ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HẰNG NHƯ
TRANH TỤNG GIỮA KIỂM SÁT VIÊN VÀ
NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA
HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------------------
NGUYỄN THỊ HẰNG NHƯ
TRANH TỤNG GIỮA KIỂM SÁT VIÊN VÀ
NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số
: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG
bảng
2.1
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của ngành Tòa án
từ 2002 – 2008.
2.2
Bảng tổng hợp tỷ lệ tỷ lệ bản án, quyết định bị
sửa của tòa án các cấp từ năm 2004 – 2007.
36
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH TỤNG GIỮA
KIỂM SÁT VIÊN VÀ NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI
PHIÊN TÒA HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.
Nhận thức chung về tranh tụng
VIÊN VÀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG PHIÊN
TÒA HÌNH SỰ
2.1.
Tình hình tranh tụng của Kiểm sát viên trong phiên tòa hình sự
2.1.1. Những ưu điểm của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên tòa
hình sự
34
34
2.1.2. Những tồn tại của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên tòa
38
2.2.
hình sự
Tình hình tranh tụng của Người bào chữa trong phiên tòa hình sự
46
2.2.1. Những ưu điểm của Người bào chữa trong tranh tụng tại phiên tòa
46
hình sự
2.2.2. Những tồn tại của Người bào chữa trong tranh tụng tại phiên tòa
3.2.1. Nâng cao năng lực, trình độ của Kiểm sát viên
72
3.2.2. Tăng cường giám sát hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa
hình sự
80
3.3.
Giải pháp đối với Luật sư với tư cách Người bào chữa
3.3.1. Nâng cao năng lực, trình độ và kỹ năng tranh tụng của Luật sư Người bào chữa
3.3.2. Tăng cường giám sát hoạt động của Người bào chữa tại phiên tòa
85
85
92
hình sự
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
100
MỞ ĐẦU
cao hiệu quả hoạt động của kiểm sát viên và Người bào chữa trong công tác
giải quyết vụ án, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư
pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập đến
vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự như: "Vấn đề tranh tụng hình sự" của
tác giả Nguyễn Đức Mai trong cuốn kỷ yếu: "Những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam" – Viện kiểm sát nhân dân tối cao
năm 1995; “Những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa
của Kiểm sát viên” của tác giả Lê Hữu Thể – Đề tài khoa học cấp bộ của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao năm 2005; Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, của
TS. Dương Thanh Biểu - Nhà xuất bản tư pháp, 2007; bài về “Bản chất của
tranh tụng tại phiên tòa” của tác giả Trần Văn Độ - Tạp chí khoa học pháp lý
số 4/2004; bài "Về tranh tụng tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh
Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2003; bài viết của nhiều tác giả trong
Đặc san nghề luật số 5/2003 về chuyên đề mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên
khảo "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền" do TSKH Lê Cảm và TS. Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, có nhiều
bài viết của các tác giả (Nxb Đại học quốc gia, 2004)...Theo đó, các công
trình chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định liên quan tranh tụng chứ chưa có
công trình nào nghiên cứu sâu riêng phần tranh tụng giữa Kiểm sát viên và
Người bào chữa tại phiên tòa. Mặt khác, qua tổng kết đánh giá thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã xuất hiện nhiều
tồn tại, vướng mắc và xung đột giữa các bên tham gia tố tụng cần phải được
2
tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các kiến giải lập pháp cũng như các giải pháp
tụng hình sự, xây dựng văn hóa pháp lý phiên tòa, nâng cao hiệu quả hoạt
động giám sát hoạt động của Kiểm sát viên, Người bào chữa trong tranh tụng
tại phiên tòa qua đó nâng cao chất lượng tranh tụng, hiệu quả xét xử vụ án
hình sự ở nước ta trước yêu cầu cải cách tư pháp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tranh tụng là vấn đề lớn trong hoạt động tố tụng, có nhiều nội dung
thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án nên trong phạm vi của
một luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề mà chỉ
dừng lại nghiên cứu vấn đề tranh tụng giữa hai chủ thể chính là Kiểm sát viên
và Luật sư bào chữa (Người bào chữa) tại phiên tòa.
Với phạm vi nghiên cứu này, luận văn nghiên cứu về tranh tụng tại phiên
tòa dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về tranh tụng tại
phiên tòa, về quyền, nghĩa vụ, vai trò của Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa trong
tranh tụng tại phiên tòa hình sự ; đồng thời qua đó chỉ ra vướng mắc trong hoạt
động thực tiễn của những chế định này, trên cơ sở khảo sát thực trạng về chất
lượng phiên tòa hình sự từ sau ngày Nghị quyết 08/NQ-TW ra đời. Từ đó đưa
ra những quan điểm, kiến nghị góp phần thực hiện tốt Nghị quyết 08/NQ-TW,
Nghị quyết 49/NQ-TW nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử nói
riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về pháp luật, về cải cách tư pháp. Bên cạnh đó, luận văn còn vận dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng nội dung nghiên cứu của đề
tài như: Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, báo cáo; phương pháp thống
kê, so sánh; phương pháp lịch sử.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH TỤNG GIỮA KIỂM SÁT VIÊN
VÀ NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Nhận thức chung về tranh tụng
1.1.1. Khái niệm về tranh tụng tại phiên toà hình sự
Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là
thành tựu của sự phát triển tư tưởng nền văn minh nhân loại. Tranh tụng là cơ
chế tố tụng có hiệu quả đảm bảo cho tòa án xác định sự thật khách quan của
vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo công bằng và bảo vệ các quyền
và lợi ích của các bên tham gia tố tụng. Hiện nay, trong thực tiễn và khoa học
pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng, hoạt động tranh tụng nói
chung và hoạt động tranh tụng của Người bào chữa - Luật sư, Kiểm sát viên
nói riêng.
Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện tụng [32]. Xét về
ngữ, tranh tụng là một từ Hán Việt được ghép từ “tranh luận” và “tố tụng”.
Còn tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có nghĩa là đối kháng,
đương đầu. Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố
tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội), mà giai đoạn đương đầu tại
Tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm. Tuy nhiên, không nên hiểu một cách giản
đơn tranh tụng là tranh luận, tranh cãi giữa các bên tại phiên tòa, mà phải hiểu
tranh trụng nó diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai bên tiến
hành một cách quyết liệt, khi công khai, lúc ngấm ngầm để “cạnh tranh”
nhau, để “chống” lại nhau. Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội
(công tố) cố gắng làm sao thuyết phục các quan tòa tin được rằng bị cáo là
người có tội, còn bên bị buộc tội, ngược lại, cố gắng và phải sử dụng mọi biện
pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏ những lời buộc tội do bên Công tố
6
trong tranh tụng, đảm bảo quyền lực tố tụng được san sẻ và đạt ở mức bình
đẳng giữa các bên trong tranh tụng.
Phân biệt giữa “ tranh tụng” và “ tranh luận” Tiến sỹ Nguyễn Thái Phúc
khi cho rằng, ở góc độ chung nhất, “tranh tụng” là quá trình tồn tại, vận động
và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng với nhau, có quyền ngang nhau
trong việc bảo vệ các ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập
luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, khi
xuất hiện chức năng buộc tội thì tất yếu xuất hiện chức năng bào chữa. Đó
chính là thời điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng… Còn “tranh luận” là một
thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa xét xử trong đó các bên buộc tội và
bào chữa thông qua phần trình bày của mình tổng hợp và đánh giá kết quả của
phần xét hỏi, phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án và đưa ra những
đánh giá chính trị - xã hội và đánh giá pháp lý đối với các hành vi của bị cáo,
đề nghị hình phạt và những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi
nghị án. Tranh luận là cuộc "đấu khẩu" với sự tham gia của các "bên" buộc tội
và bào chữa có quyền ngang nhau để bảo vệ các ý kiến, luận điểm của mình
và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên đối trọng dưới vai trò điều khiển và
quyết định của Tòa án. Tranh luận tạo cơ hội cho các bên trình bày những
đánh giá có tính kết luận của mình về các vấn đề của vụ án với Hội đồng xét
xử nhằm thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận những đề nghị của mình và
bác bỏ đề nghị của phía bên kia. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa thể hiện đậm
nét nhất, tập trung nhất và là đỉnh cao của quá trình tranh tụng. Tranh luận có
nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng [35].
Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi sự phân định rõ ràng về các chức năng
buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử, trong đó chức năng buộc tội
thuộc về bên công tố, chức năng gỡ tội thuộc bên Luật sư biện hộ và chức
năng xét xử thuộc về Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nội dung của nguyên
8
cũng không được để cho quá trình tranh tụng diễn ra theo ý chí chủ quan của
các bên.
Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành đã kết hợp được những
điểm tích cực của tố tụng xét xử và tố tụng tranh tụng. Tranh tụng tại phiên
tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều
tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không phải là “tố tụng tranh
tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người
có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa Kiểm sát viên, người bị hại với bị
cáo, Người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa Kiểm sát viên với
người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau. Trong tranh luận đại diện
Viện kiểm sát giữ quyền công tố và Luật sư vẫn là những người tham gia
chính. Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là
người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người
có quyền và lợi ích đối lập nhau. Do đó, vai trò của Hội đồng xét xử mà trực
tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục
đích là vô cùng quan trọng. Tranh tụng được hiểu là các hoạt động tố tụng
được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội)
có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ để bảo
vệ các quan điểm và lợi ích của mình và phản bác lại các quan điểm và lợi ích
của phía đối lập. Như vậy, có thể hiểu, Tranh tụng tại phiên tòa là những
hoạt động được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng,
trong đó Tòa án giữ vai trò trung gian, trọng tài thay mặt nhà nước xác định
sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên Tòa, nghe ý kiến của
các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách
khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.
Tranh tụng trong tố tụng hình sự có một ý nghĩa đặc biệt, nó chính là
biểu hiện của tố tụng hình sự nói chung, thể hiện rõ nét trong giai đoạn xét xử
11
cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng
tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động
tư pháp”.
Đối với tất cả các nền tư pháp trên thế giới, hoạt động tranh tụng bao
giờ cũng gắn với hoạt động tài phán của Tòa án. Tòa án thực hiện chức năng
như một trọng tài có địa vị độc lập với các bên và có nhiệm vụ phân xử giữa
các bên có quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau. Tại phiên tòa, Tòa án tiến
hành xác định sự thật một cách công khai và chính thức về vụ án. Do vậy với
vai trò quan trọng đó của Tòa án tại phiên tòa, để thực hiện nhiệm vụ nâng
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa có hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị cũng đã xác định rằng: “Khi xét xử, các
toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực
sự dân chủ, khách quan … việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu
vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các
chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Người bào chữa, bị cáo để ra những
bản án, quyết định đúng pháp luật... Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo
điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can,
nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên toà …”.
Phiên tòa là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, chỉ có đến giai
đoạn này thì mới có sự tập hợp đầy đủ các bên và đồng thời chỉ có thể thông
qua quá trình tranh luận công khai, minh bạch tại phiên tòa thì mọi tình tiết
của vụ án mới được làm sáng tỏ thông qua sự cọ xát về luận điểm của mỗi
bên. Cũng qua đó mà những chứng cứ đã được các bên thu thập theo quy định
của pháp luật được công khai phơi bày và kiểm chứng. Nếu tranh tụng tại
phiên tòa được các bên tham gia nghiêm túc thực hiện thì hiệu quả giải quyết
vụ án sẽ rất cao, khắc phục được việc xét xử oan, sai, bỏ lọt tội phạm, tình
trạng yếu kém của hệ thống tư pháp. Như vậy tranh tụng tại phiên tòa có giá
02/6/2005 của Bộ Chính trị tuy nhấn mạnh rất nhiều vấn đề tăng cường chất
13
lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, nhưng không hề đề cập tới việc
chúng ta sẽ chuyển sang hệ tố tụng tranh tụng. Hơn thế nữa các quan điểm chỉ
đạo cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh và khẳng định việc tiếp tục duy trì hệ
thống tố tụng thẩm vấn. Như vậy, hệ thống tố tụng hình sự ở nước ta hiện
nay thuộc về hệ thống tố tụng thẩm vấn, có đan xem những yếu tố của hệ
thống tố tụng tranh tụng. Cùng với việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa
án thì các Nghị quyết nói trên của Bộ Chính trị cũng đã đề cập đến việc nâng
cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và đội ngũ cán bộ tư pháp
và bổ trợ tư pháp như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan giám định, tổ
chức Luật sư bởi chất lượng và hiệu quả của việc tranh tụng tại phiên tòa phụ
thuộc rất nhiều ở kết quả giám định, thu thập chứng cứ, điều tra và kiểm sát
hoạt động điều tra, hoạt động bào chữa gỡ tội...
Sau khi có Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị,
Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã có văn bản gửi kèm Công văn số
13-CV/BCĐCCTP ngày 04/11/2002, trong đó đưa ra một số gợi ý về việc tổ
chức phiên tòa hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW. Trong đó
nêu rõ mục đích tổ chức phiên tòa hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08NQ/TW phải đảm bảo sự tôn nghiêm, dân chủ và văn minh của pháp luật, bảo
đảm phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, của Người bào chữa, bị
cáo, người làm chứng, người bị hại, người giám định, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc
những người đại diện hợp pháp của họ, góp phần nâng cao chất lượng xét xử
của Tòa án, nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Các
những gợi ý có tính chất định hướng đối với những người tham gia vào quá
15
trình tranh tụng cũng như những người tham dự phiên tòa khác. Theo đó Chủ
tọa - người điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa, phải đặt ra câu hỏi, xác
định những vấn đề để các bên tranh luận với nhau, hướng cho việc tranh luận
đi vào đúng vấn đề. Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân cũng phải chủ động nêu
vấn đề để các bên tranh luận làm sáng tỏ nội dung sự việc. Mọi hành vi tố
tụng phải theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bên tranh luận có
quyền yêu cầu bên kia giải thích những vấn đề chưa rõ, Chủ tọa phiên tòa
phải là người quyết định bên bị yêu cầu có phải trả lời yêu cầu đó hay không.
Đối với đại diện Viện kiểm sát phải bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát truy
tố bị cáo tại phiên tòa, chứng minh mọi luận điểm trong cáo trạng bằng việc
chủ động xét hỏi, thẩm vấn cùng Hội đồng xét xử và chú ý đưa ra những
chứng cứ để chứng minh tội phạm. Những chứng cứ gián tiếp phải đi sâu xem
xét tính lôgíc, sự liên hệ bên trong với các chứng cứ khác. Chú ý kiểm tra tính
có căn cứ và hợp pháp của chứng cứ mới phát sinh tại phiên tòa. Nếu tại
phiên tòa phát hiện được nhiều tình tiết mới khác với nội dung cáo trạng thì
phải giải quyết theo pháp luật tố tụng hình sự quy định, không được bỏ qua
những tình tiết đó. Lời luận tội phải trên cơ sở đánh giá tổng hợp các chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa
phải tranh luận, làm rõ cả những ý kiến, lời bào chữa của bị cáo, của Luật sư
hoặc của Người bào chữa khác và những người tham gia tố tụng khác, nhất là
trong trường hợp những ý kiến đó khác nhau. Phải đảm bảo việc tranh luận
thật sự bình đẳng, dân chủ, xác định sự thật của vụ án một cách khách quan,
toàn diện và đầy đủ.
Đối với Người bào chữa: được tự do tranh luận. Nếu được chủ tọa
xác định sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời, trong kết luận cũng nêu rõ,
để đảm bảo khách quan khi xét hỏi Chủ tọa phiên tòa chỉ nên hỏi có tính chất
nêu vấn đề, còn lại những câu hỏi có tính chất buộc tội hoặc gỡ tội dành cho
17
Kiểm sát viên và Người bào chữa. Mặc dù quy định Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng
trong đó có Tòa án nhưng tại phiên tòa nhiệm vụ chứng minh tội phạm vẫn
chủ yếu thuộc về Kiểm sát viên, vì vậy Hội đồng xét xử không được có những
lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ một vấn đề nào mà Kiểm sát viên,
Người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, cũng không
được đánh giá, nhận xét đúng sai ngay tại phiên tòa. Để phần tranh luận diễn
ra được dân chủ, khách quan, Hội đồng xét xử phải chú ý lắng nghe những ý
kiến của Kiểm sát viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác tránh
định kiến sẵn, đặc biệt phải chú ý lắng nghe ý kiến của Luật sư, của bị cáo về
những ý kiến khác với lời luận tội của Kiểm sát viên. Nếu trong quá trình
tranh luận có những tài liệu chứng cứ mới được đưa ra bởi bất cứ ai thì Hội
đồng xét xử có thể coi đó là chứng cứ để xác định sự thật của vụ án nếu có đủ
cơ sở về tính khách quan, chân thực của chứng cứ. Nếu chưa đủ căn cứ thì trả
hồ sơ và nếu có cơ sở rằng chứng cứ đó là giả thì bác bỏ trong phần nhận định
của bản án. Trong trường hợp bị cáo không có Người bào chữa hoặc tuy có
Người bào chữa nhưng bị cáo thấy cần bào chữa bổ sung thì Chủ tọa phiên
tòa phải giải thích để bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hiểu về
quyền được bào chữa của bị cáo và quyền được đưa ra yêu cầu. Khi có những
ý kiến phản bác đối với lời luận tội của Kiểm sát viên thì Chủ tọa phiên tòa
yêu cầu Kiểm sát viên phải có ý kiến phản bác, không để xảy ra trường hợp
Kiểm sát viên không tranh luận mà chỉ trả lời "vẫn giữ nguyên quan điểm đã
truy tố hoặc không có ý kiến gì tùy Hội đồng xét xử xem xét".
Cũng có người cho rằng Nghị quyết 08 đề cao “tố tụng tranh tụng”
nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự lại chưa thể chế hóa được yêu cầu này khi vẫn
quy định về “tố tụng xét hỏi”. Như vậy có mâu thuẫn? Có cần phải sửa luật để
phiên tòa thật sự có tính tranh tụng. Theo tác giả, giữa Nghị quyết 08 và Bộ
19