi rộng nhất 85 km, dòng chính sông Ba bắt nguồn từ đỉnh núi cao
Ngọc Rô ở độ cao 1.549 m của dải Trường Sơn. Từ thượng nguồn đến An Khê chảy
theo hướng tây bắc – đông nam sau đó chuyển hướng bắc – nam, đến cửa sông Hinh
chảy theo hướng gần như tây – đông rồi đổ ra biển Đông tại Tuy Hòa.
Tính từ thượng nguồn đến cửa ra (sông Đà Rằng), sông Ba có diện tích lưu
vực 13.900 km
2
, với chiều dài nhánh sông chính là 374 km, mật độ lưới sông 0,22
km/km
2
. Sông Ba thuộc loại sông kém phát triển so với các sông khác vùng lân cận,
sông Ba gồm có: 36 sông nhánh cấp 1, 54 nhánh cấp 2, 14 nhánh cấp 3 và 1 nhánh
cấp 4. Trong đó có 3 sông nhánh cấp 1 ở bờ phải đáng chú ý là:
- Sông Ayun: Bắt nguồn từ đỉnh núi Krong Hơ Dung ở độ cao 1.220m, chảy
theo hướng Bắc Nam, sau chuyển hướng tây bắc – đông nam rồi nhập với dòng
chính sông Ba tại vị trí cách thị trấn Cheo Reo khoảng 1 km về phía Bắc, sông có
diện tích lưu vực 2.950 km
2
, độ dài sông 175 km.
- Sông Krong H'Năng: Bắt nguồn từ đỉnh núi Chư Tung ở độ cao 1.215 m,
hướng dòng chảy tương đối phức tạp song chủ yếu là bắc - nam và tây bắc – đông
nam rồi nhập với sông chính tại ranh giới Gia Lai và Phú Yên, sông có diện tích lưu
vực là 1.840 km
- Phân phối dòng chảy trong năm: dòng chảy năm biến đổi mạnh theo các
khu vực:
+ Khu tây Trường Sơn: Có sự khác nhau trong sự phân phối dòng chảy ở
phần bắc và nam của khu vực. Khu phía bắc mùa lũ kéo dài 5 tháng, từ tháng 7 cho
đến tháng 11, thành phần dòng chảy chiếm 70 – 75% lượng nước của cả năm, mùa
kiệt kéo dài 7 tháng từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, thành phần dòng chảy mùa
kiệt chiếm 25-30% lượng nước cả năm, các nhánh suối nhỏ mùa kiệt hầu như không
có nước. Khu phía nam: Mùa lũ hàng năm khoảng 5 tháng từ tháng 8 đến tháng 12,
thành phần dòng chảy mùa lũ đạt 65 – 70% lượng nước cả năm; mùa kiệt kéo dài 7
tháng thừ tháng 1 đến tháng 7, thành phần dòng chảy chiếm 30 – 35% lượng nước
cả năm.
+ Khu vực đông Trường Sơn, mùa mưa ở đây muộn và ngắn từ 3 đến 4 tháng
từ tháng 9 đến tháng 12. Mùa lũ ngắn chỉ 3 tháng, từ tháng 10 đến tháng 12, lượng
nước lũ chiếm 65 – 75% lượng nước cả năm. Mùa kiệt kéo dài 9 tháng từ tháng 1
đến tháng 9, lượng nước mùa kiệt 25 – 35% lượng nước cả năm. Trên biến trình