Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương. Nó không chỉ có chức
năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Đó là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp
xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ rất cao.
Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo và thống
nhất ở ba đặc điểm cơ bản là tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa.
Tính hình tượng là dặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.
Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần có chức năng nhận thức mà điều quan trọng là nó có chức năng
thẩm mĩ: phản ánh cái đẹp và khơi dậy cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc bằng những hình tượng
văn học giàu khả năng gợi tả và gợi cảm.
Tả cảnh mùa thu, thi hào Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ trác tuyệt :
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.
Mùa thu trọng thơ Nguyễn Khuyên tuy không lộng lẫy nhưng lại mang đậm sắc thái của mùa thu đồng
bằng Bắc Bộ:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thừa để mặc bóng trăng vào.
Nét đẹp của mùa thu hiện lên qua những hình ảnh tiêu biểu: bầu trời xanh ngắt, làn nước biếc của ao hồ
thấp thoáng dưới màn sương như khói phủ; ánh trăng bàng bạc rọi qua song thưa, gợi lên khung cảnh
quen thuộc của một làng quê êm đềm, tĩnh lặng.
Cũng vẫn là cảnh sắc quen thuộc của mùa thu nhưng trong thơ Xuân Diệu, bức tranh thu lại được vẽ bằng
những hình tượng mới mẻ vô cùng hấp dẫn:
Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền.
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.
Hình tượng trong văn chương thường chứa đựng nhiều ý nghĩa. Ví dụ: Để bày tỏ quan niệm sống trong
sạch, thanh cao của người lao động xưa kia, các tác giả dân gian đã mượn hình ảnh bông sen:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
phần rất lớn vào việc thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người xưa :
Thuyền ơi có nhớ bến chăng ?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Có quán tình phụ cây đa,
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn.
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Nguyễn Du tả cảnh Thúy Kiều, Kim Trọng gặp gỡ, thề nguyền trong đêm trăng tuyệt đẹp:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Vằng vặc vầng trăng mà cũng là vằng vặc tình yêu trong trái tim non trẻ của đôi trai tài, gái sắc.
Còn đây là vầng trăng chia li, khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.
Dự cảm về sự chia lìa vĩnh viễn nằm ngay trong hình ảnh vầng trăng u buồn đó.
Chúng ta hãy đọc lại đoạn cuối trong truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn để tìm ra ý nghĩa của ẩn dụ con
đường:
Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất;
kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.
Trên mặt đất vốn dĩ không có đường. Đường là do con người giẫm nát cỏ ở chỗ chưa có đường mà tạo ra,
là khai phá chỗ gai góc mà thành. Trong cuộc sống, bất kể là phải trải qua bao nhiêu gian nan, thử thách,
chúng ta cần kiên định, bền gan vững chí để mở đường đi tới tương lai tươi sáng. Đó là thông điệp tâm
huyết mà Lỗ Tấn muốn gửi đến bạn đọc.
Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã lấy hình ảnh rừng xà nu tràn đầy sức sống làm ẩn dụ nghệ thuật để
khẳng định truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân làng Xô-man nói riêng và các dân tộc Tây
Nguyên nói chung: … Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chủng chóng lành như
Đôi ta là nghĩa tào khang,
Xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái rau.
Phép lặp:
Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi.
Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.
Phép tăng tiến (nói nhấn):
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cữu thập đèo cũng qua.
Phép chơi chữ :
Tơ tằm đã vấn thì vương,
Đã trót đan díu thì thương nhau cùng.
Cô kia cắt cỏ bên sông,
Cô muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.
Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật:
Ngôn ngữ nghệ thuật là chất liệu và phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học, Không có
ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học bởi các tác giả phải dùng ngôn ngữ để thể hiện cốt truyện, chủ
đề và tính cách nhân vật trong văn xuôi và tứ thơ trong thi ca…
Nguồn gốc của ngôn ngữ nghệ thuật chính là lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân nhưng nó đã được
chọn lọc và nâng cao lên đến trình độ nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ đã học hỏi, tiếp thu, kế thừa một
cách sáng tạo kho tàng phong phú của ngôn ngữ dân gian, để rồi từ đó tạo cho mình một phong cách ngôn
ngữ riêng trong sáng tác.
Muốn cho ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học bảo đảm tính chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật thì
người viết phải chọn lựa từ ngữ kĩ càng, thích hợp với đối tượng được miêu tả hoặc tạp ra ngữ cảnh để từ
ngữ thể hiện được hết ý nghĩa của nó.
Nhà văn Tô Hoài đã nói về kinh nghiệm học hỏj và cách dùng từ ngữ trong tác phẩm của mình như sau:
Bao giờ đi thực tế, tôi cũng ghi vào sổ tay các câu hay… Tôi ghi tất cả. Ngay như hàng ngày, tôi ra
không sao ngủ lại được. Để tả trạng thái mơ màng ấy thì dùng chữ Nghi (ngỡ là) và chữ sương là đắc địa.
Ánh trăng trắng mờ giống như sương là có thật. Trước Lí Bạch mấy trăm năm, nhà thơ Tiêu Cương đã
viết: Dạ nguyệt tự thu sương. (Trăng đêm giống như sương thu).
Chi tiết Đầu giường ánh trăng rọi là thực; còn Ngỡ mặt đất phủ sương là ảo. Nhà thơ nhìn ánh trăng mã
ngỡ là sương bởi ánh trăng được nhìn qua làn nước mắt nhổ thương, sầu muộn. Nỗi cô đơn của kẻ lữ thứ
tha phương đang dâng lên khiến sương giăng trong hồn, sương giăng trước mắt.
Cả bài thơ chỉ có ba chữ tả tình trực tiếp: tư cố hương; còn lại đều là tả cảnh, tả người: Cử đầu, vọng
minh nguyệt. Ngay trong tả cảnh, tình người vẫn được thể hiện rõ. Nỗi nhớ quê hương đã được thể hiện
qua hành động. Khi thấy vầng trăng cũng đơn côi, lạnh lẽo như mình, một nỗi ngậm ngùi, chua xót bất
chợt tràn ngập trong lòng. Thi sĩ Cúi đầu tưởng nhớ quê hương. Cái dáng ngồi bất động, chìm đắm trong
suy tư ấy cho thấy tình cảm cùa nhà thơ đối với quê hương sâu nặng biết chừng nào!
Trương Minh Phi, một nhà phê bình thơ Đường đã nhận xét: Trong loại thơ nhìn trăng mà thổ lộ tâm tình
nhớ quê, bài có khuôn khổ nhỏ nhất, ngôn từ đơn giản, tinh khiết nhất là bài Tĩnh dạ tư của Lí Bạch, song
bài có ma lực lớn nhất, được truyền tụng rộng rãi nhất cũng là bài Tĩnh dạ tư ấy.
Trong ca dao – dân ca, tính hàm súc thể hiện rất rõ. Ta hãy thử điểm qua một số câu, một số bài tiêu biểu.
Để nhấn mạnh quyết tâm cao độ vượt mọi trở ngại trên con đường đến với tình yêu, người xưa mượn hình
ảnh tượng trưng:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo.
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua!
Để khẳng định lòng chung thủy:
Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ !
So sánh công cha nghĩa mẹ:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…
“Thi trung hữu nhạc. Thi trung hữu họa”. (Trong thơ có nhạc. Trong thơ có hoạ”. “Ý tại ngôn ngoại”. (Ý
ở ngoài lời)… Đó là những đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca. Ngoài ra còn có “thần tự”, “nhãn
tự” là những từ được dùng đúng lúc, đúng chỗ, chính xác yà phù hợp đến mức tuyệt vời làm tăng giá trị
của câu thơ lên rất nhiều. Ví dụ như cách dùng từ để miêu tả chân dung nhân vật của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều:
Rằng mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?
Hoàn toàn mâu thuẫn với hành động: Ghế trên ngồi tót sỗ sàng và thái độ con buôn: Cò kè bớt một thêm
hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm của hắn.
Còn nhân vật Từ Hải, dẫu chỉ xuất hiện và biến mất đột ngột như ngôi sao băng trên nền trời đen tối
nhưng chàng đã để lại ấn tượng sâu đậm không thể phai mờ trong lòng mọi người bằng dáng dấp phi
thường và khẩu khí anh hùng:
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già !
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!
Hoặc trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, tên cường hào bá Kiến mưu mô, hiểm độc thì lời
lẽ của hắn cũng theo kiểu “miệng thơn thớt dạ ớt ngâm”. Còn Chí Phèo, một tên lưu manh say rượu triền
miên thì hễ mở miệng là dọa đốt, doạ giết, là chửi đời, chửi người, thậm chí chửi cha cả đứa nào đẻ ra
hắn.
Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật vẻ đẹp đa dạng, phong phú. Nó cũng là cơ sở để các tác giả
phát triển và thể hiện tài năng sáng tác, in đậm dấu ấn phong cách viết của mình trong lòng bạn đọc.
Những đặc điểm nêu trên của ngôn ngữ nghệ thuật kết hợp với nhau hài hòa, khéo léo sẽ góp phần thể
hiện thành công tư tưởng chủ đề và nội dung tác phẩm. Nhiều tác phẩm để đời như Truyện Kiều của
Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà… và nhiều bài thơ nổi tiếng
của trào lưu thơ ca lãng mạn đầu thế kỉ XX đã chứng minh rõ ràng điều đó.