Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng - Pdf 12

1 Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng

2 §Ò tµi:
§Ò tµi: §Ò tµi:
§Ò tµi:
Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về

hình quản lý và hoạt động của các Ngân hàng Việt Nam, nhằm mục đích
nâng cao tính an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới, thời kỳ
của hội nhập kinh tế quốc tế và sự đa dạng hoá các dịch vụ tài chính ngân
hàng.”
Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, NHNN Việt Nam đã tiến hành thiết
kế những mẫu mới, phù hợp hơn cho các tổ chức tín dụng (TCTD).
Trước đây trong quyết định 488 chúng ta mới chỉ quy định một mức sàn
chung mang tính “định lượng” cho tất cả các TCTD thì trong quyết định 493
này còn cho phép các tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện được
thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp “định
tính”. Đây là một sự thay đổi về chất, chuyển việc phân loại nợ từ định tính
sang định lượng và tiến gần hơn theo chuẩn mực quốc tế. Do đó, quyết định
493 này đã đưa ra mức sàn phù hợp hơn với quy mô của mỗi TCTD. Từ
mức sàn tối thiểu đó mà các ngân hàng sẽ tuỳ thuộc vào thực trạng của mình
mà điều chỉnh. TCTD có quy mô lớn, phức tạp thì việc thiết kế cũng phức
tạp. Ngược lại, những TCTD nhỏ thì việc làm này đã đơn giản hơn, không
phải anh lớn hay bé đều áp dụng chung 1 mức chung dẫn đến tăng chi phí
không cần thiết. Nếu là TCTD càng lớn thì việc phân loại nợ và trích lập dự
phòng càng đa dạng và khó khăn hơn, ngược lại với các TCTD nhỏ việc làm
này sẽ giản đơn hơn, sẽ làm giảm chi phí quản lý. Nhưng về mặt quản lý
Nhà nước, những ngân hàng chất lượng thấp hơn thì thanh tra ngân hàng sẽ
đánh giá xem mức sàn đó đã được chưa, nếu chưa được thì phải nâng lên.
4
Đó là thay đổi cơ bản giữa việc đưa ra cùng một mức sàn với việc chỉ đưa ra
hướng để tự các ngân hàng áp dụng theo điều kiện của mình.

II. Nội dung chính:

Ngày 22/4/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập

Tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, trừ ngân hàng Chính sách Xã hội,
phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng theo quy định này.

2. Các khái niệm cần chú ý

- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng : là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghỉa vụ của
mình theo cam kết.
- Dự phòng rủi ro : là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa
vụ theo cam kết. Và dự phòng rủi ro này được tính theo dư nợ gốc và hạch
toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Bao gồm :
+ Dự phòng cụ thể : là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ
thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thẩt có thể xảy ra.
+ Dự phòng chung : là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự
6
phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức
tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.
- Sử dụng dự phòng : là việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro để bù
đắp tổn thất đối với các khoản nợ.
- Nợ : 4 nhóm
+ Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính;
+ Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
khác;
+ Các khoản bao thanh toán;
+ Các hình thức tín dụng khác.
- Nợ quá hạn : là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã

+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác theo quy định .

- Nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ) bao gồm :
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại .
+ Các khoản nợ khác theo quy định .

- Nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm :
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
8
+ Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý;
+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác theo quy định .

* Quy định :
+ Khi khách hàng có nhiều hơn 1 khoản nợ đối với tổ chức tín dụng mà
có bất kì khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín
dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào
các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
+ Khi tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của
khách hàng bị suy giảm thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phân
loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ
rủi ro.

b. Định tính

 Căn cứ trên Hệ thống tín dụng nội bộ, tổ chức tín dụng trình Ngân hàng
nhà nước chính sách dự phòng rủi ro và chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng
Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
- Điều kiện để Ngân hàng Nhà nước chấp thuận chính sách dự phòng rủi ro :
+ Hệ thống xếp hạng tín dụng đã được áp dụng thử nghiệm tối thiểu một
năm;
+ Kết quả xếp hạng tín dụng được Hội đồng quản trị phê duyệt;
+ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh,
đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng;
10
+ Chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng,
phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó bao
gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín
dụng, các tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín
dụng;
+ Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Tổng
giám đốc trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếp
hạng tín dụng và chính sách dự phòng của tổ chức tín dụng và tính độc lập
của các bộ phận quản lý rủi ro;
+ Hệ thống thông tin có hiệu quả để đưa ra các quyết định, điều hành và
quản lý đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và thích hợp với
Hệ thống xếp hạng tín dụng và phân loại nợ.

4. Trích lập dự phòng cụ thể

a. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Nhóm 1 : 0 %
Nhóm 2 : 5%
Nhóm 3 : 20 %
Nhóm 4 : 50 %

Thương phiếu, giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng
khác
75
Chứng khoán của các tổ chức tín dụng khác 70
Chứng khoán của doanh nghiệp 65
Bất động sản ( gồm : nhà ở của dân cư có giấy tờ hợp
pháp và/hoặc bất động sản gắn liền với quyền sử dụng
đất hợp pháp)
50
Tài sản bảo đảm khác 30

5. Những nội dung cơ bản của hiệp ước Basel I

12
Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các
Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển bao g ồm
Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Canada… đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào
năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Sau khi nhóm họp, các cơ quan
này đã quyết định hình thành Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel
Committee on Banking supervision), đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý
hoạt động của các ngân hàng.
Năm 1988, Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp
ước về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động phải nắm
giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra.
Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của
ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo
trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục đích của Basel I nhằm:

- Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm


Chứng khoán phát hành bởi các c
ơ quan Nhà
nước
50% Các khoản vay thế chấp nhà ở,…
100%
Tất cả các khoản vay khác như trái phi
ếu của
doanh nghiệp, các khoản nợ từ các nư
ớc kém phát
triển, các khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất độ
ng
sản,…

Theo bảng trên, nếu một khoản vay không được bảo đảm trị giá 1.000 USD
của một tổ chức không phải ngân hàng sẽ có trọng số rủi ro là 100%. Tài sản
14
được điều chỉnh theo trọng số rủi ro lúc đó sẽ được tính bằng
1.000USDx100% = 1.000USD.
Ví dụ tiền mặt tại quỹ hay trái phiếu chính phủ có trọng số rủi ro là 0%, các
khoản vay cho khu vực tư nhân là 100%. Nhược điểm lớn nhất của quy định
này là không phân biệt các loại rủi ro đặc thù. Ví dụ tất cả các khoản vay của
khu vực tư nhân đều được gắn trọng số 100%, cho dù đó là khoản vay của
một công ty nổi tiếng như IBM hoặc của một doanh nghiệp địa phương
không có tên tuổi.
Basel II đã khắc phục nhược điểm này. Việc xếp trọng số bao nhiêu tùy
thuộc mức độ tín nhiệm (xếp hạng tín dụng) của chủ nợ. Điểm khác biệt nữa
trong Basel II là nợ được chia thành 5 nhóm có trọng số lần lượt là 0%,
20%, 50%, 100% và 150%.
Theo đó, các trọng số rủi ro khác nhau với các loại tài sản khác nhau sẽ cho

1.000
USD
200 USD 16 USD
15
Thế chấp nhà ở 50% 8%
1.000
USD
500 USD 40 USD
Vay không b
ảo
đảm
100% 8%
1.000
USD
1.000
USD
80 USD

Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có
tính đến rủi ro thị trường. Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị
trường chung và rủi ro thị trường cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến
những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường.
Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một loại tài sản nhất
định. Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãi
suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Rủi ro thị trường có thể được tính
theo 2 phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các
mô hình giá trị chịu rủi ro nội bộ của các ngân hàng. Những mô hình nội bộ
này chỉ có thể được sử dụng nếu ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn định
tính và định lượng được quy định trong Basel.


kết quả của quy trình này.
+ Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức
tối thiểu theo quy định.
+ Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân
hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi
ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.

17
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách
thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II
đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông
tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông
tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro
thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với
từng loại rủi ro này.
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức
này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt
động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi
ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro.

IV. Đánh giá:

1. Tiến bộ:

So với Quyết định 488,sự ra đời của Quyết định 493 đã đạt được những
tiến bộ sau:
- Tạo ra cơ sở pháp lý để các TCTD tiến hành việc xác định thực trạng tài
chính của mình một cách chính xác hơn, phù hợp với năng lực và khả năng
quản lý của các TCTD Việt Nam.
- Yêu cầu các TCTD phải có sự nhìn nhận đúng đắn, khách quan hơn về chất

vậy? Ông Lê Ngọc Quỳnh - Giám đốc Ban Quản lý tín dụng BIDV cho biết,
19
nếu thực hiện theo điều 6, Quyết định 493 thì tỷ lệ nợ xấu của BIDV chỉ là
3,2%. Do quyết định thực hiện phân loại nợ theo điều 7 - gần hơn với thông
lệ quốc tế nên con số này tăng lên 9,1%.
Thực hiện theo điều 7, đồng nghĩa với việc BIDV đang tiến hành một
"cuộc cách mạng" thực sự trong việc nâng cao chất lượng tín dụng. Ban
nghiên cứu thực hiện điều 7 Quyết định 493 được thành lập, tất cả giám đốc
chi nhánh và cán bộ tín dụng làm trực tiếp đều phải tham gia lớp tập huấn
thực hiện Quyết định 493. Xử lý nợ xấu được đặt lên hàng đầu. Ông Lê
Ngọc Quỳnh cho biết, mục đích của BIDV là nâng cao chất lượng tài sản
Có. Vì muốn chơi trong sân của WTO phải có chất lượng tốt. BIDV không
"làm đẹp" bảng cân đối mà là làm sạch thật sự.
Không phải bây giờ, mà từ lâu Ban lãnh đạo của BIDV đã xác định,
trước sau gì cũng phải thực hiện theo thông lệ quốc tế, nên không ngại việc
công bố công khai, trung thực các chỉ tiêu tài chính. BIDV đã thuê tư vấn
nước ngoài để phân loại khách hàng và xếp hạng tín dụng theo thông lệ quốc
tế. Các khách hàng được phân tích qua 14 chỉ tiêu tài chính và 40 chỉ tiêu
phi tài chính. Hơn 28.000 dữ liệu của khách hàng được đưa vào hệ thống xử
lý, chấm điểm dựa trên thang điểm từ 20-100 mà BIDV đã xây dựng, để
phân thành 5 nhóm nợ theo điều 7 Quyết định 493.
Ba năm nay BIDV thực hiện "thắt lưng buộc bụng" để trích dự phòng
rủi ro, tích cực thu hồi nợ xấu, đồng thời kiên quyết ngăn ngừa việc phát
sinh nợ xấu từ các khoản cho vay mới. Từ năm 2006, Tổng giám đốc BIDV
Trần Bắc Hà đã có những chỉ đạo quyết liệt trong việc thu hồi nợ xấu. Tất cả
các chi nhánh đều có Ban chỉ đạo thu hồi nợ xấu.Ban giám đốc của ngân
hàng cũng nhấn mạnh,việc thực hiện theo thông lệ quốc tế có thể sẽ làm mất
khách hàng, nhưng nâng cao chất lượng tín dụng mới là mục tiêu hàng đầu
của BIDV. Tốc độ tăng trưởng tín dụng dự tính chỉ đạt 10-15%, giảm hơn so
20

- Quyết dịnh 493 quy định việc phân loại nợ, lập dự phòng và sử dụng dự
phòng theo một khung chung đối với tất cả các tổ chức tín dụng, nhưng
trong thực tế các tổ chức tín dụng có thể áp dụng chính sách tín dụng và dự
phòng khác nhau dẫn đến việc so sánh tương quan tỉ lệ nợ xấu giữa các tổ
chức tín dụng trong một số trường hợp có thể không hiệu quả.
Trường hợp của Ngân hàng BIDV là một ví dụ. BIDV là ngân hàng
thương mại cổ phần thường cho vay theo chỉ định của chính phủ, cho vay
các khoản đầu tư có thời gian dài hạn. Khi áp dụng việc phân loại nợ theo
các quy định trước đây thì tỉ lệ nợ xấu của BIDV không cao bằng nhiều ngân
hàng, đặc biệt là các ngân hàng thường cho vay ngắn hạn ( bởi thời gian cho
vay ngắn nên rủi ro của các món nợ này ngay lập thức hiển hiện ). Nhưng
đến thời điểm QĐ 493 đi vào áp dụng vào tháng 5 năm 2005 cũng là lúc các
món cho vay dài hạn của BIDV tới hạn và nhiều doanh nghiệp đi vay trong
số đó đã không có khả năng chi trả được món vay làm cho tỉ lệ nợ xấu của
BIDV lúc này lại bị cao hơn nhiều so với mặt bằng các ngân hàng khác.
- Quy định 493 quy định việc phân loại nợ theo 2 phương pháp định tính
và định lượng. Tuy nhiên chỉ có các tổ chức tín dụng đủ tiêu chuẩn thì mới
được áp dụng việc phân loại nợ theo phương pháp định tính quy định tai
điều 7 QĐ 493 (như BIDV hay MBI bank), còn hầu hết các ngân hàng Việt
Nam hiện nay thì đều áp dụng việc phân loại nợ theo phương pháp định
lượng. Điều này đã tạo kẽ hở cho các Ngân hàng khai báo không chính xác
về tỉ lệ nợ xấu, nhất là thông qua việc gia hạn nhiều lần cho khách hàng. Có
2 lí do chính mà các Ngân hàng không muốn khai báo chính xác về tỉ lệ nợ
xấu thực tế đó là:
22
+ Tỉ lệ nợ xấu cao đồng nghĩa với trích dự phòng lớn, làm cho chi phí
tăng cao và thu nhập giảm. Năm 2007 vừa qua, một trong những lí do dẫn
đến việc Ngân hàng Vietcombank giảm thu nhập chính là việc trích lập dự
phòng tăng đột biến (1100 tỉ VND ) so với mức trích năm 2006 ( 170 tỉ
VND ).

có nhiều hơn một khỏan vay có quy định: nếu khách hàng có nhiều hơn một
món vay đối với tổ chức tín dụng mà có một món vay bị chuyển vào nhóm
nợ rủi ro cao hơn thì các món nợ còn lại của khách hàng cũng sẽ bị chuyển
vào nhóm nợ rủi ro cao hơn đó.
Quy định này rõ ràng đã giúp cho các tổ chức tín dụng chủ động hơn
trong việc quản lý rủi ro tín dụng nhưng điều làm cho các cán bộ tín dụng
băn khoăn và chưa được QD 493 đề cập tới, đó là khi đã thu hồi được khỏan
nợ ban đầu thì xử lí như thế nào đối với các món nợ bị chuyển theo vào
nhóm nợ xấu? Theo nhiêu cán bộ tín dụng thì về cơ bản, đây là các món nợ
tốt nên cần được chuyển về nhóm nợ ban đầu. Nhưng cũng có ý kiến cho
rằng việc khách hàng trả được món nợ ban đầu chưa thể đủ để đảm bảo khả
năng chi trả thực tế của khách hàng do đó vẫn nên giữ ở nhóm nợ rủi ro cao
hơn.
V. Một số sửa đổi nghị định 493:

Vừa qua NHNN đã ban hành Qưyết định 18/2007/QĐ – NHNN để sửa đổi,
bổ sung một số điều trong qđ 493.Vậy tại sao NHNN lại phải ban hành qđ
đó? sau đây tôi xin làm rõ điều này.
thứ nhất, theo qđ 18, các khoản bảo lãnh , chấp nhận thanh toán và cam kết
cho vay không huỷ ngang vô điều kiện và có thời điểm thực hiện cụ thể( gọi
24
chung là các cam kết ngoại bảng) phải được các NH đánh giá phân loại theo
5 nhóm thay vì chỉ phân vào nhóm 1 như qđ 493. Việc phân loại như vậy sẽ
giúp các NH phân loại nợ chặt chẽ hơn, phản ánh chính xác hơn rủi ro tín
dụng của NH.
Thứ hai, qđ 18 bổ sung thêm : các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày mà NH
đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn, thì vẫn được
phân loại vào nhóm 1. còn theo qđ 493 tất cả các khoản nợ quá hạn dù chỉ
một ngày để bị chuyển sang nhóm 2 trở lên.Việc bổ sung này giúp các NH
hạn chế buộc phải phân loại các khoản nợ quá hạn vài ngày vì lý do khách

tâm giao dịch chứng khoán và là 50% - nếu do các NH khác phát hành chưa
đ ược niêm yết trên sở giao dịch chứng khoản và trung tâm giao dịch chứng
khoán .Việc điều chỉnh này sẽ phù hợp hơn với thị trường chứng khoán của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi mà nhiều lúc giá thị trường của tài
sản đảm bảo này biến động nhiều và không phải lúc nào cũng phản ánh được
giá trị thực của tài sản đảm bảo.
Nhìn chung vịêc áp dụng qđ 18 sẽ giúp các NH phân loại nợ chặt chẽ hơn.
Áp dụng theo qđ này tỷ lệ quá hạn của các NH sẽ tăng hơn so với trước đây
nên phản ánh sát thực hơn về rủi ro tín dụng của NH.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status