VẬN DỤNG cặp PHẠM TRÙ BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật VÀO PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG nợ xấu TRONG LĨNH vực HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
š&›

Tiểu luận triết học

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT - HIỆN TƯỢNG
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG NỢ XẤU TRONG LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhóm 23 Lớp 1 Khóa 24 thực hiện
Nhóm trưởng: Nguyễn Thị Vân
Thành viên 1: Trương Bích Trâm
Thành viên 2: Nguyễn Minh Bản
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa

TP. Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2015
1


MỤC LỤC
I. Cặp phạm trù bản chất – hiện tượng
1. Khái niệm

4
4

2. Mối liên hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
3. Ý nghĩa phương pháp luận


gia trên thế giới. Ngoài ra, những vấn đề như nguồn tài chính xử lý nợ, cách thức giải cứu
của Chính phủ, có nên tìm một định chế mới để tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu cũng
được đề cập tới. Thực tế, những bất cập trong phân loại nợ, vấn đề chuyển nợ, vấn đề đạo
đức nghề nghiệp làm nảy sinh nợ xấu tại các ngân hàng khiến nợ xấu có mức cao như hiện
nay. Dù nợ xấu ở mức nào thì hiện tại, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đến lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế, tính
an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng.
Theo cặp phạm trù bản chất - hiện tượng của phép biện chứng duy vật, để giải quyết
được vấn đề chúng ta cần nắm được bản chất của nó, cụ thể ở đây là bản chất của nợ xấu
thông qua những hiện tượng được thể hiện. Để rõ hơn vấn đề nhóm quyết định thực hiện bài
tiểu luận “Vận dụng cặp phạm trù bản chất – hiện tượng của phép biện chứng duy vật
vào phân tích thực trạng nợ xấu trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện
nay”
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy của thầy Bùi Văn Mưa. Những
kiến thức quý báu cùng sự nhiệt tình giảng dạy của Thầy đã giúp chúng em rất nhiều trong
cuộc sống và công việc.

3


I. Cặp phạm trù bản chất – hiện tượng
1. Khái niệm

Thực tế chúng ta thấy, khi xem xét những sự vật và quá trình diễn ra trong tự nhiên và
xã hội sẽ có những mặt bên ngoài mà giác quan có thể nhận thức được nhưng cũng có
những mặt, những mối liên hệ ở bên trong bị che khuất, chỉ dùng tư duy trừu tượng mới có
thể hiểu được. Mặt bên ngoài đó gọi là hiện tượng, còn mặt bên trong gọi là bản chất. Trong
cuốc sống, sự vật và quá trình nào cũng có cả hai mặt ấy, chúng luôn vận động và phát triển
cùng nhau. Vì vậy, khi xem xét sự vật và quá trình trong tự nhiên và xã hội, ta cần phân biệt
rõ đâu là bản chất và đâu là hiện tượng.

khắc và hoàn toàn đầy đủ bản chất thì con người chỉ cần dung giác quan mà nhận thức sự
vật, chứ không cần dùng đến các ngành khoa học kỹ thuật hiện đại.
Mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng còn biểu hiện là mâu thuẫn giữa các tương đối
ổn định và cái thường xuyên biến đổi.
Bản chất của sự vật tồn tại trong suốt quá trình phát triển của nó, chỉ khi nào sự vật
mất đi thì bản chất của nó mới thây đổi hẳn. Chính vì thế bản chất có tính tương đối ổn
định. Nhưng trong quá trình phát triển của sự va65tthi2 bản chất của nó được biểu hiện
bằng những hiện tượng khác nhau và luôn thay đổi tùy vào những điều kiện khách quan bên
ngoài. Điều đó chứng tỏ hiện tượng thường xuyên biến đổi.
Hiện tượng phong phú hơn bản chất còn bản chất thì sâu sắc hơn hiện tượng.
Hiện tượng phong phú hơn bản chất vì ngoài bản chất chung mà các hiện tượng đều
có ra nó còn chứa đựng những nhân tố các biệt mà chỉ riêng nó có vì trong hiện tượng có cái
thống nhất giữa cái bản chất và những cái không bản chất vì bản chất là cái tương đối ổn
định ở trong còn hiện tượng là cái biểu hiện ra bên ngoài. Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn
hiện tượng vì nó là những mối liên hệ tất nhiên bên trong, là những quy luật quyết định sự
tồn tại và phát triển của sự vật, nó được lặp đi lặp lại trong những hiện tượng khác nhau,
biểu hiện quy luật phát triển chung của hiện tượng đó.
3. Ý nghĩa phương pháp luận

Con đường nhận thức sự vật là đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một đến
bản chất cấp hai để nhận thức ngày càng sâu hơn, chính xác hơn.
Con người muốn làm chủ được sự vật phải nắm được bản chất của nó nhưng không
thể nắm bản chất trực tiếp được mà phải thông qua hiện tượng. Nhưng trong hiện tượng
cũng có những loại khác nhau, vì thế phải biết thu thập phân tích nhiều hiện tượng để rút ra
bản chất, và từ bản chất soi sang, kiểm tra lại hiện tượng và tiếp tục nắm sâu hơn bản chất.

5


II.

các TCTD báo cáo lên NHNN đến cuối tháng 9 là 3,88%! Đại diện NHNN khẳng định:
“Mức nợ xấu này đã có chiều hướng giảm so với thời gian trước. Cụ thể, tháng 6 nợ xấu là
4,17%, tháng 7 là 4,11% và tháng 8 là 3,9%”. Như vậy, số nợ xấu mà NHNN đánh giá, nhìn
nhận cao hơn xấp xỉ 40% so với số liệu mà các TCTD báo cáo lên. Ngoài ra, số liệu mà các
tổ chức tư vấn uy tín trên thế giới ước tính. Hồi T2-2014, Moody’s cho rằng nợ xấu của các
NHTM Việt Nam phải chiếm ít nhất 15% tổng tài sản.

6


III.

Vận dụng cặp phạm trù bản chất – hiện tượng của phép biện chứng duy vật vào phân
tích thực trạng nợ xấu trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
1. Nội dung
Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi
lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân
hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà
không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,....
Thời gian qua, dư luận xã hội có vẻ hơi quá khắt khe và có phần phiến diện khi đánh
giá về hoạt động ngân hàng. Vấn đề nợ xấu cũng vậy, xã hội chỉ biết đổ lỗi cho hệ thống
ngân hàng. Như vậy có thể là không khách quan và không chính xác. Mà khi chưa có cái
nhìn chính xác về bản chất, nguồn gốc nợ xấu, thì cũng khó có thể đưa ra được giải pháp
đúng để xử lý nợ xấu.
Về cơ bản, một mình ngân hàng không thể tạo ra nợ xấu, bởi trong quan hệ tín dụng,
ngân hàng chỉ là bên cho vay; còn việc sử dụng vốn vay thế nào, có hiệu quả hay không lại
tùy thuộc vào bên đi vay, đó là doanh nghiệp. Bản thân các doanh nghiệp cũng rất muốn sử
dụng đồng vốn an toàn, hiệu quả; làm sao để đồng vốn có khả năng sinh lời cao.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan là khó khăn, biến động bất thường của
kinh tế trong và ngoài nước, một số rủi ro về mặt chính sách vĩ mô khiến hoạt động của

kinh tế, các doanh nghiệp muốn vay cũng không vay được. Ở một gốc độ khác, khi rơi vào
tình trạng nợ xấu, các ngân hàng có khuynh hướng co mình lại để xử lý, dè chừng với nhu
cầu của khách hàng và sợ rủi ro, sợ trách nhiệm về mặt pháp lý. Từ đó dẫn đến sự thiếu hụt
vốn trong nền kinh tế và đây là bài toán mà các nhà quản lý kinh tế cần lời giải đáp. Đáp án
cho vấn đề là hình thành nên các tổ chức mua bán nợ, tái cấp vốn cho các ngân hàng, tổ
chức tín dụng hoặc cũng có một giải pháp khác về mặt pháp lý buộc các ngân hàng tái cấu
trúc hoặc sáp nhập lại với nhau để hình nên một cấu trúc đủ khỏe để tiếp tục vận động,
những biểu hiện này được xem là tốt cho việc đẩy lùi nợ xấu
Đồng thời với những khuynh hướng tích cực nêu trên cũng xuất hiện những hiện
tượng mà nếu nhìn bề ngoài có thể che dấu được vấn đề nợ xấu nhưng nếu xét bản chất bên

8


trong thì lại chứa đầy rủi ro và thêm nguy cơ cho nền kinh tế. Để che dấu con số nợ xấu trên
bản cân đối, các ngân hàng thỏa thuận với các doanh nghiệp thực hiện việc cho vay đảo nợ,
thay vì sử dụng vốn vay để bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì vốn vay
được sử dụng để tất toán nợ đã vay và treo nợ ở một món vay mới. Một kỹ thuật khác, các
ngân hàng thông qua các công ty con thực hiện việc mua bán nợ lòng vòng để che khuất đi
con số nợ xấu, công ty A bán nợ xấu cho công ty B, công ty B bán lại cho công ty C, rồi A
mua lại của C, món nợ xấu cũ xem như được tất toán
2. Đề xuất giải pháp

Một là, để xử lý nợ xấu một cách triệt để, chúng ta cần phải có giải pháp tổng thể và
lâu dài. Thực tế hiện nay cho thấy, môi trường kinh doanh chưa có nhiều dấu hiệu phục hồi,
tổng cầu của nền kinh tế yếu chủ yếu do niềm tin của người tiêu dùng vào sự sớm hồi phục
của thị trường thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa khó khăn, số lượng
các doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng, hàng tồn kho mặc dù gần đây có giảm
nhưng số lượng vẫn còn lớn, năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút dẫn đến khó
khăn trong việc trả nợ ngân hàng... Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp gỡ khó cho doanh

hơn. Một số ngân hàng nhỏ, quá yếu kém không tự sáp nhập được với nhau thì Chính phủ
gom lại thành ngân hàng của Chính phủ rồi sau đó quốc hữu hóa để thực thi các chính sách
tiền tệ ổn định trong giai đoạn tái cơ cấu.
Bốn là, với chủ trương Nhà nước không cấp ngân sách mà chỉ hỗ trợ bằng cơ chế,
chính sách cho vấn đề xử lý nợ xấu. Vấn đề đặt ra ở đây là nguồn lực tài chính lấy ở đâu ra
để xử lý, nếu chỉ đựa trên nguồn duy nhất là các ngân hàng thương mại trích lập dự phòng
rủi ro, coi đây là nguồn chính phục vụ cho quá trình xử lý nợ xấu, trong khi khối lượng nợ
xấu lớn như vậy (chiếm khoảng 8,82 % tổng dư nợ tín dụng, tương ứng với khoảng 252.000
tỷ VND) thì so với số vốn 100.000 tỷ VND (theo Ðề án thành lập Công ty Mua bán nợ quốc
gia - (AMC) mà NHNN đã trình Chính phủ, dự kiến được thông qua đầu năm 2013) vẫn là
còn ít. Vậy, có nên xã hội hóa nguồn lực huy động cho việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân
hàng thương mại?

KẾT LUẬN
Từ bản chất và những hiện tượng của nợ xấu, chúng ta có thể thấy rằng dù là nợ xấu
được xử lý theo cơ chế nào thì muốn thành công đều cần có sự tham gia và chia sẻ tích cực
của doanh nghiệp có nợ, ngân hàng chủ nợ và Chính phủ. Chính phủ tạo điều kiện cho thị
trường tài chính phát triển đúng mức, kịp thời; xây dựng môi trường kinh tế, chính trị ổn

10


định với những cơ hội đầu tư hấp dẫn. Trong khi đó, doanh nghiệp và ngân hàng là những
đối tượng trực tiếp tham gia và có ảnh hưởng lớn tới quá trình định giá các khoản nợ xấu,
thỏa thuận mua bán lại nợ, và đặc biệt là giai đoạn phục hồi/thu hồi lại giá trị của các tài sản
xấu đã mua lại. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại lên
hòn núi cao”. Nếu chỉ có nguồn dự phòng rủi ro của các ngân hàng, e rằng khối nợ xấu kia
không thể sớm được giải quyết căn bản và triệt để, phù hợp với mục tiêu của Ðề án “Cơ cấu
lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” phấn đấu đưa nợ xấu xuống dưới 3% theo
chuẩn Việt Nam. Vậy thì tại sao chúng ta không tính tới phương án xã hội hóa nguồn lực?

Xác định đề tài, nội dung sơ
bộ của tiểu luận, phân chia
công việc để tìm tài liệu viết
bài

Nguyễn Thị Vân:
Viết phần Mở đầu và phần 2
Nguyễn Minh Bản:
Viết phần 3
Trương Thị Bích Trâm:
Đọc lại phần 3 để sửa lỗi
chính tả

Lần 2: Tuần 6 – 7

Nguyễn Thị Vân:
Các thành viên gửi bài cho
- Đọc lại phần 1 để sửa lỗi
nhóm trưởng tổng hợp, cùng
chính tả
tìm hiểu, bổ sung, chỉnh sửa - Đọc lại phần 3 để đảm
lần thứ nhất
bảo nội dung vận dụng
tương ứng với cơ sở lý
luận
Nguyễn Minh Bản:
Đọc lại phần 2 để sửa lỗi
chính tả

12

GIẢI QUYẾT NỢ XẤU
Thái Ninh, khoa Kế toán - tài chính
I. TÓM TẮT
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt giai đoạn từ cuối 2007 đến đầu năm 2013,
hàng loạt ngân hàng trên thế giới công bố thua lỗ về kết quả hoạt động kinh doanh, mất
khả năng thanh toán, nợ xấu vượt mức cho phép dẫn đến tình trạng các hàng loạt các ngân
hàng bị mua lại và phá sản.
Chính phủ các quốc gia trên thế giới cũng như Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) đã đưa nhiều giải pháp nhằm giải cứu ngành ngân hàng khỏi phá sản.
Trong bối cảnh này các ngân hàng thương mại Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu cao nhất khu vực
Đông Nam Á, đặc biệt là Ngân hàng phát triển chi nhánh Khánh Hòa cũng lâm vào tình
trạng này. Tỷ lệ nợ xấu những năm qua tăng cao do tín dụng được bơm bừa bãi để hỗ trợ
tăng trưởng kinh tế. Bối cảnh u ám của kinh tế toàn cầu cũng như trong nước trong những
năm gần đây đã hạn chế đáng kể khả năng giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh
Hòa. Vào 09/2012, hãng xếp hạng tín dụng Moody's hạ bậc tín nhiệm đối với Việt Nam

13


xuống mức thấp nhất từ trước đến giờ với lý do hệ thống ngân hàng cần "sự hỗ trợ đáng
kể".
Để giải quyết nợ xấu ngân hàng, có nhiều phương thức như thay đổi về chính sách
quản trị, thay đổi về kết cấu tài chính, bán nợ xấu…Tác giả chọn đề tài bán nợ xấu tại
NHPT chi nhánh Khánh Hòa nhằm mục đích phân tích, đưa ra cái nhìn tổng quan về biện
pháp giải quyết nợ xấu của NHPT chi nhánh Khánh Hòa trong bối cảnh hiện nay nhằm
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định.
II. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ
1. Cơ sở lý luận về nợ xấu ngân hàng và mua bán nợ xấu
1.1. Nợ xấu:
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, đã quá hạn và bị nghi ngờ về khả

Ví dụ: Bên A (chủ nợ) có "khoản nợ phải thu" 1.000trđ đối với Bên B (khách nợ) do phát
sinh trong một quan hệ kinh tế giữa 2 bên. Đến hạn Bên A cần thu hồi phần tài sản này để
đầu tư vào một dự án khác nhưng Bên B chưa thanh toán được do khó khăn về tài chính.
Bên A bán khoản nợ phải thu này cho Bên mua nợ với giá X$, đồng thời chuyển giao toàn
bộ "quyền thu hồi nợ" cho Bên mua nợ để Bên mua nợ trở thành chủ nợ mới của Bên B và
khi đó Bên B có trách nhiệm thanh toán 1000trđ cho Bên mua nợ mà không phải thanh toán
cho Bên A nữa.

1.3. Mục tiêu của bán nợ xấu:
Mục tiêu chính của bán nợ xấu là góp phần xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng về
mức an toàn; thêm khả năng tái tạo vốn cho ngân hàng để thúc đẩy nguồn cho vay đối với
nền kinh tế; góp phần giảm lãi suất cho vay.
1.4. Nguyên nhân của nợ xấu:
1.4.1. Do bản thân ngân hàng
- Ngân hàng không có đủ thông tin chính xác để phân tích và đánh giá khách hàng,
dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin vay hoặc xác định thời hạn cho vay
và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng.

15


- Đạo đức nghề nghiệp không tốt cùng năng lực chuyên môn của một số cán bộ ngân
hàng chưa theo kịp yêu cầu; tiêu cực trong khâu lập phương án, thẩm định, xét duyệt và
theo dõi khoản vay
- Sự lơi lỏng trong công tác thanh, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay làm cho
ngân hàng không phát hiện kịp thời vốn vay đã sử dụng sai mục đích
- Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng gay gắt dẫn đến chạy theo qui mô, bỏ qua các
tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay
- Chạy theo thành tích số lượng, chỉ tiêu kế hoạch mà xem nhẹ chất lượng tín dụng,
quá tin vào phương án kinh doanh của khách hàng.

hậu quả xấu cho nền kinh tế.
2. Thực trạng nợ xấu các ngân hàng thương mại trong cuộc khủng hoảng tài chính,
đánh giá, nhận xét các giải pháp thực hiện
2.1. Tổng quan về tình hình nợ xấu trên thế giới
Nợ xấu là “cục máu đông” mà nhiều nền kinh tế trên thế giới bị “nhiễm” với các mức
độ khác nhau và mỗi quốc gia có đơn thuốc trị bệnh khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm của
mỗi nước.
Hai cường quốc kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc từng “gánh” khoản nợ xấu cao ngất
ngưởng. Hệ thống tài chính ngân hàng rơi vào tình trạng báo động cao nhất và rất nhiều
ngân hàng đã phải “trả giá”. Theo ngân hàng Phát triển châu Á – ADB, năm 2003, Trung
Quốc có bốn ngân hàng Thương mại (NHTM) quốc doanh lớn nhất với tổng tài sản khoảng
15.200 tỷ Nhân dân tệ (NDT), chiếm khoảng 55% tổng tài sản của hệ thống tài chính đã lâm
vào tình trạng nợ xấu vượt mức giới hạn cho phép. Điều này không mấy khác so với tình
trạng cho “vay dưới chuẩn” (vay với mức độ rủi ro cao) của các ngân hàng ở Hoa Kỳ giai
đoạn trước khủng hoảng kinh tế tài chính 2008.
Trước thực trạng nợ xấu tăng đột biến có thể đánh đổ tất cả các ngân hàng, cả Hoa
Kỳ và Trung Quốc đã có những động thái “không hẹn mà gặp” để đến một mục tiêu chung
là giải cứu nền kinh tế nước nhà.
Cả hai đều tung chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các NHTM. Đây
được xem là chính sách ưu tiên và trọng tâm trong chuỗi giải pháp của hai nước. Ngân hàng
trung ương Trung Quốc PBC đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản, có trách nhiệm xử lí nợ
xấu cho một số NHTM quốc doanh. Các công ty này chịu sự quản lý và chỉ đạo đồng thời
của Bộ Tài chính và liên hệ chặt chẽ với các NHTM. Các công ty này đã mạnh dạn cho

17


chứng khoán hóa các khoản nợ của NHTM và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng
cạn kiệt của các ngân hàng.
Trong khi đó, Bộ Tài chính, Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) và Cục

kinh doanh của họ và bắt đầu xây dựng một chiến lược trả nợ. Giai đoạn cuối cùng và lâu
dài nhất là đề ra một loạt các cột mốc cắt giảm nợ nhằm hoàn tất việc chi trả đầy đủ nghĩa
vụ của cả các con nợ và các khoản vay của NAMA vào năm 2019.
Nhiều nước ở châu Á như Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Thái Lan đã thành lập
công ty quản lý tài sản tập trung để xử lý nợ, thu hồi và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của
ngân hàng. Một đặc điểm chung của các công ty này là tất cả đều được Chính phủ tài trợ
vốn, tổ chức tập trung hơn là sử dụng mô hình chỉ dựa vào ngân hàng. Hầu hết các công ty
quản lý tài sản ở các nước châu Á chỉ hoạt động trong một số năm nhất định. Các công ty
này cũng có quyền hạn đặc biệt để cắt giảm một số thủ tục pháp lý. Thái Lan thực hiện xử
lý nợ xấu bằng 3 giải pháp cơ bản. Các giải pháp này bao gồm:
- Bơm vốn trực tiếp.
- Thành lập công ty quản lý tài sản AMC (Asset Management Company)
- Trung gian tái cơ cấu nợ CDRC (Corporate Debt Restructuring Committee)
Trong đó AMC là một trong những giải pháp mà Thái Lan đã áp dụng khá hiệu quả
từ thời kỳ khủng hoảng cho đến nay.
Đối với các khoản vay có thế chấp không còn khả năng trả nợ, AMC thực hiện tịch
thu tài sản thế chấp và bán thanh lý để hoàn phần vốn vay dựa trên nguyên tắc chia sẻ lời-lỗ.
Đối với các khoản vay mà AMC nhận thấy còn khả năng trả nợ, AMC đã chủ động phối
hợp với các cơ quan đại diện cho các khu vực kinh tế để đưa ra các giải pháp khôi phục lại
hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu vực đó, tạo nguồn vốn trả nợ. Và chỉ sau vài
năm, hết quý 2/2003 số nợ xấu được AMC giải quyết đạt 73,46% tổng số nợ cần xử lý. Tỷ
lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Thái Lan giảm rõ rệt xuống từ gần 13% năm
2003 xuống 10% năm 2004 và đến quý 4/2011 ở mức không quá 4%.
Bên cạnh đó, một giải pháp được các các nước sử dụng là gắn giải quyết nợ xấu với
tái cấu trúc ngân hàng và tái cấu trúc kinh tế. Biện pháp này được đánh giá là mang tính cơ
bản, vì ngoài vấn đề xử lý nợ xấu nó còn giúp ngăn chặn nợ xấu gia tăng.

19



vượt ngưỡng cho phép ≤ 5% (theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN); nguyên nhân nào
NHPT chi nhánh Khánh Hòa có tỷ lệ nợ xấu quá cao?
Bảng 2: Dư Nợ cho vay theo thời gian:
(Đvt: triệu đồng)
T

Chỉ tiêu

T
1 Ngắn hạn
2 Trung dài hạn
3 Tổng dư Nợ

Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Số tiền
%
Số tiền
%
Số tiền
%
55,033
5.2%
66,246
6%
6,998
0.7%
995,802
94.8% 1,045,993


Số tiền

1 DNNN, TNHH

271,762

%

Số tiền

%
18.0

Số tiền
178,21

%
17.6

25.9%

200,299

%
17.7

2

%


%
7.9%

651,412
62,179
1,014,81

%
6.1%

3 Tổng dư Nợ

1,050,835 100%
9 100%
8 100%
(nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khánh Hòa)

Qua bảng 3, các công ty cổ phần, công ty TNHH chiếm tỷ trọng vay cao nhất theo
chủ trương ưu đãi tín dụng đầu tư và xuất khẩu cho DN nhỏ và vừa của Chính phủ và của
tỉnh Khánh Hòa qua các năm, tiếp đến là các DNNN và DN có vốn nhà nước vay theo kế
hoạch đầu tư để tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch và khi nền kinh tế suy thoái thì các loại
hình DN này khó chống đỡ và dẫn đến mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn trả, điều
này dẫn đến nợ xấu của NHPT chi nhánh KH tăng mạnh trong 2 năm 2011 và 2012
Bảng 4. Thống kê nợ xấu năm 2012 theo loại hình tổ chức, cá nhân
(Đvt: triệu đồng)
Năm 2012
số tiền
%
1 DNNN, TNHH vốn NN

xuất khẩu nhằm tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm của nhà nước; khủng hoảng kinh
tế kéo dài qua các năm, sức mua giảm dẫn đến hàng tồn kho của các DN này lớn, tiêu thụ
chậm thậm chí không bán được làm các DN không xoay vòng vốn được, mất khả năng trả
nợ vay dẫn đến nợ xấu của NHPT chi nhánh KH tăng mạnh qua 2 năm 2011 và 2012.
3. Các giải pháp xử lý nợ xấu
3.1. Trích lập dự phòng rủi ro:
NHNN cho biết năm 2012 đã thanh tra 32 tổ chức tín dụng và hầu hết các tổ chức tín
dụng đều giảm kết quả kinh doanh sau thanh tra do phải trích lập dự phòng rủi ro đúng qui
định. Nhiều NHTM báo cáo có lãi nhưng qua thanh tra lại buộc trích lập dự phòng đúng qui
định thì dẫn đến lỗ, giảm vốn điều lệ thậm chí có NH không còn vốn điều lệTuy nhiên, việc
giảm nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng liệu có giải quyết được thúc đẩy tăng trưởng tín
dụng, giảm lãi suất cho vay? Trích lập dự phòng rủi ro đối với NHPT Việt Nam và chi
nhánh Khánh Hòa nói riêng là hết sức khó khăn, nếu trích lập đủ thì chi phí đội lên quá cao,
không thể giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hiện nay.
3.2.Tăng dư nợ tín dụng mới lên:

Tỷ lệ nợ xấu

=

Nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5

22


Tổng Nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5
Với cách làm này, mẫu số sẽ tăng lên giúp giảm tỷ lệ nợ xấu, nhưng hiện nay tăng
trưởng tín dụng rất thấp do hoạt động SX_KD bị đình đốn, lãi suất cho vay còn khá cao,
không thể đẩy mạnh được vì vậy khó giảm nợ xấu bằng cách này
3.3. Giảm qui mô nợ xấu:

chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng. Chỉ tiêu này được sử
dụng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn, đánh gía mức độ an toàn
trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại.
CAR =

VTC
Tổng tài sản Có rủi ro

x 100% ≥

9%

Với công thức trên, tài sản Có rủi ro (các khoản nợ xấu) có hệ số rủi ro 100% đã trở
thành tài sản Có (trái phiếu) có hệ số rủi ro = 0, mẫu số giảm mạnh dẫn đến gia tăng tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu (CAR – Capital Adequacy Ratio) của Ngân hàng phát triển.
Sau 5 năm, nếu khoản nợ xấu không bán được, Ngân hàng phát triển cũng đã trích
lập đủ 100% trái phiếu để trả trái phiếu cho VAMC, đồng thời nhận khoản nợ xấu về. Tuy
nhiên, lúc này, khoản nợ xấu đó đã được xóa trong bảng kế toán của ngân hàng, có nghĩa là
đã được làm sạch (vì ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi ro 100%). Nếu xử lý được nợ xấu,
thanh lý được tài sản đảm bảo thì tổ chức tín dụng chỉ được thu về 85% giá trị, còn VAMC
được hưởng 15%.
Đi cùng với giải pháp này, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ triển khai các giải pháp
khác có trong đề án xử lý nợ xấu như tiếp tục hoàn thiện các chính sách bổ trợ khác, như cơ
chế phân loại nợ mới bắt đầu thực hiện từ tháng 6/2013; sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn an
toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, dự kiến cũng sẽ được ban hành.
AMC cùng những giải pháp tổng thể đó có thể tạo một bước chuyển mới, căn bản
trong yêu cầu xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, nợ xấu là một vấn đề của kinh tế vĩ mô, nên cần có
thêm sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các bộ, ngành chức năng khác nữa.
3.5. Tăng cường thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước
Ngân hàng nhà nước chi nhánh Khánh Hòa tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác

Số: 02/2013/TT-NHNN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm
2013

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status