Những quy định đặc thù trong việc giải quyết phá sản tổ chức tín dụng - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CAO ĐĂNG VINH

NHỮNG QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN TỔ CHỨC
TÍN DỤNG

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU

Chương 1:

1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG QUY

8

ĐỊNH ĐẶC THÙ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT PHÁ
SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG


1.1.2.4. Các hoạt động kinh doanh khác

13

1.2.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng những quy định
đặc thù trong việc giải quyết phá sản tổ chức tín dụng

13

1.2.1.

Xuất phát từ vai trò quan trọng của các tổ chức tín dụng
trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của nền tài chính
quốc gia

14

1.2.2.

Xuất phát từ tính chất rủi ro cao trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng

16

1.2.3.

Xuất phát từ sự ảnh hưởng của việc phá sản tổ chức tín dụng


24

1.3.1.

Kinh nghiệm của một số nước trong việc xử lý tổ chức tín
dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán

24

1.3.1.1. Kinh nghiệm giải quyết phá sản tổ chức tin dụng của Hoa Kỳ

24

1.3.1.2. Kinh nghiệm giải quyết phá sản tổ chức tin dụng của Cộng
hòa Liên bang Nga

27

1.3.1.3. Kinh nghiệm giải quyết phá sản tổ chức tín dụng của Cộng
hòa Pháp

29

1.3.1.4. Kinh nghiệm giải quyết phá sản tổ chức tín dụng của Cộng
hòa Armenia

30

1.3.1.5. Kinh nghiệm giải quyết phá sản tổ chức tín dụng của Cộng


36

1.3.2.


1.3.2.4. Vai trò can thiệp, hỗ trợ mạnh mẽ của cơ quan quản lý hoạt
động tổ chức tín dụng và tổ chức bảo hiểm tiền gửi vào quá
trình giải quyết phá sản các tổ chức tín dụng

37

1.3.2.5. Thủ tục phục hồi tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất
khả năng thanh toán được tiến hành sớm; việc Tòa án mở
thủ tục phá sản thường đồng nghĩa với việc mở thủ tục thanh
lý tài sản của tổ chức tín dụng

39

1.3.2.6. Pháp luật các nước chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền khi tổ chức tín dụng bị phá sả

39

1.3.2.7. Việc giải quyết phá sản tổ chức tín dụng ưu tiên thực hiện
với phương thức chuyển giao nguyên trạng tổ chức tín dụng
thông qua các hình thức sáp nhập, hợp nhất với tổ chức tín
dụng khác

40

45

2.1.1.3. Thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm soát đặc biệt

46

2.1.1.4. Nhiệm vụ của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám
đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt

48

2.1.1.5. Thời hạn kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

49

2.1.2.

50

Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tín dụng
tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán


2.2.

Nhận định về việc áp dụng pháp luật phá sản hiện hành đối
với tổ chức tín dụng

52

2.2.5.

Vấn đề áp dụng các loại thủ tục sau khi Toà án ra quyết định
mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng

58

2.2.6.

Về thứ tự phân chia tài sản phá sản của tổ chức tín dụng

61

Chương 3:

62

KIẾN NGHỊ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỔ CHỨC TÍN DỤNG LÂM
VÀO TÌNH TRẠNG MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN

3.1.

Quan điểm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tổ chức tín
dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán

62

3.1.1.



64

3.1.6.

Tạo cơ chế khuyến khích và tăng cường tính chủ động của
các chủ nợ và các tổ chức, cá nhân khác trong việc giải
quyết phá sản tổ chức tín dụng

65


3.2.

Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tổ
chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán

65

3.2.1.

Cần làm rõ mối quan hệ giữa quy chế kiểm soát đặc biệt và
thủ tục phá sản cũng như bước chuyển từ tình trạng kiểm
soát đặc biệt sang tình trạng phá sản

66

3.2.2.

Về xác định tình trạng mất khả năng thanh toán làm căn cứ


3.2.7.

Về hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng sau khi có
quyết định mở thủ tục phá sản

78

3.2.8.

Về quản lý tài sản của tổ chức tín dụng sau khi mở thủ tục
phá sản

80

3.2.9.

Về xử lý các khoản nợ của tổ chức tín dụng lâm vào tình
trạng phá sản

82

3.2.10.

Nghiên cứu xác định thời điểm, tư cách pháp lý của tổ chức
bảo hiểm tiền gửi khi tham gia vào quan hệ phá sản tổ chức
tín dụng

82



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc
mọi thành phần kinh tế được Nhà nước khuyến khích thành lập và tạo điều kiện
hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể tránh khỏi hiện tượng, bên cạnh những
doanh nghiệp được thành lập và kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm
và công ăn việc làm cho người lao động, góp phần cho sự ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội, còn có một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do nhiều
nguyên nhân khác nhau đã và đang làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, nợ nần chồng
chất, không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính của mình. Đối với những
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đó, pháp luật các nước trên thế giới đã có
một hệ thống pháp luật riêng để xử lý, đó là pháp luật về phá sản. Phá sản trong
nền kinh tế thị trường là hiện tượng và xu hướng tất yếu của quá trình cạnh
tranh, chọn lọc tự nhiên để loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, khẳng định
sự tồn tại và phát triển đối với doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả [2].
Luật Phá sản doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/7/1994 là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện vấn đề phá
sản doanh nghiệp. Tiếp đó, Luật Phá sản (sửa đổi, bổ sung) đã được Quốc hội
thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004 thay thế Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc áp dụng thủ
tục phá sản, bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ, góp phần quan trọng vào việc
hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạt động xử lý nợ của các doanh
nghiệp, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tài chính, làm cho môi trường
kinh doanh trở nên lành mạnh hơn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, hợp tác xã
ra đời, tồn tại và kinh doanh nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau, có vị
thế khác nhau trong nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp kinh doanh những lĩnh vực


thanh lý tài sản, tuy nhiên, nghị định này không áp dụng đối với các tổ chức tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm. Theo nghị định này thì "việc áp dụng Luật Phá sản

2


đối với các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài
chính thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ" [6, Điều 2]. Tuy nhiên, cho
đến nay, Chính phủ mới ban hành được Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày
03/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài
chính khác. Trong khi đó, đối với các TCTD thì Luật Các TCTD năm 1997 (sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2002) có quy định về phá sản TCTD như sau:
Sau khi Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản về việc không
áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng
thanh toán của tổ chức tín dụng mà tổ chức tín dụng đó vẫn mất khả
năng thanh toán nợ đến hạn, thì có thể bị Tòa án mở thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá
sản [19, Điều 98]; ...
Trong trường hợp tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản, việc
thanh lý của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của
pháp luật về phá sản [19, Điều 100].
Như vậy, cho đến nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể việc áp
dụng thủ tục phá sản đối với các TCTD. Vấn đề hoàn thiện quy định về phá
sản các TCTD lại càng trở nên quan trọng trong bối cảnh các ngân hàng
thương mại được thành lập với số lượng khá lớn thời gian vừa qua và chất
lượng hoạt động cũng còn hạn chế. Chính vì vậy, các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cũng đang khẩn trương nghiên cứu tìm kiếm một mô hình pháp lý
phù hợp cho việc giải quyết phá sản TCTD để có thể áp dụng hiệu quả ở Việt
Nam đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.

vào tình trạng phá sản phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng cũng đáp ứng
yêu cầu thực tiễn của Việt Nam. Sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các
phương pháp nghiên cứu cụ thể nêu trên sẽ góp phần đưa đến thành công
của luận văn.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ thực trạng pháp luật
hiện hành về phá sản và yêu cầu đặc thù trong hoạt động của các TCTD, luận
văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất cơ chế, quy định đặc thù
nhằm giải quyết một cách có hiệu quả các TCTD lâm vào tình trạng phá sản.
Cụ thể, luận văn sẽ có những đóng góp mới sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
áp dụng cơ chế riêng cho việc giải quyết TCTD lâm vào tình trạng phá sản;
- Nhận diện và trình bày những mô hình pháp lý áp dụng cho việc giải
quyết TCTD lâm vào tình trạng phá sản trên thế giới;

6


- Xác định những điểm đặc thù của việc giải quyết TCTD lâm vào tình
trạng phá sản so với so với giải quyết phá sản các loại hình doanh nghiệp kinh
doanh thông thường;
- Đánh giá thực trạng pháp luật phá sản và pháp luật có liên quan của
Việt Nam và khả năng áp dụng cho việc giải quyết TCTD lâm vào tình trạng
phá sản. Thông qua đó, xác định những vướng mắc, khó khăn của việc áp
dụng pháp luật phá sản đối với các TCTD trong thời gian vừa qua;
- Kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết
TCTD lâm vào tình trạng phá sản và các quy định pháp luật có liên quan nhằm
xây dựng các quy định phù hợp, có hiệu quả cho việc giải quyết phá sản TCTD.
6. ý nghÜa lý luËn vµ thùc tiÔn cña luËn văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì TCTD là doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động ngân hàng (gồm
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng) với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán [19, Điều 20]. Như vậy, TCTD cũng là một loại hình doanh
nghiệp nhưng TCTD có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó, có thể nhận
biết và phân biệt chúng với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực,
ngành, nghề khác trong nền kinh tế. Cụ thể:
- TCTD là một loại doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là
tiền tệ, một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế.
- TCTD là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. Nội dung
kinh doanh chủ yếu của TCTD là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, TCTD còn có thể thực
hiện các nghiệp vụ khác như cho kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm...

8


- TCTD là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của Ngân
hàng Nhà nước (NHNN).
Các TCTD được thành lập và tồn tại theo các hình thức pháp lý do
pháp luật quy định. Mỗi loại hình TCTD được tổ chức theo từng phương thức
có đặc điểm riêng và thực hiện hoạt động kinh doanh trong phạm vi được
pháp luật quy định.
- Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ, các TCTD có thể được chia
thành: tổ chức tín dụng nhà nước; tổ chức tín dụng cổ phần; tổ chức tín dụng
hợp tác; tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài.
- Căn cứ vào phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, TCTD có thể
được phân chia thành hai loại: tổ chức tín dụng là ngân hàng và tổ chức tín

kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi
được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi
tiền. Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín
dụng khác. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ
một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của NHNN.
- Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá: Các giấy tờ có giá
do TCTD phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường
vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi trong đó, TCTD
cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời hạn nhất định. TCTD được
phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động
vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của NHNN.
- Huy động bằng vay vốn giữa các TCTD: Ngoài việc huy động vốn
của dân cư và của các tổ chức kinh tế - xã hội, pháp luật còn cho phép TCTD
được vay vốn của các TCTD trong nước và các TCTD nước ngoài. Các
TCTD cho nhau vay chủ yếu được thực hiện trên thị trường liên ngân hàng
thông qua hợp đồng tín dụng. Việc vay vốn giữa các TCTD nhằm điều hòa,
phân phối vốn để tăng cường khả năng thanh toán, bảo đảm an toàn, hiệu quả
cho hoạt động của từng TCTD.

10


- Vay vốn của NHNN: TCTD là ngân hàng được vay vốn ngắn hạn của
NHNN dưới hình thức tái cấp vốn thông qua các hình thức: Cho vay lại theo
hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác; cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính
phủ chấp thuận, NHNN cho vay đối với TCTD tạm thời mất khả năng chi trả,
có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD.
1.1.2.2. Hoạt động cấp tín dụng

nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
- Bảo lãnh ngân hàng: là một hình thức cấp tín dụng của TCTD, theo
đó, TCTD cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho khách
hàng được bảo lãnh nếu đến hạn mà khách hàng được bảo lãnh không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của. TCTD được bảo lãnh vay, bảo
lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình
thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ chức, cá nhân.
1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ là hoạt động ngân hàng gắn
liền với các hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng. TCTD được mở tài
khoản tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng khác. Riêng TCTD có nhận
tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN và duy trì tại đó số dư bình
quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do NHNN quy định. TCTD là ngân
hàng còn được mở tài khoản cho khách hàng trong nước và ngoài nước, được
thực hiện các dịch vụ thanh toán: Cung ứng các phương tiện thanh toán; Thực
hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Thực hiện dịch vụ thanh
toán quốc tế khi được NHNN cho phép; Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi
hộ; Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do NHNN quy định.
TCTD được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
Các TCTD là ngân hàng được tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia
hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống
thanh toán quốc tế phải được NHNN cho phép.

12


1.1.2.4. Các hoạt động kinh doanh khác
Theo quy định của pháp luật hiện hành, TCTD có thể thực hiện một số
hoạt động kinh doanh khác như:
- Được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của

nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của TCTD cũng như của các chủ nợ,
con nợ của TCTD. Tuy nhiên, theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới (WB)
thì "đối với các ngành khác, nếu một Công ty hoạt động không hiệu quả thì
phải phá sản, nhưng với ngành ngân hàng thì việc phá sản là điều khó có thể
chấp nhận được, vì nó tạo ra hiệu ứng hệ thống, gây ra những tác động khó
lường" [43]. Nghiên cứu pháp luật phá sản các nước đều cho thấy một thông
lệ chung là có những quy định đặc thù về giải quyết phá sản áp dụng đối với
TCTD, trong đó có ngân hàng, cho dù đó có thể là những quy định về phá sản
TCTD tách biệt hẳn so với pháp luật phá sản các doanh nghiệp thông thường
khác hoặc trên nền tảng pháp luật phá sản chung, người ta thiết lập cơ chế đặc
thù áp dụng cho TCTD.
Theo hướng dẫn của UNCITRAL thì việc phá sản TCTD lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán cũng cần được quy định đặc biệt so với việc
phá sản các loại hình doanh nghiệp thông thường. Việc cần thiết có quy định
xử lý đặc thù đối với TCTD lâm vào tình trạng phá sản có thể được lý giải bởi
chính những yếu tố đặc thù trong hoạt động của các TCTD sau đây.
1.2.1. Xuất phát từ vai trò quan trọng của các tổ chức tín dụng
trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của nền tài chính quốc gia
Thị trường tài chính, trong đó có thị trường tín dụng là "mạch máu"
cho sự sống của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Một quốc gia muốn phát
triển thì không thể không phát triển thị trường tín dụng, một kênh huy động
vốn nhanh chóng và có hiệu quả. Trong cơ cấu thị trường tài chính, thị trường
tín dụng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Thị trường tín dụng có ý nghĩa
quyết định đối với việc huy động và phân bổ các nguồn vốn nhàn rỗi một
cách tiết kiệm và hiệu quả. Thị trường tín dụng phát triển và lành mạnh là một

14


nhân tố cần thiết đảm bảo sự an toàn của các định chế tài chính, cũng như sự


lực tối đa có thể, không để sự sụp đổ của một TCTD kéo theo sự sụp đổ của
hệ thống TCTD đang hoạt động, ảnh hưởng đến nền tài chính quốc gia.
1.2.2. Xuất phát từ tính chất rủi ro cao trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng
Kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn
các hoạt động kinh tế khác, bản chất của nghiệp vụ ngân hàng là trung gian
tín dụng, tức là đi vay để cho vay. TCTD hoạt động với tư cách là một tổ chức
trung gian tài chính trong nền kinh tế, chủ yếu dựa vào uy tín của mình để huy
động vốn từ khu vực thừa vốn để cấp tín dụng cho khu vực có nhu cầu về vốn
(sử dụng nguồn vốn đi vay để cho vay). Khác với các doanh nghiệp sáng tạo
ra hàng hóa hữu hình như lúa, gạo, xe máy, ôtô,..., sản phẩm của một TCTD
là những dịch vụ, hoạt động theo phương châm "đi vay để cho vay" với loại
hàng hóa tiền tệ, hoạt động TCTD được định nghĩa là hoạt động kinh doanh
tiền tệ. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, mục tiêu lớn nhất của các
TCTD là lợi nhuận. Để đạt được lợi nhuận cao, các TCTD thường lấy vốn
huy động (Tài sản Nợ) ngắn hạn để đầu tư vào Tài sản Có dài hạn hơn nhằm
lợi dụng chênh lệch lãi suất trong khung lãi suất lũy tiến theo thời gian.
TCTD đóng vai trò là trung gian, cầu nối giữa một bên có vốn tạm
thời dư thừa và một bên cần vốn cho nhu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh
hoặc tiêu dùng. Bất kỳ lúc nào thì TCTD cũng chỉ dự trữ một một lượng tiền
rất nhỏ so với tổng số tiền mà khách hàng đã gửi. Đặc thù của tiền gửi là
không có kỳ hạn (cho dù đấy là tiền gửi 12 tháng, 2 năm... nhưng khách hàng
vẫn có đủ cơ hội để rút tiền trước so với thời hạn gửi tiền), nhưng ngược lại,
bất kỳ một khoản vay nào cũng có kỳ hạn. Điều đó có nghĩa là người gửi tiền
thì bất kỳ lúc nào cũng có thể rút tiền gửi từ TCTD, song tiền của họ đang
được người khác sử dụng và TCTD lại không thể muốn thu hồi về bất kỳ lúc
nào cũng được. Mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu rút tiền, một bên là lượng
dự trữ nhỏ bé tại TCTD luôn có khả năng tạo ra trận cuồng phong, nếu TCTD
thiếu những biện pháp phòng thủ.

liên kết này, niềm tin của người gửi tiền vào một TCTD nhất định bị lung lay
có thể dẫn đến sự đổ vỡ niềm tin của công chúng vào hệ thống TCTD. Bất kỳ
một sự biến động bất thường nào từ tổ chức và hoạt động của TCTD cũng rất

17


dễ gây ra cho người gửi tiền tâm lý bất an, từ đó dẫn tới tình trạng sợ hãi và
tháo chạy là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ của TCTD.
Qua phân tích trên cho thấy, tình trạng mất khả năng thanh toán của
một TCTD luôn có thể xảy ra, tuy nhiên, điều này xuất phát từ đặc điểm riêng
có trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của TCTD chứ không phải do TCTD
này hoạt động không tốt dẫn đến mất khả năng thanh toán. Chính đặc điểm
này cho ta thêm một lý do từ chối xếp các TCTD chung với các doanh nghiệp
khác khi xác định điều kiện phá sản.
1.2.3. Xuất phát từ sự ảnh hƣởng của việc phá sản tổ chức tín
dụng đối với hệ thống tài chính quốc gia
Hoạt động của TCTD là hoạt động mang tính hệ thống cũng là một
đặc điểm để cho thấy sự cần thiết phải có cơ chế xử lý đặc thù khi giải quyết
phá sản TCTD. Nếu như hoạt động thanh toán là việc riêng của mỗi doanh
nghiệp thì đối với TCTD nó luôn mang tính hệ thống. Trong hệ thống đó, mỗi
TCTD chỉ là một mắt xích nhỏ bé và sự đổ vỡ của một TCTD nào đó sẽ dễ
kéo theo sự đổ vỡ của các TCTD khác. Vì vậy, việc phá sản TCTD có ảnh
hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế xã hội, tác động trực tiếp đến an ninh
kinh tế và ổn định đời sống xã hội.
Các TCTD, trong đó nòng cốt là các ngân hàng thương mại thực hiện
toàn bộ các hoạt động kinh doanh ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan, bao gồm các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Các quan hệ tín dụng được dựa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status