LUẬN VĂN: Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà xét xử án hình sự ở tỉnh An Giang doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên
thực hành quyền công tố tại phiên toà xét
xử án hình sự ở tỉnh An Giang


quyền công tố, mở rộng yếu tố tranh tụng … và vì vậy, tranh tụng được xác định là một
trong những nội dung quan trọng về cải cách tư pháp.
Từ những vấn đề trên, về mặt lý luận, thực tiển và từ yêu cầu thực hiện nghị quyết
của Đảng về cải cách tư pháp, năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà là một
trong những nội dung cần được quan tâm nghiên cứu nhiều thêm. Do vậy, để góp phần, tác
giả luận văn chọn đề tài “Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công
tố tại phiên toà xét xử án hình sự ở tỉnh An Giang” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật tại
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong tố tụng hình sự, tranh tụng giữa các chủ thể có liên quan trong quá trình xử lý
tội phạm qua những vụ án hình sự là vấn đề không phải mới trong khoa học pháp lý và
được ghi nhận thành nguyên tắc của tố tụng hình sự và áp dụng phổ biến hầu hết các nước
trên thế giới. Ở nước ta, tranh tụng chưa được quy định là một trong những nguyên tắc cơ
bản của Bộ luận Tố tụng hình sự hiện hành, chỉ được thể hiện tại một số điều của Bộ luật.
Vì vậy, vấn đề áp dụng nguyên tắc tranh tụng, đảm bảo tranh tụng dân chủ giữa các
chủ thể mà trong đó có vai trò của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thể hiện năng lực
tranh tụng tại phiên tòa xét xử án hình sự cũng đang thu hút sự chú ý của các nhà khoa học
pháp lý nghiên cứu. Có những công trình và đề tài khoa học về lĩnh vực này, trong đó đáng
chú ý như:
─ Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Đức Mai về “Vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình
sự” – năm 1996. Nội dung luận văn làm rõ tính khoa học và sự cần thiết trong hoạt động
tranh tụng, đáp ứng yêu cầu trong quan hệ tố tụng tại phiên tòa xét xử hình sự.
─ Luận văn Thạc sỹ luật học của Nguyễn Tiến Long về “Thực hiện pháp luật đảm
bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay” – năm 2005.
Qua nội dung của luận văn đã làm rõ thêm các khái niệm tranh tụng; vai trò, đặc điểm của
tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự từ đó đề xuất các giải pháp đảm

pháp, năm 2007. Đề cập những vấn đề lý luận, vận dụng kiến thức pháp luật, về các trình
tự, nội dung liên quan việc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và qua các ví dụ minh họa đã
nêu được những tồn tại, thiếu sót của Kiểm sát viên trong tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
hình sự.
─ “Kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự liên quan
đến phụ nữ” – Nxb CAND, năm 2007 của nhóm nghiên cứu Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao với nội dung dẫn chứng từ công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới của Việt Nam,
tuyển chọn một số bản luận tội, bản đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ
thẩm hình sự liên quan đến phụ nữ đã góp phần khắc phục những khuyết điểm, tồn tại của
hoạt động thực hành quyền công tố, trong đó có hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại
phiên tòa hình sự nói chung và tại phiên tòa sơ thẩm hình sự có liên quan đến phụ nữ nói
riêng.
─ Bài đăng tải trong Tạp chí Kiểm sát số 12 năm 2005 của Lê Hữu Thể: “Vai trò
của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh dụng tại phiên tòa”, có nội dung chỉ ra cách để Kiểm sát viên thực hiện tốt hơn trong hoạt động tranh tụng và các giải pháp thực hiện vai
trò chủ động, tích cực qua tranh tụng.
─ Bài đăng trong Tạp chí Kiểm sát số 8 năm 2006 của Phạm Hồng Hải về: “Thực
trạng tranh tụng trong phiên tòa hình sự của Kiểm sát viên dưới góc độ luật sư”, có nội
dung nêu ra những mặt được, chưa được qua thực hiện tranh tụng của Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố và những yêu cầu khắc phục để nâng cao chất lượng tranh tụng.
Tuy vẫn còn nhiều bài viết khác được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu lập pháp,
tạp chí Luật học, Thông tin khoa học pháp lý, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân,
Nhưng nhìn chung, nội dung các đề tài phần nhiều xoay quanh nghiên cứu hoạt động
tranh tụng ở giai đoạn tố tụng sơ thẩm hình sự, còn mảng tranh tụng tại phiên tòa phúc
thẩm hình sự ít được đề cập và năng lực Kiểm sát viên cần được nghiên cứu nhiều thêm ở
cả giai đoạn tố tụng này của Bộ Luật tố tụng hình sự.
3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu

─ Đề xuất quan điểm, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật đảm bảo năng lực
tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử án hình sự ở
tỉnh An Giang.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, nhất là các quan điểm, chủ
trương của Đảng về cải cách tư pháp. Luận văn có dựa trên cơ sở lý luận của Khoa học luật tố
tụng hình sự, những nghiên cứu có liên quan đến áp dụng pháp luật theo hệ tố tụng tranh
tụng, hệ tố tụng thẩm vấn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa
duy vật lịch sử như phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiển, phương pháp lịch sử cụ
thể, phương pháp phân tích tổng hợp. Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp của các
bộ môn khoa học khác như phương pháp so sánh, thống kê kết hợp với khảo sát thực tế.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
─ Phân tích và góp phần làm rõ thêm các khái niệm có liên quan đến đề tài như:
khái nhiệm quyền công tố, thực hành quyền công tố, năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự ; các yếu tố cấu thành năng lực tranh tụng
của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự.
─ Đề xuất các giải pháp để nâng chất lượng năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên
thực hành quyền công tốt tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp.
7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn, trong chừng mực, góp phần làm cơ sở tham khảo
cho việc nghiên cứu, phục vụ yêu cầu thực tiễn về các tiêu chí đánh giá năng lực tranh
tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm,
phúc thẩm theo phân cấp trong tố tụng hình sự.

luật. Đối tượng bị cáo buộc là con người cụ thể hoặc một tổ chức, một cơ quan tùy theo vi
phạm đối với quan hệ pháp luật nào. Trong tố tụng hình sự, cả ba cơ quan tiến hành tố
tụng là Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án đều có quyền công tố.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố có trong hai cơ quan tiến hành tố tụng
đó là cơ quan điều tra và cơ quan truy tố là Viện Kiểm sát và được Nhà nước giao quyền
khởi tố, điều tra, truy tố người phạm tội:
Quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho các cơ quan nhất định khởi tố,
điều tra và truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội
trước phiên tòa [35, tr.240]. Quan điểm này giải thích quyền công tố thuộc phạm vi tố tụng hình sự, nhưng chỉ có
hai cơ quan được Nhà nước giao quyền theo tố tụng, thu hẹp hơn so với quan điểm thứ
nhất.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Không có quyền công tố chung chung mà có tính cụ thể,
quyền này xuất hiện một khi một tội phạm cụ thể đã được thực hiện bởi người phạm tội.
Thực chất của quyền công tố là quyền của Nhà nước, ủy quyền hoặc phân công cho một cơ
quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội. Từ đó đưa ra khái niệm: Quyền công tố là quyền của một cơ quan Nhà
nước được Nhà nước ủy quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó [7,
tr.52].
Quan điểm này cũng xác định quyền công tố là quyền năng của Nhà nước ủy quyền
hoặc phân công cho một cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ
trong lĩnh vực tố tụng hình sự là buộc tội đối với người phạm tội hình sự.
Như vậy, giữa các quan điểm có khác nhau về việc xác định lĩnh vực phát sinh quyền
công tố; phạm vi; chủ thể thực hiện quyền năng công tố của Nhà nước.
Quan điểm thứ tư cho rằng: Khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam kế thừa luật tố
tụng hình sự các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô (cũ). Mô hình tổ chức, hoạt
động của Viện Kiểm sát nhân dân cũng được xây dựng theo mô hình tương tự. Do vậy,

quyền công tố qua từng vụ án cụ thể. Để thực hiện việc đó là cả một quá trình xác định
những căn cứ đối với những hành vi được xem là tội phạm được quy định trong Bộ luật
hình sự và đã được khởi tố, điều tra, cho đến lập cáo trạng chuyển hồ sơ sang tòa án để
truy tố, xét xử cho đến khi hiệu lực của bản án được xác định.
Như vậy, trong giai đoạn khởi tố điều tra, truy tố, xét xử thì quyền công tố luôn được
thể hiện.
Khái niệm thực hành quyền công tố.
Với khái niệm quyền công tố nêu ở phần trên thì thực hành quyền công tố là thể hiện
nội dung hoạt động của quyền công tố.
Trước những năm 1980 của thế kỷ trước, thực hành quyền công tố được hiểu như là
một nhiệm vụ của công tố viên (còn gọi là Kiểm sát viên) giữ quyền công tố tại các phiên
tòa hình sự của giai đoạm xét xử sơ thẩm; ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì xem Kiểm sát viên chỉ tham gia phiên tòa khi bản án ở cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành do có
kháng cáo hoặc kháng nghị. Quyền công tố sẽ bị cắt xén nếu chỉ dừng lại việc thực hành
quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm án hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công
tố là thực hiện quyền năng theo luật định. Đây cũng là việc thực hiện một chức năng cơ
bản của Viện Kiểm sát thông qua các hoạt động ở các giai đoạn khác nhau được ghi nhận
trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) năm 2003
và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân.
Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân quy định .
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Viện
Kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Đọc cáo trạng, quyết định của Viện Kiểm sát nhân dân liên quan đến
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu
quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm, tranh luận với
người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm,
phúc thẩm;

Nếu tiếp cận theo cách thức tiến hành tố tụng thì tranh tụng là một kiểu tố tụng được
áp dụng phổ biến ở hệ thống pháp luật Anh và Mỹ theo sự phân định của các chức năng
buộc tội, bào chữa và xét xử mà ở đó, công tố viên là phía buộc tội luôn đối lập với phía
thực hiện quyền bào chữa. Một kiểu tố tụng nữa là kiểu tố tụng “thẩm vấn” cũng được áp
dụng từ lâu và phổ biến ở nhiều nước theo hệ thống của Châu Âu lục địa, tại phiên tòa
Thẩm phán xét xử vẫn là người xét hỏi chính, phía công tố viên và phía bào chữa chỉ thẩm
vấn bổ sung để làm rõ thêm những vấn đề chưa rõ tại phiên xử công khai và ở chừng mực
về quan điểm thể hiện qua đối đáp, tranh luận thì nội dung đối lập có thể hiện nhưng
không nhiều:
Qua nghiên cứu cho thấy, kiểu tố tụng tranh tụng hay kiểu tố tụng thẩm vấn đều có
những mặt được và chưa được. Ngay trong các nước có truyền thống áp dụng cũng rút ra
những vấn đề có tính khoa học để khắc phục những nhược điểm và áp dụng đan xen nhằm
phục vụ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm “như Italia vốn theo truyền thống tố tụng tranh
tụng nhưng đã lâm vào tình trạng bất lực trước tình hình xã hội đen maphia phạm tội, nay
đã chuyển sang kiểu tố tụng thẩm vấn kết hợp với các yếu tố tranh tụng để bảo đảm yêu cầu xử lý tội phạm được nhanh chóng, kịp thời và bảo vệ các quyền cá nhân có hiệu quả”
[1, tr.17].
Như vậy, tranh tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tranh tụng tại phiên tòa hình
sự nói riêng không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý thế giới, nhiều nội dung liên
quan đến tranh tụng như khái niệm, bản chất của tranh tụng; phạm vi và nội dung tranh
tụng vẫn được tiếp tục nghiên cứu làm rõ.
Ở nước ta, trước khi có Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị thì vấn đề
tranh tụng ít được bóc tách, đề cập trong khoa học pháp lý mặc dù thực tế nó đang tồn tại
trong quá trình tố tụng hình sự và tại các phiên tòa xét xử án hình sự. Trong thời gian gần
đây, từ những góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình cải
cách tư pháp đã được các nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu và đề cập nhiều hơn,
nhưng cũng có những vấn đề đang còn quan điểm chưa thống nhất.
Bàn về cải cách pháp luật ở nước ta hiện nay:

không phải là tất cả các phiên tòa đều như vậy. Mặc khác, từ thực tiễn cho thấy, việc xem
như là hạn chế đó còn tùy thuộc vào trình độ lập luận có căn cứ hay không của phía người
tham gia tố tụng tại phiên tòa để tránh kéo dài thời gian không cần thiết và cũng không thể
cho rằng do vậy mà hạn chế dân chủ, thiếu khách quan trong các bản án, quyết định của
Hội đồng xét xử
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành ghi nhận sau khi kết thức việc xét hỏi tại phiên tòa,
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo
toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận tội danh nhẹ hơn và tiếp đó, thực
hiện việc tranh luận, đối đáp qua ý kiến phát biểu bào chữa của bị cáo hoặc luật sư và
những người tham gia tố tụng khác với một bên là Kiểm sát viên giữ quyền công tố. Người
tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết
thúc tranh luận sau khi thấy rằng những người tham gia tranh luận không còn trình bày ý
kiến gì thêm. Như vậy “tranh luận tại phiên tòa là giai đoạn trong trình tự tố tụng hình sự,
được tiến hành sau phần xét hỏi tại phiên tòa” [22, tr.533] và kết thúc trước khi Hội đồng
xét xử nghị án và tuyên án. Do đó, tranh luận chỉ là một phần của phiên tòa hình sự nên
được xem như một thủ tục để bên buộc tội và bên bào chữa đánh giá kết quả xét hỏi, phân
định qua chứng cứ của vụ án để cân nhắc đề xuất Hội đồng xét xử về các vấn đề có liên
quan đến vụ án để giải quyết nên không thể đồng nhất tranh luận và tranh tụng là một. Sẽ hợp lý khi xác định sự cần thiết vận dụng các nguyên tắc tranh tụng và xem đó là
phương thức, còn tranh luận chỉ là nội dung là đỉnh điểm của việc tranh tụng để nhằm làm
rõ sự thật khách quan của vụ án, áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án. Mặt khác,
cần xem “tranh tụng là nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp
và là đặc trung nổi bật nhất của tư pháp hình sự” [23, tr.6] để tiếp nhận những mặt ưu điểm
của nó, lượt bớt các nhược điểm nhằm phục vụ cho yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta.
Tuy còn khác nhau về quan điểm nghiên cứu, nhưng có sự thống nhất về mục đích
của tranh tụng tại phiên tòa là nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và dân chủ giữa
các chủ thể là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và những người tham gia tố tụng;
phía buộc tội và phía bào chữa có quyền lập luận, nêu ra những chứng cứ, căn cứ pháp luật

Ba là : Nâng cao vai trò, vị trí của Luật sư trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà.
Bởi vì, quyền bào chữa là quyền luật định, các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải
triệt để tôn trọng quyền này và đây cũng là nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện
hành. Do vậy, quyền của Luật sư trong giai đoạn xét xử được đưa ra chứng cứ và yêu cầu;
tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị cáo
trong quá trình tranh tụng, Luật sư có trách nhiệm tìm ra bằng chứng gỡ tội hoặc các tình
tiết giảm nhẹ cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử … để bị cáo không bị buộc
tội và xét xử oan, sai; trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét những quan điểm nào được
coi là đúng đắn hợp lý để ra phán quyết một cách khách quan.
Bốn là : Sự tranh luận giữa bên buộc với bên bào chữa là Luật sư không bị hạn chế
thời gian và có sự tranh luận trực tiếp. Hội đồng xét xử phải có phương pháp điều hành
hợp lý và tạo điều kiện cho việc tranh luận đó tại phiên toà, tránh việc thiên vị đối với bất
cứ bên nào. Cần xác định rằng vấn đề cơ bản của nguyên tắc tranh tụng là phải tạo ra cơ
chế để các bên Nhà nước và bị cáo cũng như Luật sư của họ tranh luận, đưa ra chứng cứ
buộc tội hay gỡ tội. Do đó, tranh luận tại phiên toà là phần việc rất quan trọng, người bào
chữa, bên bị buộc tội và bên buộc tội có quyền tranh luận dân chủ, công khai và bình đẵng
theo quy định của Luật tố tụng hình sự hiện hành. Tranh luận đòi hỏi Kiểm sát viên, Luật
sư bào chữa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác phải đối đáp về từng vấn
đề một cách rành mạch, rõ ràng, tránh việc tranh luận chung chung, không đi vào trọng
tâm nội dung chủ yếu của vụ án và Kiểm sát viên phải trả lời trực tiếp, không được né
tránh nhằm đảm bảo tính minh bạch trong tranh luận. Năm là : Phán quyết của Hội đồng xét xử cũng phải căn cứ vào kết luận điều tra qua
hồ sơ vụ án, căn cứ vào cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát và quan trọng hơn nữa là căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà dù cho kết quả này có thể khác với toàn bộ hoặc
một số tình tiết cụ thể trong kết luận điều tra, trong bản cáo trạng truy tố. Bởi vì, hoạt động
xét xử được coi là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình tố tụng và hoạt động đặc
trưng cho toàn bộ hoạt động của Toà án. Trong quá trình xét xử tại phiên toà hình sự được
tổ chức và thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, phần tranh luận tại phiên toà

Khái niệm năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên
tòa xét xử án hình sự.
Nghiên cứu chất lượng, hiệu quả đạt được của tổ chức, cơ quan qua thực hiện chức
năng, nhiệm vụ được giao thì vấn đề cơ bản là phải xem xét vai trò, năng lực của các cá
nhân là thành viên trong tổ chức, cơ quan đó. “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo
cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [35,
tr.661] của những cá nhân cụ thể thông qua các mối quan hệ xã hội mà cá nhân đó tiếp
nhận, thực hiện nhiệm vụ trong môi trường lĩnh vực công việc được xác định. Trong lĩnh
vực tố tụng hình sự, tại phiên tòa xét xử án hình sự đó là những chủ thể thể hiện khả năng
cụ thể của mình, thực hiện quyền và trách nhiệm trong khuôn khổ do pháp luật quy định.
Tranh tụng tại phiên tòa, nếu xét về bản chất là một cuộc điều tra công khai với đầy
đủ sự tham gia của phía buộc tội, phía bào chữa và Hội đồng xét xử. Năng lực tranh tụng
của Kiểm sát viên được thể hiện từ thời điểm mở phiên tòa và kết thúc sau khi Hội đồng
xét xử công khai phán quyết. Do vậy, nó không chỉ thể hiện riêng biệt ở một giai đoạn cụ
thể nào qua điều hành của Hội đồng xét xử mà là trong suốt quá trình xét xử vụ án tại
phiên tòa hình sự như: giai đoạn bắt đầu từ lúc khai mạc và kết thúc trước khi Kiểm sát
viên công bố cáo trạng; giai đoạn cáo trạng được công bố đến trước khi Kiểm sát viên trình
bày quan điểm vụ án; giai đoạn Kiểm sát viên trình bày quan điểm của Viện Kiểm sát (như
luận tội hoặc kết luận) và kết thức trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đặc biệt là giai đoạn
tranh luận của phía buộc tội và phía bào chữa, xem “Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh
điểm của quá trình tranh tụng giữa các bên và được thực hiện ở phần tranh luận tại phiên
tòa” [11, tr.54]; giai đoạn sau khi bị cáo nói lời sau cùng và kết thúc trước khi Hội đồng
xét xử công bố phán quyết của vụ án (xem như trùng với thời gian nghị án của Hội đồng
xét xử), còn gọi là giai đoạn thực hiện chức năng xét xử của tòa án; giai đoạn tuyên án
công khai của Hội đồng xét xử tại phiên tòa, đây là giai đoạn công bố kết quả của quá trình tranh tụng. Là các giai đoạn khác nhau của quá trình tranh tụng nhưng giữa chúng có mối
liên hệ chặc chẽ theo trình tự luật định và nội dung của quá trình này chính là hoạt động
của các chủ thể thực hiện chức năng quy định của luật tố tụng hình sự để đánh giá, kiểm

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đồng thời điều hành hợp lý để tạo
điều kiện cho phía buộc tội và phía bào chữa thực hiện đầy đủ quyền tranh luận, ghi nhận,
cân nhắc các ý kiến, các yêu cầu, đề nghị của các bên và “các thành viên Hội đồng xét xử
không được biểu lộ chính kiến của mình về bất kỳ vấn đề gì thuộc nội dung vụ án cũng
như chứng cứ đang xem xét tại phiên tòa” [9, tr.64].
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự cũng là chủ tiến hành tố
tụng được giao trách nhiệm thực hiện trong quá trình xét xử vụ án cụ thể. Năng lực tranh
tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố được thể hiện một cách tập trung ở giai
đoạn tranh tụng với các chủ thể khác (chủ thể của phía tham gia tố tụng). Như vậy, có thể
hiểu năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố là sự tổng hợp về kỹ
năng nghề nghiệp, kiến thức pháp lý, kiến thức xã hội, khả năng biện luận, khả năng ứng
xử, khả năng đối đáp trực tiếp của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử án hình sự để nhằm
bảo vệ quy buộc tội trạng của người phạm tội.
1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CỦA KIỂM SÁT VIÊN THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ
Khi nghiên cứu về một sự vật, hiện tượng thì về mặt nhận thức, yêu cầu phải tìm hiểu
xem cái gì, bộ phận nào cấu tạo nên nó. Tìm hiểu về năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên
cũng vậy, tức là nghiên cứu về những yếu tố cơ
bản cấu tạo nên năng lực chủ thể đó hoạt động trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân là chức danh tư pháp. Người được bổ
nhiệm làm Kiểm sát viên phải có đủ tiêu chuẩn và tuân theo quy trình do pháp luật quy
định. Quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên thông qua sự phân công của Viện trưởng chủ
yếu ở lĩnh vực thực hành quyền công tố (và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tư pháp), đây cũng là chức năng được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện
Kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Kiểm sát viên hiện hành.
Tại phiên tòa hình sự, là chủ thể tranh tụng, năng lực Kiểm sát viên thực hành quyền
công tố được thể hiện một cách tổng hợp các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ ứng xử và ý
thức chấp hành pháp luật và được cấu thành từ những yếu tố về tiêu chuẩn, khả năng
hoàn thành nhiệm vụ và các yếu tố về điều kiện khác, như:đào tạo, cơ sở vật chất


do bị mua chuộc vật chất, tha hóa trong cuộc sống do không giữ vững đạo đức nghề nghiệp, lơi lỏng, bị cám dỗ từ những quan hệ xã hội thiếu lành mạnh trong đời thường mà
trong đó, có người đã công tác nhiều năm trong ngành được bố trí giữ cấp chức ở địa
phương, đơn vị. Tuyển chọn để được làm Kiểm sát viên phải sàng lọc, cân nhắc. Thực hiện
chức năng, nhiệm vụ trong thực tiễn cũng là quá trình tiếp tục sàng lọc thông qua những
yêu cầu cụ thể như: phải gương mẫu chấp hành pháp luật, có lối sống lành mạnh và tôn
trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng và đặc biệt là luôn tự soi rọi lại mình để giữ được
“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” theo lời dạy của Bác Hồ đối
với cán bộ ngành kiểm sát.
Như vậy, cần xác định phẩm chất đạo đức là một trong những thành tố của tiêu chuẩn
rất quan trọng trước tiên khi xem xét về năng lực thực hành quyền công tố.
Thứ hai, cùng với yếu tố tiêu chuẩn được luật quy định thì năng lực Kiểm sát viên
được cấu thành một cách tổng hợp từ kỹ năng nghề nghiệp; kiến thức pháp lý, kiến thức xã
hội; khả năng ứng xử, biện luận, đối đáp trực tiếp khi thực hành quyền công tố tại phiên
tòa xét xử án hình sự.
Trong hoạt động thực tiễn qua những môi trường và hoàn cảnh cụ thể, mỗi cá nhân
thể hiện được ít hay nhiều tính thạo việc, tính chuyên sâu từ công việc đang làm. Việc thể
hiện đó phản ánh sự phân định giữa việc làm ổn định, lâu dài với việc làm có tính thời vụ;
giữa tính chất lao động cần phải có đầu tư cho tư duy từ chất xám nhiều hơn so với lao
động cơ bắp đơn thuần.
Năng lực Kiểm sát viên được thể hiện trong quá trình lao động đặc thù. Do hoàn
cảnh lịch sử, cũng có giai đoạn tuyển chọn công tố viên từ các tổ chức khác để làm nhiệm
vụ công tố tại phiên tòa hình sự. Nhưng khi ngành kiểm sát được thành lập theo Hiến pháp
năm 1959 thì cùng với việc học tập kinh nghiệm của những người trước; việc tuyển dụng,
bổ nhiệm được chú trọng thêm đối với những người đã qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
pháp luật, nghiệp vụ kiểm sát và dần dần xem đây là một trong những tiêu chuẩn phải có.
Ngành kiểm sát cũng có trường đào tạo riêng cho cán bộ, công chức của ngành.
Như vậy, kiến thức pháp lý và chuyên môn được đào tạo, cùng với quá trình công tác

Đối đáp, tranh luận luôn có hai mặt chủ quan và khách quan. Với kiến thức và thái độ
ứng xử khi phát sinh tranh luận, Kiểm sát viên phải thể hiện cho được tính khách quan,
đúng đắn của các vấn đề đã kết luận trước đó. Đồng thời, lắng nghe ý kiến, lập luận phản
bác để lập lý, luận chứng nhằm làm cho những người tham dự tại phiên xử thấy rõ được hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nghẹ đã được xem xét
qua đề xuất mức hình phạt tương ứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội mà người phạm
tội đã gây ra; rút ra những nguyên nhân nào trực tiếp hoặc gián tiếp trở thành điều kiện
phát sinh tội phạm và từ đó, nâng được tính thuyết phục với công luận, giúp cho Hội
đồng xét xử cân nhắc khi quyết định qua bản án.
Những năm qua, nguyên tắc tranh tụng luôn được chú trọng thực hiện trong tiến trình
cải cách tư pháp. Tranh luận cũng biểu hiện rõ về năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên
thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử theo trình tự tố tụng hình sự tại các phiên
tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Nhưng cũng cần thấy rằng, để thực hiện được việc này còn có
sự tác động qua từng phiên tòa xét xử mà ở đó “tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ
thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án” [17, Đ.19],
cụ thể là việc điều hành của chủ tọa phiên tòa trong Hội đồng xét xử.
Thực hiện và vận dụng các nguyên tắc của tố tụng tranh tụng đan xen trong tố tụng
thẩm vấn thì việc điều hành phiên tòa cần bảo đảm cho các chủ thể thực hiện đúng và đầy
đủ quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Chủ tọa phiên tòa phải giữ đứng mực về thái
độ điều hành để đạt yêu cầu khách quan làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án theo chức năng
xét xử, trên cơ sở đó xác định chính xác, toàn diện sự thật của vụ án nhằm đưa ra những
phán quyết đúng và có tính thuyết phục cao.
Thực tế cho thấy, vẫn còn dư luận chê trách rằng qua theo dõi thẩm vấn trực tiếp,
công khai tại phiên tòa là đoán được sự bất lợi nhiều hay ít đối với bị cáo hoặc còn tình
trạng chủ tọa phiên tòa cắt thời gian tranh luận của chủ thể tham gia tố tụng và như vậy,
chưa đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng do bị hạn chế từ việc điều hành của Hội
đồng xét xử.
1.2.2. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ

quan hệ tương tác đó để xem xét khả năng hoàn thành nhiệm vụ trên thực tế có đạt hay
chưa đạt.
Là chủ thể tranh tụng, năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công
tố tại phiên tòa hình sự qua kỹ năng, kiến thức, thái độ thực hiện chức năng luật định và
cũng được đánh giá chủ yếu qua nhiệm vụ bảo vệ việc buộc tội đối với bị cáo. Đây cũng là
đặc trưng riêng, khác biệt với các chủ thể khác trong tố tụng tại phiên tòa.

Trích đoạn TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH AN GIANG VIÊN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ KIỂM SÁT VIÊN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH AN GIANG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status