TRƯỜNG : ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA : THƯƠNG MẠI – DU LỊCH
LỚP : 07DTM
TÊN : PHAN CHÍ VĂN
MSSV : 0721030056
ĐỀ TÀI : Phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam vào thị trường EU và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu đến
năm 2015
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt
Nam . Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu
cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho
xã hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu , tạo điều kiện cho kinh
tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước. Trong quá
trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay , ngành dệt may đang chứng tỏ là một
ngành mũi nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu tăng liên
tục trong những năm gần đây . Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa và trong biến
động của môi trường kinh tế thế giới, ngành dệt may đang đứng trước những khó
khăn và thách thức trong quá trình phát triển.
Với mục đích tìm hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành trong giai đoạn
hiện nay và thử tìm một số giải pháp để khắc phục những vấn đề đó , em đã quyết
định lựa chọn đề tài : “ Phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam vào thị trường EU và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
đến năm 2015”
Nội dung của đề tài này gồm 4 chương :
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam
Chương 2 : Thị trường EU về hàng dệt may
Chương 3 : Thực trạng kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường EU
Chương 4 : Một số giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu hàng dệt
cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước .Trong thực tiễn xuất khẩu và nhập khẩu
có quan hệ mật thiết với nhau , vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau , đẩy mạnh
xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu , tăng nhập khẩu để mở rộng và tăng khả
năng xuất khẩu .
-Xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng
kinh tế.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất , nhiều ngành
nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây chuyền giúp cho các
ngành kinh tế khác phát triển theo , kết quả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh
tế phát triển nhanh có hiệu quả. Ví dụ với chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu ngành
may kích thích sự đầu tư phát triển ở ngành dệt , ngành trồng bông , ngành nhuộm ,
ngành sản xuất phụ liệu phục vụ cho công nghiệp may , ngành thiết kế thời trang…
-Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản
xuất.
Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách chất lượng sản
phẩm thì một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ mặt khác người lao
động phải nâng cao tay nghề học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến . Ví dụ ,
trước kia khi chúng ta chưa thực hiện xuất khẩu gạo những máy móc xay xát gạo
của chúng ta tất thô sơ , gạo không cần đánh bóng , sàng lọc tấm …thì nay chuyển
sang xuất khẩu gạo , để gạo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thì hệ thống máy xay xát phải
thay đổi theo hướng hiện đại hóa.
-Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng sử dụng có hiệu quả nhât lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước.
Khi xuất khẩu ra thị trường thế giới , nền kinh tế phải trực diện tiếp xúc với
môi trường cạn tranh lớn .Để sản phẩm xuất khẩu có lội thế cạnh tranh thì ngành
kinh tế phục vụ xuât khẩu phải được hoạch định dựa trên lợi thế quốc gia như : tài
nguyên , lao động , vốn kỹ thuật và công nghệ …có như vậy sản phẩm xuất khẩu
mới rẻ , chất lượng cao có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các nước khác.
-Xuất khẩu có tác động tích cực và có hiệu quả đến nâng cao mức sống của
nhân dân vì nhờ mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có công ăn việc
vóc vẫn là sản phẩm quý , những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tộc , thượng
lưu , đại đa số dân chúng chỉ mặc vải thô .Mãi đến giữa thế kỉ 18 , với cuộc cách
mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ khí hóa , chạy bằng hơi
nước , ngành dệt may mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thành một ngành
công nghiệp
Tuy nhiên , con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên , và nhiều nhà khoa
học ở Châu Âu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt ,
với giá rẻ . Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp , bá tước Hilaire Bernigaud de
Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo , sau 6 năm nghiên cứu ,
song song với nhà khoa học Louis Pasteur , để tìm cách khắc phục các bệnh dịch tàn
phá các cơ sở nuôi tằm. Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại Hội chợ triễn lãm
thế giới Paris một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạo đầu tiên. Năm
sau , ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo , bắt đầu sản xuất năm 1892. Nhưng lúc
ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thành còn cao nên phải đợi đến đầu thế
kỷ 20 , cơ sở này mới hoạt động với qui mô lớn và thành công
Ông Chardonnet được coi như là cha đẻ của kỹ nghệ sợi hóa học (chemical
fibres) là chữ gọi chung cho các sợi nhân tạo .Mục đích của ông khi tìm cách làm tơ
nhân tạo là để bình dân hóa vải vóc , để bất cứ ai cũng có thể có được những bọ
quần áo lụa là cho tới lúc ấy chỉ dành cho một thiểu số . Ông đã thành công dơn dự
kiến vì kỹ nghệ phát sinh từ các sáng chế của ông đã dẫn đến cả một cuộc cách
mạnh trong may mặc, biến thời trang thành một hiện tượng quần chúng trong mọi
nước. Ngành dệt may từ đó cũng phát triển ngày càng nhanh chóng , cùng với đà
tiến triển của kinh tế và thương mại .Từ 1889 đến 1939, phải sau 50 năm sản lượng
sợi hóa học trên thế giới mới đạt mức 1 triệu tấn một năm , nhưng chỉ 12 năm sau
đã tăng gấp đôi và cứ thế tăng vọt
Năm 1990 , trên thế giới có 1.6 tỷ người , tiêu thụ 3.8 triệu tấn sợi, hầu như
toàn bộ là các sợi tự nhiên – bông (81%) và len (19%) số sợi hóa học dưới 1000 tấn.
Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi , trong đó 50% bông , 6% len và 44%
sợi hóa học. Như thế , chỉ trong 3 phần tư thế kỷ , só lượng tiêu thụ đã nhân lên 4.3
lần cho sợi bông , 2.2 lần cho sợi len và 11000 tấn cho sợi hóa học. Mức tăng
đảm bảo tính chủ động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh , tăng sức cạnh tranh
của hàng dệt may .
1.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh hàng dệt may Việt Nam
a) Đặc điểm về sản xuất
Ngành dệt may Việt Nam được đánh giá la có lợi thế so sánh lớn dựa vào các yếu tố
sau :
Nước ta có cơ cấu dân số trẻ do đó mà những người trong độ tuổi lao động
rất cao , không những vậy hàng năm nó còn được bổ sung thêm một lực lượng lao
động khá hùng hậu . Điểu đó đã làm cho nguồn cung lao động của nước ta hết sức
dồi dào . Chất lượng lao động không ngừng được nâng lên cả về mặt kỹ thuật lẫn
trình độ văn hóa , cả thể chất lẫn tinh thần . Người lao động nước ta được đánh giá
là cần cù chịu khó , ham học hỏi , có khả năng tiếp thu nhanh và sáng tạo trong quá
trình lao động. Nhìn chung giá nhân công lao động trong ngành dệt may của nước ta
rẻ hơn một số nước khác trên thế giới và khu vực. Đây là một lợi thế rất lớn đóng
vai trò quyết định cho sự phát triển ngành dệt may của nước ta
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa , nóng ẩm , mưa nhiều là lợi
thế để phát triển nghề trồng bông, đay . Nhờ vậy, ngành dệt may nước ta có lợi thế
lớn về nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào rẻ và ổn định. Điều này góp phần không
nhỏ vào việc giảm giá thành sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường thế giới. Ở nước ta phát triển hiện nay , ngành dệt may góp
phần phát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua tăng trưởng sản xuất bông, đay,
tơ tằm và là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công
nghiệp. Ở các nước công nghiệp phát triển , ngành dệt may đã phát triển đến trình
độ cao hơn , sản xuất những sản phẩm có giá trị gia tăng cao , hàng cao cấp , đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao , đa dạng của người tiêu dùng.
Ngành dệt may với đặc điểm có hàm lượng lao động lớn, yêu cầu về công
nghệ không quá hiện đại và có tỉ lệ hàng xuất khẩu lớn được đánh giá là có tính phù
hợp cao trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của Việt Nam. Nhà nước ta đã thực
hiện nhiều chính sách hỗ trợ ngành dệt may như : áp dụng thuế suất 0% đối với sản
phẩm dệt may xuất khẩu , miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu đầu vào.
Ngành dệt may là ngành chiến lược của Viêt Nam định hướng xuất khẩu của
chính phủ nên thị trường nội địa còn bị bỏ ngỏ , chưa quan tâm đúng mức. Ngành
dệt may phụ thuộc rất lớn từ thị trường nước ngoài do mức sống cao , thay đổi liên
tục về mẫu mã thời trang nên tạo cơ hội bán nhiều sàn phẩm hơn là thị trường nội
Thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đa dạng nhưng tập trung vào 3
thị trường chính là : Mỹ chiếm 53.4% , EU chiếm 20.7%, Nhật Bản chiếm 15.2%
(năm 2007)
Biểu đồ 1 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
20.7
10.7
15.2
53.4
USA
EU
Nhat Ban
Thi truong khac
Do thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt nam quá tập trung , gần 60% kim
ngạch xuất khẩu thực hiện ở thị trường Mỹ nên điều này dễ dẫn tới bị áp dụng các
biện pháp trả đũa . Gần đây Mỹ đã xây dựng cơ chế giám sát hàng nhập khẩu dệt
may từ Việt Nam , nguy cơ bị kiện chống bán phá giá rất cao.
1.3 Vai trò kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế Việt Nam
1.3.1 Là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước
Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành được hình thành rất
sớm. với vai trò vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước , vừa đáp ứng được nhu
cầu thị trường thế giới .Ngành dệt may luôn luôn là một trong những ngành kinh tế
lớn của đất nước và được Nhà nước khuyến khích , tạo điều kiện phát triển. Là
ngành điển hình thể hiện rõ chiến lược của nước ta là : hướng vào xuất khẩu ,
chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang dạng chế biến sâu và có lợi nhuận cao .
Là một ngành công nghiệp nhẹ ,đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế Việt
Nam hiện nay . Ngành dệt may xuất khẩu đã đem lại cho đất nước những nguồn
của mình trong ngành dệt may khu vực và thế giới “.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam
1.4.1 Nhân tố chính trị
Trong quyết định 36/QD-TTg ngày 14/3/2008 phê duyệt chiến lược phát
triển ngành công nghiệp dệt may việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm
2020 ,Việt nam đạt mục tiêu phát triển ngành dệt may thành một trong những ngành
công nghiệp trọng điểm phục vụ xuất khẩu , đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu
dùng trong nước , tạo nhiều việc làm cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh , đáp
ứng nhu cầu thị trường thế giới .Do đó, ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới
sẽ được ưu tiên phát triển.
Dệt may là một ngành khá nhạy cảm trong quan hệ thương mại của các quốc
gia , được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới bằng những rào cản
thuế quan cũng như những rào cản kỹ thuật khác .Năm 2007 , do lợi thế về giá
thành thấp ,hàng dệt may của Việt Nam đã bị Mỹ thực hiện điều tra bán phá giá
.Mặc dù Mỹ đã kết luận Viêt Nam không bán phá giá vào Mỹ nhưng hàng dệt may
việt Nam đã bị giám sát khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong năm 2008.
1.4.2 Nhân tố kinh tế
Phần lớn sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam là dành cho xuất khẩu nên
khi có sự biến động về tỷ giá do lạm phát , hay sự suy giảm kinh tế toàn cầu thì sẽ
ảnh hưởng xấu đến kim ngạch xuất khẩu của ngành. Hiện nay ,do suy thoái kinh tế
nên lượng đơn đặt hàng của các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ ,
EU đã sụt giảm mạnh.
Mặt khác, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ khiến cho đồng USD bị mất giá
so với đồng tiền của các nước khác .Sự giảm giá của đồng USD khiến cho doanh
thu xuất khẩu cũng là nguồn thu chính của các doanh nghiệp may mặc giảm sút
.Trong khi đó , yếu tố đầu vào của ngành dệt may hiện nay phần lớn vẫn phải nhập
khẩu và chịu ảnh hưởng của sự biến động giá dầu trên thế giới .Sự tăng giá của các
yếu tố đầu vào sẽ khiến cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên .Điều này cũng ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.4.4 Nhân tố công nghệ
Năng lực sản xuất kém , công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn
nhất của ngành dệt may Việt Nam hiện nay. Hoạt động của ngành dệt may hiện nay
phần lớn là thực hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm
đơn giản , còn những sản phẩm đòi hỏi kĩ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại
chưa đáp ứng được . Vì thế , nếu được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành dệt
may Việ Nam có thể phát huy hết được tiềm năng về lao động và chất lượng.
1.5 Các cơ hội và thách thức đối với việc kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam khi hội nhập kinh tế toàn cầu
1.5.1 Cơ hội
_Dân số các nước nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam đông và ngày càng gia tăng sẽ
cung cấp nhu cầu lớn và nhiều thị trường tiểm năng cho các doanh nghiệp ngành
may mặc Việt Nam khai thác.
_Mức sống và thu nhập của người dân các nước nhập khẩu ngày càng nâng cao sẽ
khiến cho nhu cầu đối với các sản phẩm may mặc ngày càng tăng , đặc biệt là các
sản phẩm trung và cao cấp .
_Hàng may mặc của Việt Nam ngày càng nhận được sự tín nhiệm của các nước
nhập khẩu ( Mỹ , EU ,Nhật bản ..) do chất lượng sản phẩm cao và chi phí thấp nên
sẽ có thể mở rộng hơn thị phần xuất khẩu cũng như tăng giá trị xuất khẩu .
_Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế suất
khi xuất khẩu hàng dệt may vào các nước khác . Thuế nhập khẩu dệt may của Việt
Nam vào các nước thành viên WTO sẽ theo khung NTR (Quy chế quan hệ thương
mại bình thường) do đó các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập
mạnh hơn vào thị trường nước ngoài , tăng thêm kim ngạch xuất khẩu.
_Ngành may mặc trong thời gian tới được coi là ngành ưu tiên và khuyến khích phát
triển nên sẽ nhận được những nguồn vốn đầu tư lớn cả trong và ngoài nước ,Việt
Nam có cơ hội thu hút dòng đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài tạo điều kiện
phát triển hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực cho ngành dệt may .Việt Nam cũng có cơ
hội tiếp cận trình độ quản lý và công nghệ kỹ thuật mới .
_Hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO , do vậy ngành dệt may sẽ không bị áp dụng
kế thời trang để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như để xuất khẩu.
Thực tế đa số các doanh nghiệp Việt Nam thường xuất khẩu bằng phương thức gia
công hàng dệt may nên lợi nhuận thu được rất ít, chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng
lợi nhuận từ việc bán sản phẩm . Để tăng lợi nhuận thì các doanh nghiệp phải bắt
buộc đầu tư máy móc , nguồn nhân lực , nghiên cứu sản phẩm , tạo thương hiệu
riêng cho sản phẩm của mình.
Những biến động bất lợi về giá dầu thế giới , giá lương công nhân có thể làm
tăng gía thành sản xuất của doanh nghiệp . Nếu gía sản phẩm dệt may của Việt Nam
tăng lên và cao hơn các nước khác thì các nước nhập khẩu sẽ chuyển hướng sang
những nước có giá thành rẻ hơn và không nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam
nữa , do đó sẽ làm giàm sút kim ngạch xuất khẩu.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng dệt may nước ngoài đặc biệt là hàng dệt
may của Trung Quốc với giá thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng , phù hợp với
thu nhập của người dân Việt Nam và các nước trên thế giới đã khiến các doanh
nghệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn và có nguy cơ mất bị mất thị phần xuất khẩu.
Chương 2 : Thị trường EU về hàng dệt may
2.1 Tổng quan về hợp tác giữa Việt Nam và thị trường EU
2.1.1 Những mốc lịch sử lớn
Từ năm 1975-1978 EU có quan hệ ngọai giao với Việt Nam , nhưng đến năm
1979 do vấn đề Việt Nam đưa quân vào Campuchia, EU đã rút đại sứ của mình về
nước và ngừng viện trợ cho Việt Nam (mặc dù mức viện trợ của EU cho Việt Nam
trong giai đoạn này là rất nhỏ ). Từ cuối năm 1984 , khối EU lại viện trợ cho Việt
Nam , nhưng chính thức 01/1990 Eu mới thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Việt
Nam .Đỉnh cao của sự phát triển quan hệ giữa Việt nam và EU được đánh dấu bằng
việc ký kết Hiệp định khung hợp tác vào 17/07/1995 tại Bruselles .Và tháng 1/1996
Văn phòng thường trực của Ủy ban Châu Âu tại Việt Nam đã đi vào hoạt động đã
hỗ trợ nhiều cho sự phát triển quan hệ kinh tế giữa EU và Việt Nam.
Năm 1996 , Việt Nam và EU đã thống nhất chiến lược phát triển và hợp tác
kinh tế chung nhằm củng cố quá trình chuyển đổi kinh tế Việt Nam sang nền kinh
tế thị trường , đồng thời giảm nhẹ chi phí xã hội trong quá trình chuyển đổi .Đến
tăng %
Trị giá
triệu
USD
Tốc độ
tăng %
Trị giá
tiệu
USD
Tốc độ
tăng %
Triệu
USD
2000 2836.9 13.2 1216.7 15.6 4053.6 13.9 +1620.2
2001 3002.9 6.0 1506.3 24.0 4509.2 11.0 +1496.6
2002 3162.5 5.0 1840.6 22.0 5003.1 11.0 +1321.9
2003 3852.8 22.0 2471.9 34.0 6324.7 26.0 +1380.9
2004 4962 28.78 2667.5 7.9 7629.5 20.63 +2294.5
2005 5519.9 11.24 2588.2 -3 8108.1 6.27 +2931.7
2006 6900.8 25 3001.2 15.95 9902 22.12 +3899.6
2007 9096 31.8 5140 71.2 14236 43.8 +3956
2008 10853 19.3 5445.2 5.9 16298.2 14.49 +5407.8
(Nguồn : Bộ Thương mại , Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Nhận xét về hoạt động thương mại của Việt Nam với EU
+Quan hệ thương mại hai chiều gia tăng nhanh : nếu năm 1985 , kim ngạch xuất
nhập khẩu giữa Việt Nam và EU chỉ là 100 triệu USD , thì đến năm 2008 đạt
16298.2 tỷ USD , tăng tên 163 lần . Từ năm 1997 đến nay. cán cân xuất siêu luôn
thuộc về Việt Nam .Tuy nhiên , hoạt động thương mại này vẫn còn nhỏ , chưa
tương xứng với tiềm năng thương mại giữa hai bên.
+ Tỷ trọng thương mại với EU của Việt Nam đang có xu hướng giảm sút tương đối
2005 2588.2 36978.0 7.0
2006 3001.2 44410.0 6.8
2007 5140 62680 8.2
2008 5445.2 80713.83 6.7
(Nguồn : Bộ Thương mại, Niên giám thống kê Việt Nam)
+ Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang EU chậm thay đổi , chủ yếu tập trung vào 5 mặt
hàng : giày dép , dệt may , thủy sản , đồ gỗ và cà phê …Trong khi đó .Việt Nam
nhập khẩu từ EU chủ yếu là máy móc thiết bị , nguyên phụ liệu dệt may , sắt thép
,sữa và các sản phẩm sữa , tân dược , hóa chất và các sản phẩm hóa chất… Lợi thế
so sánh trong phát triển ngoại thương của EU và Việt Nam rất khác nhau , có thể bổ
sung cho nhau , quan trọng là biết phát hiện mặt hàng xuất khẩu để phát triển và
nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động xuât khẩu.
Bảng 4 : Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU
ĐVT : Triệu USD
Tên
hàng
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
1.
Giày
dép
1163.0 1327.9 1602.5 1782.4 1783.4 1916.71 2184.76 2508.28
2. Dệt
may
607.7 551.9 537.1 760.0 882.8 1215.17 1498.95 1703.63
3. Hải
sản
116.7 97.9 153.2 245.3 439.9 730.85 923.965 1149.21
4. Đồ
gỗ
464.93 488.16 641.21 806.35
xuất
khẩu
(Nguồn : Tổng cục Thống Kê Việt Nam)
EU lả thị trường thương mại quốc tế lớn nhất thế giới và là một trong 3 thị trường
xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Tiềm năng phát triển hoạt động kinh tế đối
ngoại với thị trường này còn rất nhiều , quan trọng là các cấp quản lý của nền kinh
tế Việt Nam từ trung ương , địa phương đến các doanh nghiệp cần chủ động đề xuất
các chiến lược thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường này
2.2.3 Hoạt động đầu tư của EU vào Việt Nam
+Hoạt động đầu tư trực tiếp
Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ra đời tháng 12/1988 , ngay sau đó các nước
EU có mặt rất sớm tại Việt Nam. Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp EU đóng
góp vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam tính đến ngày
31/1/2006 có 19 trong tổng số 27 nước EU đầu tư vào Việt Nam , tính đến tháng
3/2006, EU có 551 dự án đầu tư vào các ngành kinh tế của Việt Nam , với tổng số
vốn đăng ký là 7,34 tỷ USD , trong đó vốn thực hiện là 4.06 tỷ USD. Các nhà đầu tư
của EU đầu tư hầu hết vào các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam : dầu khí,
khách sạn , công nghiệp - xây dựng …các dự án này đang phát huy tác dụng , có tác
động tích cực đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam.
+ Đầu tư ODA
_Ngay từ khi EU và Việt Nam tái thiết lập mối quan hệ thì EU cùng với WB, ADB
và Nhật Bản trở thành 4 nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam.
Ở giai đoạn 1991 – 1995 EU giành ODA cho Việt Nam ưu tiên vào 7 lĩnh vực chủ
yếu :
- Phát triển nông thôn và viện trợ nhân đạo
- Môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
- Hợp tác kinh tế
- Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ
- Hỗ trợ các đối tác đầu tư của Cộng đồng Châu Âu
- Hợp tác khoa học và công nghệ
4. Đức 541,355,488 203,001,536
5. Tây Ban Nha 110,956,052 40,010,447
6. Thụy Điển 169,517,559 86,792,288
7. Anh 281,620,370 200,824,672
8. Ý 40,039,721 8,454,889
9. Ai Len 9,243,440 7,408,908
10. Luxembourg 41,642,269 14,670,029
11. Phần Lan 79,095,687 44,420,121
12. Hungary 525.57 263.16
13. Cộng hòa Séc 2,562,604 2,408,000
14. Bỉ 54,509,399 28,007,740
( Nguồn : www.cesti.gov.vn )
Và tại Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2007 thì EU đã vượt qua Nhật
Bản, trở thành nhà tài trợ lớn nhất với mức tài trợ là 948 triệu USD.
2.2 Tình hình cung cầu của hàng dệt may trên thị trường EU
Về nhu cầu
Đặc điểm tiêu dùng hàng dệt may của người dân Châu Âu
Do mức sống của người dân EU cao và tương đối đồng đều nên họ thường chi tiêu
những sản phẩm cao cấp , yêu cầu khắt khe về chất lượng và an toàn , giá cả không
phải là vấn đề quyết định đối với thị trường này. Người tiêu dùng EU có xu hướng
chi tiêu nhiều cho hàng dệt may cao cấp với yêu cầu đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã
và chất lượng cao .
Tổng tiêu dùng hàng may mặc của EU trong năm 2008 đạt 38.1 tỷ EURO , Đức
vẫn là thị trường quan trọng nhất của hàng may mặc trong thị trường EU .
Bảy quốc gia : Đức , Anh , Ý , Pháp , Tây Ban Nha , Hà Lan và Bỉ là những quốc
gia tiêu dùng hàng may mặc chủ yếu chiếm tới 76% tiêu dùng hàng may mặc của
EU trong năm 2008. Balan xếp hạng 7 chủ yếu do dân số đông mặc dù tiêu dùng
hàng dệt may trên đầu người hơi thấp
Tiêu dùng hàng may mặc đã tăng 7.1% trong giai đoạn 2004 – 2008 , bình quân
mỗi năm tăng 1.8% . Tiêu dùng hàng may mặc tại Estonia, Rumani và Slovakia đạt
Estonia
Ship
Malta
Các quốc gia khác(3)
6853
5197
5200
4989
3346
1263
957
1030
855
808
816
763
483
502
476
428
427
367
221
167
105
42
51
27
218
6905
1239
1102
962
927
871
834
698
559
539
504
501
394
311
214
137
61
58
30
246
84
90
91
86
79
82
33
104
86
101
104
475
372
307
210
135
57
58
30
242
EU 35591 36967 38122 78 26894
(Nguồn : Cơ quan Thống Kê của liên minh Châu Âu)
Tổng tiêu thụ hàng may mặc của EU trong năm 2009 dự báo đạt 36.9 tỷ EURO ,
tăng 3.2% so với năm 2008 . Tiêu thụ hàng may mặc trên đầu người đạt 78 EURO /
người trong năm 2008 . Người tiêu dùng ở Áo , Bỉ ,Đan Mạch là những người chi
nhiều nhất
Về nguồn cung
Do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trong EU diễn ra hết sức
nhanh chóng theo hướng chuyển mạnh sang các ngành có hàm lượng chất xám và
dịch vụ cao , giảm dần các ngành cần nhiều nhân công như dệt may nên ngành dệt
may của EU có xu hướng dịch chuyển ra khỏi Châu Âu và đầu tư ra bên ngoài.
Bên cạnh đó , do chi phí lao động ngày càng đắt làm cho việc sản xuất tại EU
mất lợi thế nên các doanh nghiệp dệt may EU đã thành lập các công ty liên doanh ,
công ty vốn nước ngoài tại các nước nghèo, đang phát triển nơi có chi phí lao động
rẻ hơn khoảng 1/3 lần so với EU . Do đó hiện nay , lượng sàn xuất hàng dệt may của
các doanh nghiệp dệt may EU đã giảm sút và phụ thuộc lớn vào hàng nhập khẩu
Dù cho chi phí nhân công đắt , ngành công nghiệp dệt may của EU vẫn duy trì
được tính cạnh tranh dựa vào năng lực sản xuất và sức cạnh tranh ngày càng cao
như đổi mới công nghệ , chất lượng, sáng tạo trong thiết kế. Các doanh nghiệp dệt
may EU đã dựa trên lợi thế khác của mình như chuyên về sản xuất hàng cao cấp ,
hàng thời trang…phục vụ cho các thị trường nội địa và các nước phát triển khác như
Cán cân 408 -649 -1537 -1441
Hàng may mặc
Nhập khẩu 49305 55494 58036 59433 20.5
Xuất khẩu 14112 15364 16619 17361 23.0
Cán cân -35192 -40130 -41417 -42072
(Nguồn : Cơ quan Thống Kê của Liên minh Châu Âu)
Tình hình xuất khẩu
+ Mặt hàng dệt
Xuất khẩu giai đoạn 2005-2008 giảm 0.2% . Trong thị trường nhập khẩu mặt hàng
dệt của EU nhiều năm liền Mỹ là thị trường nhập khẩu mặt hàng dệt lớn nhất của
EU, chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt của EU trong năm 2008. Đứng
thứ 2 là Tusinia (7.8%) , Thổ Nhĩ Kỳ (7.8) , kế đến là Ma rốc (6.9%) , Thụy Sĩ
(6.7%) …
Bảng 9 : Top 10 thị trường nhập khẩu hàng dệt của EU-27 giai đoạn 2005-2008
Đơn vị : Triệu
Euro
2005 2006 2007 2008 Tỷ lệ (%) Tỷ lệ % tăng
trưởng giai
đoạn 2005 -
2008
Thế giới 18482 19220 19392 18444 100 -0.2
Mỹ 2687 2668 2493 2037 11 -24.2
Tunisia 1327 1352 1447 1438 7.8 8.4
Thổ Nhĩ Kỳ 1547 1549 1609 1434 7.8 -7.3
Ma rốc 1232 1278 1333 1264 6.9 2.6
Thụy sĩ 1101 1197 1199 1240 6.7 12.6
Nga 816 1003 1084 1137 6.2 39.3
Trung Quốc 628 707 784 827 4.5 31.7
Hồng Kong 937 959 897 754 4.1 -19.5
Ucraina 608 633 620 564 3.1 -7.2
Quốc vào EU . Trong những tháng đầu năm 2005, EU đã ép Trung Quốc buộc phải
ký kết một thỏa thuận mới nhằm hạn chế sự gia tăng xuất khẩu hàng may mặc của
nước này sang EU cho tới năm 2008 . Mới đây, hét năm 2008 sau khi thời hạn áp
dụng hạn ngạch đã kết thúc, để tránh việc hàng dệt may Trung Quốc tràn vao thị
trường như đã từng xảy ra vào năm 2005 , EU đã thỏa thuận với Trung Quốc thiếp
lập một hệt thống giám sát kép hang dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc trong vòng 1
năm , thông qua cơ chế cấp phép.
Mặc dù bị áp dụng hạn ngạch như vậy nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục là
quốc gia cung cấp cả về mặt hàng dệt lẫn quần áo may sẵn hàng đầu cho EU trong
nhiều năm liền
+Mặt hàng dệt
Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2005-2007 tăng 10% . Bình quân mỗi năm
tăng 2%. Năm 2008 đạt 79.3 tỷ EURO. Nhà cung cấp chủ yếu cho EU là Trung
Quốc (chiếm 39% tổng giá trị nhập khẩu của EU) , kế đến là Thổ Nhĩ Kỳ (14%),
Băngladet (6.3%) và Tusinia (3.6%)…
Bảng 11 : Top 10 nhà xuất khẩu hàng dệt vào EU-27 giai đoạn 2005-2008
Đơn vị: Triệu
Euro
2005 2006 2007 2008 Tỷ lệ (%) Tỷ lệ %
tăng trưởng
giai đoạn
2005 - 2008
Thế giới 18074 19868 20930 19885 100.0 10.0
Trung Quốc 4081 4885 5451 5613 28.2 37.5
Thổ Nhĩ Kỳ 3328 3677 3815 3418 17.2 2.7
Ấn Độ 2028 2210 2398 2225 11.2 9.7
Pakistan 1246 1394 1546 1472 7.4 18.1
Mỹ 894 987 954 924 4.6 3.4
Thụy Sĩ 935 943 982 902 4.5 -3.6
Hàn Quốc 803 737 799 676 3.4 -15.8
2.4.1 Cơ hội
Thị trường EU là thị trường tiềm năng cho hàng dệt may Việt Nam nói riêng và
các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển khác nói chung .Đặc điểm của thị
trường EU là rất đa dạng về phân khúc thị trường và thu nhập đầu người rất cao.
Nhu cầu về hàng dệt may của người dân EU ngày càng có xu hướng gia tăng theo
hướng các sản phẩm thời trang , khoảng hơn 70 tỷ EURO/năm hàng dệt may của
EU được nhập từ các nước bên ngoài . Một điều thuận lợi nữa đó là , ngược với xu
thế ngày càng tăng của nhu cầu , tốc độ phát triển ngành dệt may của các nước EU
có xu hướng giảm xuống về mặt số lượng và lao động ( nếu như năm 2004 số
doanh nghiệp dệt may của EU là 234606 doanh nghiệp và số lao động là 2832000
lao động thì đến năm 2006 giảm còn 223012 doanh nghiệp và 2448700 lao động ).
Như vậy , có thể thấy thị trường EU trong tương lai sẽ tạo ra cơ hội rất lớn cho xuất
khẩu hàng dêt may của nước ta.
Hàng dệt may Trung Quốc sau khi được dỡ bỏ hạn ngạch vào năm 2005 đã tràn
ngập thị trường EU , de dọa đến ngành sản xuất dệt may của EU . Trong năm 2008,
EU đã áp dụng cơ chế giám sát hàng dệt may Trung Quốc. Mặt khác, các quốc gia
EU không muốn lệ thuộc hoàn toàn và hàng của Trung Quốc, do đó chuyển sang xu
hướng thích sử dụng hàng hóa của các quốc gia khác. Vì thế , đây sẽ là cơ hội mới
cho doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam để thâm nhập sâu hơn vào thị trường
này.
Hệ thống các rào cản thương mại của thị trường EU rất cao đối với hàng dệt may
nhập khẩu với hàng loạt các tiêu chuẩn quốc tế rất cao như : ISO 9000 (tiêu chuẩn
liên quan đến Hệ thống quản lý chất lượng), ISO 14000 (tiêu chuấn liên quan đến
Hệ thống quản lý mội trường), SA 8000 (tiêu chuẩn liên quan đến Trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp), ngoài ra còn có qui định về đóng gói , nhãn môi trường …
cho nên để xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU thì buộc các doanh
nghiệp phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của mình theo các tiêu chuẩn như ISO
9000, ISO 14000, SA 8000 … Như vậy, những điều kiện của thị trường EU đã gián
tiếp làm cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam tiến đến các tiêu chuẩn thế
giới và làm tăng khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế
Theo thống kê của Hiệp Hội Dệt may Việt Nam , nếu phân loại theo nguồn
vốn sở hữu thì số doanh nghiệp dệt may ngoài quốc doanh tại Việt Nam là 1490
doanh nghiệp , doanh nghiệp nhà nước là 10 doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là 500 doanh nghiệp .Còn nếu phân loại theo số lao động thì có
1270 doanh nghiệp có dưới 500 lao động , 399 doanh nghiệp có từ 500 đến 1000 lao
động , 244 doanh nghiệp có từ 1000 đến 5000 lao động và chỉ có 8 doanh nghiệp có
từ 5000 lao động trở lên. Như vậy có thể thấy số lượng doanh nghiệp dệt may có
quy mô nhỏ và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm đa số tại Việt Nam .
Bảng 13 : Thống kê tạm tính năng lực sản xuất ngành dệt may Việt Nam năm
2008
1. Số lượng doanh nghiệp trên : 2000
Phân loại Loại hình Số lượng Tỷ lệ
Phân theo vốn
Nhà nước 10 0.50%
TNHH và Cổ phần 1490 74.50%
FDI 500 25%
Phân theo địa
phương
Miền Bắc 300 15%
Miền Trung 150 7.50%
Miền Nam 1550 77.50%
Phân theo nhóm
sản phẩm
Dệt & May 600 30%
May 1360 68%
Kéo sợi 40 2%
( Nguồn : Hiệp hội dệt may Việt Nam )
Nếu phân theo địa phương thì hầu hết các doanh nghiệp dệt may đều tập
trung ở các tỉnh/thành phố ở miền Nam (77.5%) : Hồ Chí Minh , Đồng Nai , Bình
Dương, Long An… Ở miền Bắc (15%) : Hà Nội , Hải Phòng , Nam Định …và một
* Weaving - Dệt
* Knitting - Dệt kim
* Non-woven - Không dệt
* Finishing - Hoàn tất
Triệu m2
1000 tấn
1000 tấn
Triệu m2
700
200
10
700
3. Downstream – Hạ nguồn
* Garment – May mặc
* Terry towel – Khăn bông có
vòng tuyết
Triệu sp
1000 tấn
2000
38
( Nguồn : Hiệp hội dệt may Việt Nam )
Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu
nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Việc phát triển các vùng nguyên liệu
cũng gặp phải khó khăn do yếu tố khách quan do điều kiện thời tiết, giá cả khiến
cho ngành nguyên phụ liệu vẫn chưa là động lực thúc đầy cho ngành dệt may Việt
Nam. Dưới đây là sơ lược về tình hình sản xuất bông ỏ Việt Nam những năm gần
đây:
Tình hình sản xuất bông Việt Nam
Về các điều kiện tác động đến sản xuất
Trong thực hiện sàn xuất bông ở Việt Nam , thời tiết , khí hậu là yếu tố tác động